Bản án số 503/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 503/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 503/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 503/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 503/2026/DS-PT Bản án số 503/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 503/2026/DS-PT Bản án số 503/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
————————
Bản án số: 503/2026/DS-PT
Ngày 26-5-2026
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng
thế chấp tài sản, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bằng
Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Quốc
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
- Thư phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 245/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng
02 năm 2026 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản, hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 172/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 574/2026/QĐ-PT ngày
13 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
Địa chỉ: số A, đường L, phường Y, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Tuấn A (vắng mặt).
2. Bà Phạm Thị Như Ý (có mặt).
3. Ông Phạm Thanh T (vắng mặt).
4. Ông Trần Quốc P (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tầng C tòa nhà M, số G đường V, phường N, thành phố
Cần Thơ (theo Văn bản ủy quyền số: 1217/UQ-MBAMC ngày 12/8/2025).
2
- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Thị Kim C, sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã V, thành phố Cần Thơ.
2. Nguyễn n H1, sinh năm 1962 (vắng mặt đơn đề nghị t xử
vắng mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã V, thành phố Cần Thơ.
3. Nguyễn Duy T1 (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã V, thành phố Cần Thơ.
4. Ông Nguyễn Chí C1, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã N, thành phố Cần Thơ.
5. Văn phòng C2 (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Ngân ng thương mại cổ phần Q là nguyên đơn
trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân
hàng thương mại cổ phần Q (sau đây viết tắt Ngân hàng Q) và người đại diện
hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0001.23.452.1684610.TD ngày 17/4/2023
thì Ngân hàng Q cho ông Văn H vay 780.000.000 đồng tiền vốn, thỏa
thuận lãi suất là 9,9%/năm, mục đích vay vốn: bổ sung vốn sản xuất kinh doanh.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay nêu trên thì ông H
Hợp đồng thế chấp tài sản số 135977.23.452.16847610.BĐ, số công chứng 831,
quyển số 03/2023 TP/CC-SCC/HĐGD, công chứng ngày 17/4/2023 tại Văn
phòng C3 để thế chấp cho Ngân hàng Q các tài sản sau:
1. Quyền sử dụng thửa đất số 1153, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: Ấp D, V,
huyện V, tỉnh Hậu Giang, diện tích 200m
2
, mục đích sử dụng đất: Đất ở tại nông
thôn, chiếu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 086225, số vào sổ
cấp GCN: CH 00089 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang cấp ngày
17/11/2010, chỉnh biến động chủ sử dụng đất sang tên ông Văn H ngày
03/01/2023.
2. Quyền sử dụng thửa đất số 1539, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: Ấp D, V,
huyện V, tỉnh Hậu Giang, diện tích 591m
2
, mục đích sử dụng đất: Đất trồng cây
lâu năm, chiếu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 086226, số vào
sổ cấp GCN: CH 00090 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang cấp ngày
3
17/11/2010, chỉnh biến động chủ sử dụng đất sang tên ông Văn H ngày
03/01/2023. Tài sản thế chấp đã được đăng giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh Hậu Giang.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Lê Văn H đã vi phạm nghĩa vụ
trả nợ theo hợp đồng, Ngân hàng Q đã nhiều lần yêu cầu ông H thực hiện nghĩa
vụ trả nợ nhưng ông H không thực hiện.
Ngân hàng Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Buộc ông Văn H nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Q số tiền
nợ tạm tính đến hết ngày 14/8/2025 là 932.118.392 đồng. Trong đó bao gồm: nợ
gốc là 780.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.222.466 đồng, nợ lãi quá hạn
131.809.317 đồng, nợ lãi phạt 18.086.609 đồng. Buộc ông Văn H thanh toán
phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng
cho vay số 0001.23.452.16847610.TD phụ lục kèm theo ktừ ngày 14/8/2025
cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
2. Trường hợp ông Văn H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản
nợ nêu trên lãi phát sinh thì Ngân hàng Q quyền yêu cầu quan Thi
hành án tiến hành kê biên, phát mãi các tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên
để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Q.
3. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán, xử tài sản bảo đảm được dùng
để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Văn H đối với Ngân hàng Q. Nếu s
tiền thu được từ việc bán, xử tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản
nợ thì ông Lê Văn H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Q.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Văn H trình bày:
Ông Văn H thừa nhận hợp đồng tín dụng hợp đồng thế chấp
tài sản với Ngân hàng Q như phía nguyên đơn trình bày. Hiện tại ông H xác định
còn nNgân hàng số tiền vay vốn, lãi theo hợp đồng tín dụng đã đúng sự
thật. Hiện tại hoàn cảnh kinh tế của ông H khó khăn, nên không có khả năng trả
nợ cho Ngân hàng. Năm 2023, thông qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Chí C1
thì ông Văn H nhận chuyển nhượng 02 thửa đất số 1153 1539 của ông
Nguyễn Văn H1 Thị Kim C với giá 400.000.000 đồng. Khi nhận
chuyển nhượng đất thì ông H giao tiền chuyển nhượng cho ông Nguyễn Chí C1,
khi giao tiền không có làm giấy tờ. Sau đó, ông C1 về giao tiền lại cho bà C, ông
H1.
Do cần vốn làm ăn nên ông H thế chấp 02 thửa đất nêu trên cho Ngân
hàng Q để vay số tiền vốn 780.000.000 đồng. Khi ông H nhận chuyển nhượng
đất thì thỏa thuận nhận chuyển nhượng cả nhà các tài sản trên đất. Phần đất
ông H nhận chuyển nhượng vẫn để cho C và ông H1 ở, khi nào cần ông s
cho bà C, ông H1 hay vài tháng để dọn đi.
Đối với yêu cầu độc lập của C thì ông H ý kiến như sau: nếu C
trả tiền nợ cho Ngân hàng Q thay ông H thì ông sẽ lấy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất về và ký sang tên đất lại cho bà C, ông H1.
4
Quá trình giải quyết vụ án những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trình bày:
1. Bà Lê Thị Kim C trình bày:
Do được sự giới thiệu của ông Thanh T2 thì bà Thị Kim C gặp
biết được ông Nguyễn Chí C1. Ngày 02/12/2022, C viết “Giấy mượn
tiền” để vay của ông Nguyễn Chí C1 số tiền vốn 300.000.000 đồng, lãi suất
thỏa thuận là 04%/tháng, tức mỗi tháng bà C phải có nghĩa vụ trả lãi cho ông C1
12.000.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của ông
C1. Đề đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của mình, thì C thế chấp 02 Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 1153 và 1539 cho ông C1.
Sau khi vay thì bà C trả lãi cho ông C1 được 03 tháng, thì được ông C1
giảm mức lãi suất vay xuống còn 02%/tháng, tức mỗi tháng C chỉ còn
nghĩa vụ trả lãi cho ông C1 6.000.000 đồng. Bà C tiếp tục trả lãi cho ông C1 đến
ngày Tòa án cấp thẩm tiến hành thẩm định tài sản thế chấp lần đầu thì
ngưng không đóng lãi cho C1 nữa. Tổng cộng C đã trả cho ông C1 được
194.000.000 đồng tiền lãi.
Sau khi ký “giấy mượn tiền” đối với ông Nguyễn Chí C1 thì C đến
Văn phòng C2 để giấy ủy quyền cho ông Văn H. Sau khi Tòa án xuống
nhà thẩm định tại chỗ thì C mới biết đã hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng hai thửa đất nêu trên cho ông H.
C chồng ông H1 chỉ biết giấy để vay tiền, chứ không
phải hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông H. Bởi vì, C chỉ phần nhà
đất tranh chấp tài sản duy nhất của vợ chồng bà. Căn nhà vợ chồng
và con trai tên Nguyễn Duy T1 đang sinh sống.
Lê Thị Kim C có yêu cầu độc lập: yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu các
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng Văn H,
hiệu hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng Q ông Văn H, hủy chỉnh biến
động quyền sử dụng đất sang tên ông Lê Văn H. Bà C đồng ý có nghĩa vụ trả lại
cho ông Nguyễn Chí C1 số tiền 300.000.000 đồng.
2. Ông Nguyễn Chí C1 trình bày:
Năm 2022, Thị Kim C, ông Nguyễn Văn H1 vay của ông C1 số
tiền 300.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 24 tháng. Sau
khi vay thì C ông H1 trả lãi theo thỏa thuận cho ông C1 được 03 tháng
thì ngưng không trả lãi tiếp.
