Bản án số 925/2026/DS-PT ngày 05/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 925/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 925/2026/DS-PT ngày 05/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 925/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van T - Huynh Chi L - T.c HĐ chuyển nhượng QSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 925/2026/DS-PT Bản án số 925/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 925/2026/DS-PT Bản án số 925/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN T
Bản án số: 925/2026/DS-PT
Ngày 05/8/2026
V/v tranh chấp yêu cầu tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất vô hiệu và
hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Toàn;
Ông Võ Hoàng Khải.
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Ngọt, TTòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Sơn Cươl, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 809/2026/TLPT-DS ngày 02
tháng 6 năm 2026, về tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất vô hiệu và hợp đồng tín dụng.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2026/DS-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1057/2026/QĐ-PT
ngày 22 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Gia P, sinh năm
1999; địa chỉ: Ấp T, C, thành phố Cần Thơ; người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 08/5/2023). (có mặt)
- Bị đơn: Ông Huỳnh Chí L, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Võ Thị Bích V, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2. Văn phòng C (nayVăn phòng C);
Địa chỉ: Quốc lộ I, khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ. (có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt)
3. Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 (V1);
Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường T, phường H, Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần N2: Ông
Thanh H; địa chỉ: Số C, khu phố F, G, tỉnh An Giang; người đại diện
theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 (văn bản y quyền ngày
06/6/2025). (có mặt)
4. Ông Huỳnh Thanh T1 - Chủ hộ kinh doanh Cửa hàng X;
5. Bà Lê Thị Kiều T2, sinh năm 1979;
Cùng địa chỉ: Ấp T, phường Ô, thành phố Cần Thơ. (đều vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông Huỳnh Thanh T1 - Chủ hộ kinh doanh
Cửa hàng X Thị Kiều T2: Ông Huỳnh Chí L, sinh năm 1982; địa chỉ:
Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ; là người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh
Thanh T1 - Chủ hkinh doanh Cửa hàng X Thị Kiều T2 (văn bản ủy
quyền ngày 16/8/2024). (có mặt)
- Người làm chứng:Lê Thị T3, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T - Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 10 năm 2023 của nguyên đơn ông
Nguyễn Văn T trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Văn T bà ThBích V vợ chồng hợp pháp đăng
kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) T, huyện C (cũ) vào ngày
14/9/2020. Vào cuối năm 2021, vợ chồng ông T mua phần đất trồng lúa của
ông Nguyễn Trọng N thửa số 253, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp T, xã X, huyện
T, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 788908,
số vào sổ: CH1173, do UBND huyện T cấp ngày 07/02/2014, chỉnh sang tên
cho vợ ông T ngày 06/01/2021. Đến ngày 18/3/2022, V lén ông T chuyển
nhượng thửa đất trên lại cho ông Huỳnh Chí L ông T không hay biết. Phần
đất này gia đình ông T vẫn đang quản lý, sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng
của ông N cho đến nay, ông T đã cải tạo sang lắp mặt bằng, xây dựng nhà cấp 4
mái thái với diện tích tổng thể 1.000m
2
.
Theo như lời trình bày của bà V, do kẹt tiền nên bà đã cầm cố đất cho ông
3
L với giá 240.000.000 đồng với điều kiện bà V phải chuyển nhượng đất cho ông
L đứng tên, toàn bộ thủ tục pháp ông L lo hết mà không cần ông T tên
đồng ý.
Ông T yêu cầu Toà án giải quyết: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thửa số 253, tờ bản đồ số 10, giữa bà V với ông L, được công
chứng tại Văn phòng C, số 507, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.
Buộc ông L chuyển quyền sử dụng đất thửa 253 trả lại cho ông T. Ông T đồng ý
trả lại cho ông L số tiền bà V mượn là 240.000.000 đồng, cùng tiền lãi suất theo
quy định pháp luật.
Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần N2, ông T
không đồng ý đối với yêu cầu phát mãi tài sản thửa đất 253, vì hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa V với ông L hiệu do Ngân hàng
đã không thẩm định trước khi cho ông L vay.