Để đảm bảo khoản vay nêu trên thì C, ông H1 thế chấp 02 Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất có tổng diện tích tích 811m
2
do ông Nguyễn Văn
H1 đứng tên cho ông C1. Ông C1 đã giao số tiền 300.000.000 đồng cho bà C
ông H1.
Sau khi thế chấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C1 thì
C ông H1 hỏi mượn lại ông C1 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
5
nêu trên để ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Lê Văn H. Sau đó, bà C và ông
H1 đã trả lại cho ông C1 số tiền 300.000.000 đồng.
do khi nhận chuyển nhượng đất ông H giao tiền cho C, ông H1 thông
qua ông C1 là ông C1 sợ C, ông H1 không trả tiền cho mình, nên ông C1
đã đứng ra nhận 400.000.000 đồng của ông H. Đối với sự việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông H và C, ông H1 thì ông C1 không rõ. Do bận đi làm
xa nên ông C1 yêu cầu được vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng của Tòa án.
3. Ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Trước năm 2022, do kinh tế gia đình gặp khó khăn nên ông H1, C
hỏi vay của anh Thanh T2 một số tiền để xoay sở. Đến cuối tháng 11/2022,
qua lời giới thiệu của ông T2 biết người cho vay tiền tên C1. Trong lúc gia
đình khó khăn vợ chồng ông H1 đang bị bệnh và rất cần tiền chữa bệnh, nên ông
có nhờ ông T2 giới thiệu để vay tiền của ông Nguyễn Chí C1 số tiền là
300.000.000 đồng.
Để đảm bảo việc trả nợ đối với khoản vay nêu trên thì ông H1, C
thế chấp hai thửa đất số 1539 và 1153 cho ông C1. Lúc này, ông C1 nói với
ông H1, C việc việc chuyển nhượng hai thửa đất nêu trên cho ông Văn H
để vay số tiền 300.000.000 đồng.
Theo đó, ngày 02/12/2022 ông H1, C, ông Văn H cùng ông C1 gặp
nhau tại Văn phòng C2. Sau khi bàn bạc, thoả thuận thì ông C1 và ông H1, C
lập “Giấy mượn tiền”, với nội dung ông H1, bà C vay của ông C1 số tiền
300.000.000 đồng, đồng thời vợ chồng ông H1, C thế chấp nêu trên cho
ông C1. Mặt khác, phía ông C1 yêu cầu ông H1, C thực hiện việc Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng hai thửa đất nêu trên cho ông Văn H để
đảm bảo khoản vay cho ông C1.
Một phần do cần tiền, phần do tin tưởng nên ông H1, C đã đồng ý
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 02 thửa đất nêu trên cho ông
Văn H (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 5526,
quyển 02/2022 ký ngày 02/12/2022 công chứng tại Văn phòng C2).
Tuy nhiên, đến nay ông H1 được phía Ngân hàng Q thông báo, ông H đã
lấy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất sBC 086226, số vào số CH00090 do Ủy ban nhân dân huyện
V cấp ngày 17/11/2010 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số BC 086225, số vào sCH00089 do Ủy ban
nhân dân huyện V cấp ngày 17/11/2010, để thế chấp vay số tiền 800.000.000
đồng.
Ông Nguyễn Văn H1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp giữa ông Văn H Ngân hàng Q
hiệu. Yêu cầu ông Văn H trách nhiệm trả cho Ngân hàng Q số tiền vay
800.000.000 đồng. Đồng thời, ông H phải có trách nhiệm giao trả hai giấy chứng
6
nhận quyền sử dụng đất thực hiện việc chỉnh biến động từ ông Văn H
sử dụng đất sang tên vợ chồng ông H1, bà C.
2. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao kết
giữa ông H1, C ông Văn H, có số công chứng 5526, quyển 02/2022
ngày 02/12/2022 công chứng tại Văn phòng C2 hiệu. Ông H1 đồng ý trả lại
cho ông Nguyễn Chí C1 số tiền 300.000.000 đồng.