Đối với phần định giá giá trị căn nhà theo Chứng t thẩm định số
019/2025/1407830/CTO có giá 1.552.179.000 đồng, ông T không có ý kiến.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Chí L trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T. Ông người nhận
chuyển nhượng thửa đất 253 của Thị Bích V. Lúc thương lượng mua đất,
ông không biết ông T ai, V nói đang độc thân, cam kết đất không
tranh chấp nên ông mới mua cũng được Văn phòng C, kiểm tra tính pháp
đầy đủ, nếu văn phòng C không chấp nhận công chứng do không đúng thủ tục
pháp theo quy định Nhà nước thì ông cũng không chuyển nhượng thửa đất
253. Ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. do
hợp đồng mua bán ghi số tiền 240.000.000 đồng để giảm bớt chi phí khi sang
tên đất, nhưng giá mua bán thực tế là giá khác, ông sẽ cung cấp cho Toà án giấy
tờ mua bán giữa ông với V sau. Hiện thửa đất 253 ông đã thế chấp cho Ngân
hàng để vay tiền. Sau khi được Tòa án ng bố Bản trích đo địa chính s
503/VPĐKĐĐ ngày 01/7/2024, ông không đồng ý với diện tích đo đạc thực tế,
do diện tích thực tế thiếu nhiều so với giấy đất ông được cấp nhưng ông không
có yêu cầu đo đạc lại. Đối với Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 35/VPĐK.DV
của Văn phòng đăng đất đai thành phố C lập ngày 26/9/2025, ông chưa ý
kiến với đồ này, do chưa tọa độ phần diện tích giáp ranh đất với Nhà văn
hóa X (cũ). Đối với định giá giá trị căn nhà theo Chứng thư thẩm định số:
019/2025/1407830/CTO là 1.552.179.000 đồng, ông sẽ tham khảo giá và sẽ có ý
kiến sau.
Đối với yêu cầu của Ngân hàng buộc ông trả nợ vay, ông ý kiến sau:
Ông thừa nhận ông Hợp đồng cho vay số 0236/23/0521/CT ngày
27/07/2023 vay số tiền 8.200.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu
động phục vụ kinh doanh, thu mua xe máy đã qua sử dụng, thời hạn vay tối đa
07 tháng theo từng giấy nhận nợ, lãi suất trong hạn 8,4%/năm và theo từng giấy
nhận nợ, căn cứ vào các thỏa thuận tại Điều 5 Điều 8 của Hợp đồng cho vay,
lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn và các thỏa thuận khác tại Điều
4
5 Điều 8 của Hợp đồng cho vay, phương thức trả nợ gốc theo kế hoạch trả
nợ theo từng giấy nhận nợ, thời gian trả lãi vào ngày 26 hàng tháng với Ngân
hàng và thế chấp tài sản sau:
Tài sản 01: Quyền sử dụng đất diện tích 3.440,6m
2
tại thửa 253, tờ bản đồ
số 10, tọa lạc tại ấp T, Đ, thành phố Cần Thơ (trước đây là ấp Thới Phong B,
X, huyện T, thành phố Cần Thơ), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BQ 788908, số vào sổ
cấp GCN: CH01173, do UBND huyện T cấp ngày 07/02/2014 cho ông Nguyễn
Văn H1, được chỉnh lý biến động sang tên cho ông ngày 03/3/2022.
Tài sản 02: Quyền sử dụng đất diện tích 980,6m
2
, thửa 255, tờ bản đồ số
10, tọa lạc tại ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ (trước đây là ấp Thới Phong B, xã
X, huyện T, thành phố Cần Thơ), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DC 748667, số vào sổ
cấp GCN: CS02445, do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày
27/12/2021 cho ông Hồ Hoàng N1, được chỉnh biến động sang tên cho ông
ngày 21/3/2022.
Việc thế chấp tài sản được hai bên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số 0146B/22/0521/CT ngày 11/5/2022, công chứng tại Văn phòng C, số
công chứng: 938, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC-HĐGD ngày 11/5/2022
được đăng giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện T ngày 11/5/2022.
Tính đến nay, hợp đồng cho vay trên đã quá hạn thanh toán, ông thừa
nhận còn nợ số tiền vay nợ lãi như phía Ngân hàng trình bày. Do điều kiện
kinh tế gặp nhiều khó khăn không thể thanh toán ngay số nợ trên nên ông xin
thời hạn để đưa ra phương án trả nợ cho Ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Võ Thị Bích V trình bày:
Vào cuối năm 2021, v chồng mua phần đất trồng lúa của ông
Nguyễn Trọng N, thửa 253, tbản đồ số 10, tọa lạc tại ấp T, X, huyện T,
thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BQ 788908,
vào sổ số: CH01173, do UBND huyện T cấp ngày 07/02/2014, Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện T chỉnh sang tên cho bà ngày 06/01/2021. Phần đất
này gia đình bà vẫn quản lý, sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng của ông N đến
nay.
Do cần tiền xài, bà mượn tiền của ông Huỳnh Chí L 240.000.000 đồng
để đảm bảo cho khoản vay này, ông L yêu cầu giấy chuyển nhượng
thửa đất 253, khi nào trả tiền thì ông L sẽ chuyển quyền sử dụng đất trả lại
cho bà. Vào ngày 18/3/2022, ông L gọi điện kêu đến cửa hàng bán xe của
ông L tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ để tên điểm chỉ
vào hợp đồng chuyển nhượng, bà đã giao giấy đất cho ông L, bà thừa nhận có ký
tên điểm chỉ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông L đã
chuẩn bị sẵn. không đến Văn phòng C, cũng không tên, điểm chỉ
5
trước mặt công chứng viên theo như trang cuối lời chứng của công chứng viên
trong hợp đồng. Do chồng đi làm ăn xa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
giao cho bà cất giữ nên khi chuyển nhượng cho ông L, chồng không
biết cũng không sự đồng ý của chồng bà. Sau đó, bà yêu cầu ông L
chuyển trả lại quyền sử dụng đất cho gia đình bà, bà trả lại số tiền nợ cho ông L
nhưng ông L không đồng ý.
Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa với ông L hiệu, do đây hợp đồng gicách. chỉ vay mượn
tiền chuyển nhượng để đảm bảo khoản tiền vay thôi, chứ thực sự
không chuyển nhượng, yêu cầu ông L chuyển trả lại quyền sử dụng đất cho
bà, cam kết sẽ trả lại cho ông L số tiền vay 240.000.000 đồng. chỉ trình
bày ý kiến, không có yêu cầu độc lập.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Văn phòng C trình bày:
Sau khi tiếp nhận đủ thông tin, thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy
định của pháp luật, công chứng viên đã giải thích quyền nghĩa vcủa những
người tham gia giao dịch nên vào ngày 18/3/2022, Thị Bích V với ông
Huỳnh Chí L yêu cầu xác lập thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định của pháp
luật, Văn phòng C hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển
nhượng bà Võ Thị Bích V với bên nhận chuyển nhượng ông Huỳnh Chí L theo ý
chí tự nguyện của 2 bên. Đối với bên chuyển nhượng V Giấy xác nhn
tình trạng hôn nhân s21/UBND-XNTTHN ngày 18/3/2022 của UBND X,
huyện T, thành phố Cần T. Việc công chứng trường hợp trên, công chứng
viên xác định các bên tham gia giao dịch yêu cầu công chứng hợp đồng theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các thông tin cá nhân mà hai bên đã cung
cấp đầy đủ. Tại Văn phòng công chứng, các bên đã tự nguyện giao kết hợp
đồng, thời điểm ký/điểm chvào hợp đồng các bên giao kết hợp đồng năng
lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, cam đoan chịu trách nhiệm trước
pháp luật về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đã cung cấp liên quan
đến việc giao kết hợp đồng này, mục đích nội dung của hợp đồng không vi
phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên giao kết đã tự đọc lại hợp
đồng, đã đồng ý toàn bộ nội dung đã vào từng trang của hợp đồng trước
mặt công chứng viên, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Dân sự quy
định của Luật đất đai, đồng thời tuân thủ đúng việc thực hiện thủ tục công chứng
hợp đồng giao dịch, bản dịch quy định cụ thể của Luật Công chứng năm 2014.
vậy, công