4. Văn phòng C2 trình bày:
Về trình tự, thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa
nguyên đơn Ngân hàng Q bị đơn Lê Văn H là đúng trình tự, thủ tục pháp luật
quy định. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và có yêu cầu vắng
mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
1. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Phạm Thị Như Ý trình
bày: Khi cho vay Ngân hàng thẩm định tài sản thế chấp, lập hồ thế
chấp, có chụp hình ảnh tài sản thế chấp, không biết có bên thứ ba đang sinh sống
trên đất. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tính ngày 29/9/2025
tổng nợ là 940.841.269 đồng, trong đó, nợ gốc là 780.000.000 đồng, nợ lãi trong
hạn 14.823.343 đồng, lãi quá hạn 143.605.481 đồng, lãi chậm trả lãi 2.412.445
đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã kết kể từ ngày
30/9/2025 đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp không trả được nợ yêu cầu
phát mãi tài sản thế chấp.
2. Bà Thị Kim C trình bày: Vợ chồng bà chỉ vay tiền, không bán
đất, không thấy Ngân hàng xuống thẩm định nhà cửa và đất của gia đình.
vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập. Đồng ý trả số tiền 300.000.000 đồng cho ông
C1, không đồng ý trả 300.000.000 đồng cho bị đơn Lê Văn H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 172/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Cần Thơ tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Q.
Buộc ông n H nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Q tổng số nợ tạm
tính đến ngày 29/9/2025 940.841.269 đồng, trong đó, nợ gốc 780.000.000
đồng, nợ lãi trong hạn 14.823.343 đồng, lãi quá hạn 143.605.481 đồng, lãi chậm
trả lãi 2.412.445 đồng tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng cho vay s
0001.23.452.1684610.TD lập ngày 17/4/2023 kể từ ngày 30/9/2025 đến khi
thanh toán hết nợ.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Lê Thị Kim C, ông Nguyễn Văn H1.
2.1 Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
02/12/2022 giữa Nguyễn Văn H1, Lê Thị Kim C và ông Lê Văn H được công
chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 5526, quyển số 02/2022-TP/CC-
SCC/HĐGD vô hiệu.
7
2.2 Tuyên b hợp đồng thế chấp số 135977.23.452.16847610.BĐ được
công chứng tại Văn phòng C3 số công chứng 831, quyển 03/2023TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 17/4/2023 vô hiệu.
2.3 Xóa thông tin thế chấp quyền sử dụng đất theo hồ sơ số 31468.TC.006
ngày 17/4/2023 tại Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện V nay là Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực XIV.
2.4 Ngân hàng Q trách nhiệm giao 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BC
086225, số vào sổ CH00089 và BC 086226, số vào sổ CH00090 do Ủy ban nhân
dân huyện V cấp cùng ngày 17/11/2010 trả lại cho ông Nguyễn Văn H1
Lê Thị Kim C.
2.5 Tuyên hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số phát hành BC 086225, số vào sCH00089 do Ủy
ban nhân dân huyện V cấp ngày 17/11/2010 cho ông Nguyễn Văn H1, ngày
03/01/2023 chỉnh sang tên ông Văn H tại thửa đất 1153, tờ bản đồ số 13,
diện tích 220m
2
, loại đất nông thôn, tọa lạc ấp D, V, huyện V, tỉnh Hậu
Giang nay là xã V, thành phố Cần Thơ.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số phát hành BC 086226, số vào sCH00090 do Ủy
ban nhân dân huyện V cấp ngày 17/11/2010 cho ông Nguyễn Văn H1, ngày
03/01/2023 chỉnh sang tên ông Văn H, tại thửa đất 1539, tờ bản đồ số 13,
diện tích 591m
2
, loại đất cây lâu năm, tọa lạc ấp D, V, huyện V, tỉnh Hậu
Giang nay là xã V, thành phố Cần Thơ.
2.6 Buộc Thị Kim C, ông Nguyễn Văn H1 nghĩa vụ trả cho ông
Lê Văn H số tiền 300.000.000 đồng.
3. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chịu chi ptố tụng
quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 14/10/2026, nguyên đơn Ngân hàng Q đơn kháng cáo một phần
Bản án dân sự thẩm số 172/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 14 Cần Thơ. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 02/12/2022
giữa Nguyễn Văn H1, Thị Kim C ông n H được công chứng tại
Văn phòng C2, số công chứng 5526, quyển số 02/2022-TP/CC-SCC/HĐGD
hợp đồng thế chấp số 135977.23.452.16847610.BĐ được công chứng tại Văn
phòng C3 số công chứng 831, quyển 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày
17/4/2023 là hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện
đơn kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về nội dung
tranh chấp.
Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện
8
kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ cho rằng:
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền
nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của Ngân hàng Q nộp trong thời hạn quy định tại Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự,
thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Q, Hội đồng xét xử xét
thấy:
[2.1] Tài liệu, chứng cứ trong hồ thể hiện: ngày 02/12/2022, ông
Nguyễn Văn H1 Thị Kim C Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 1153 thửa đất số 1539 cho ông Văn H, giá
chuyển nhượng thể hiện trên hợp đồng 400.000.000 đồng. Sau khi hoàn tất
thủ tục công chứng, ông H được chỉnh biến động sang tên quyền sử dụng đất
ngày 03/01/2023. Đến ngày 17/4/2023, ông H dùng chính hai quyền sử dụng đất
này thế chấp cho Ngân hàng Q để vay số tiền 780.000.000 đồng.
[2.2] Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Thị Kim C ông
Nguyễn Văn H1 thống nhất trình bày việc kết hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất với ông n H chỉ nhằm mục đích bảo đảm cho khoản
vay 300.000.000 đồng từ ông Nguyễn Chí C1; thực tế các bên không có ý chí
chuyển giao quyền sử dụng đất. Lời trình bày này phù hợp với diễn biến giao
dịch, phù hợp với thực trạng quản lý, sdụng tài sản phù hợp với chính lời
khai của các đương sự khác trong vụ án.
[2.3] Cụ thể, mặc hợp đồng chuyển nhượng đã được xác lập từ tháng
12/2022 nhưng từ thời điểm hợp đồng cho đến khi phát sinh tranh chấp, toàn
bộ nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng trên đất vẫn do C, ông H1 trực tiếp
quản lý, sdụng ổn định; ông H không quản lý, sdụng đất, không nhận bàn
giao đất, không đăng trú, không đầu tư, khai thác hay bất kỳ hành vi
quản thực tế nào đối với tài sản nhận chuyển nhượng. Ngay cả theo lời trình
bày của ông H thì ông vẫn để cho bà C, ông H1 tiếp tục ở lại trên đất vô thời hạn
mà không có thỏa thuận cụ thể về thời điểm giao đất. Đây là tình tiết bất thường,
không phù hợp với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thực tế, đặc
biệt trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng đã bỏ ra số tiền lớn để nhận
chuyển nhượng tài sản.
9
[2.4] Mặt khác, chính ông Nguyễn Chí C1 xác nhận việc ông H giao số
tiền 400.000.000 đồng cho ông C1 nhằm để cấn trừ khoản vay 300.000.000
đồng của C, ông H1 đối với ông C1; ông C1 người trực tiếp nhận tiền từ
ông H. Điều này cho thấy bản chất thực tế của giao dịch không phải là mua bán,
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng ý chí đích thực của các bên là
biện pháp nhằm bảo đảm khoản vay. Ngoài ra, C ông H1 đều khai do cần
tiền chữa bệnh, khó khăn kinh tế nên các giấy tờ theo yêu cầu của ông C1,
trong đó có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H.
[2.5] Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi các bên
xác lập giao dịch dân sgiả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch
giả tạo vô hiệu. Từ những chứng cứ, tình tiết nêu trên có đủ căn cứ xác định Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/12/2022 giữa ông Nguyễn Văn
H1, bà Lê Thị Kim C với ông Lê Văn H giao dịch giả tạo nhằm che giấu quan
hệ vay tài sản, nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng này vô hiệu căn
cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Đối với kháng cáo của Ngân hàng cho rằng Ngân hàng là bên nhận thế
chấp ngay tình nên cần được pháp luật bảo vệ, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Khi nhận thế chấp quyền sử dụng đất, Ngân hàng nghĩa vụ thẩm
định thực tế tài sản bảo đảm nhằm xác minh tình trạng pháp lý, hiện trạng quản
lý, sử dụng tài sản và chủ thể đang chiếm hữu tài sản. Tuy nhiên, i liệu hồ sơ
thể hiện Ngân hàng không lập biên bản thẩm định hiện trạng đầy đủ; không xác
minh việc trên đất nhà ở, công trình xây dựng nhiều tài sản gắn liền với
đất do người khác quản lý, sdụng; không ghi nhận ý kiến của những người
đang trực tiếp sinh sống trên đất là ông H1, C gia đình. Trong khi đó, tại
thời điểm thẩm định, trên đất nhà người trú ổn định công khai, liên
tục. Đây tình tiết Ngân hàng hoàn toàn điều kiện nhận biết nếu thực
hiện đầy đủ việc kiểm tra, thẩm định tài sản bảo đảm.
[3.2] Quan điểm của Ngân hàng cho rằng không biết thửa đất đang do
người khác quản lý, sử dụng thực tế là không căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, trong
hoạt động cấp tín dụng có bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, việc kiểm tra, thẩm
định tình trạng pháp hiện trạng thực tế của tài sản bảo đảm nghĩa vụ
nghề nghiệp bắt buộc của tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm an toàn tín dụng
hạn chế rủi ro. Do đó, nếu Ngân hàng không phát hiện được việc thửa đất đang
do người khác quản lý, sử dụng hoặc không nhận diện được bản chất thực tế của
giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì đây thiếu sót trong qtrình
thẩm định, thuộc lỗi của chính Ngân hàng và không thể được xem căn cứ để
xác lập tình trạng ngay tình. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Ngân
hàng thừa nhận người trực tiếp dẫn cán bộ Ngân hàng đi thẩm định tài sản
không phải là ông H (người đứng tên chuyển nhượng và thế chấp quyền sử dụng
đất) mà là ông C1. Trong khi đó, hồ sơ vụ án không thể hiện ông C1 được ông H
ủy quyền hợp pháp bằng văn bản để thực hiện việc này. Việc Ngân hàng tiến
hành thẩm định tài sản thông qua người không có căn cứ chứng minh tư cách đại
diện hợp pháp của bên thế chấp cho thấy quy trình thẩm định đã không được
10
thực hiện đầy đủ, chặt chẽ theo yêu cầu nghiệp vụ. Thiếu sót này càng khẳng
định Ngân hàng không áp dụng các biện pháp cần thiết để kiểm tra, xác minh
tình trạng thực tế của tài sản trước khi nhận thế chấp. vậy, không sở
xác định Ngân hàng bên thứ ba ngay tình theo quy định tại Điều 133 Bộ luật
Dân snăm 2015; đồng thời, Ngân hàng không thuộc trường hợp được pháp
luật bảo vệ quyền lợi với tư cách bên thứ ba ngay tình trong giao dịch này.
[3.3] Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng Q ông H
được xác lập dựa trên sở quyền sử dụng đất ông Văn H được từ
giao dịch chuyển nhượng giả tạo, hiệu. Khi giao dịch chuyển nhượng quyền
sử dụng đất hiệu thì ông H không có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với hai
thửa đất nêu trên; do đó, việc ông H dùng tài sản này để thế chấp cho Ngân hàng
cũng không làm phát sinh hiệu lực pháp luật đối với hợp đồng thế chấp. Theo
quy định tại Điều 117, Điều 122 Điều 131 Bluật Dân sự năm 2015, giao
dịch thế chấp trong trường hợp này phải bị tuyên hiệu; các bên hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận.
[4] Đối với nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng giữa ông Văn H
với Ngân hàng Q, cấp thẩm buộc ông H thanh toán số tiền ngốc, lãi tiếp
tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng phù hợp. Bởi lẽ, ông H thừa
nhận kết hợp đồng tín dụng, đã nhận đủ tiền vay vi phạm nghĩa vụ
thanh toán cho Ngân hàng. Việc hợp đồng thế chấp vô hiệu không làm chấm dứt
nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo hợp đồng tín dụng.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của
nguyên đơn Ngân hàng Q không có căn cứ chấp nhận. Bản án dân sự sơ thẩm đã
đánh giá đúng tính chất sự việc, áp dụng đúng quy định pháp luật, nên cần giữ
nguyên như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6] Về án phí phúc thẩm: Ngân hàng Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ
phần Q.
3. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 172/2025/DS-ST ngày 30 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Cần Thơ.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q
nghĩa vụ chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ lại 300.000đ (Ba
trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006283 ngày 17/10/2025 của Thi hành án dân
sự thành phố Cần Thơ.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
11
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 14 – Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 14 - Cần Thơ;
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Hữu Bằng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 503/2026/DS-PT Bản án số 503/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 503/2026/DS-PT Bản án số 503/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất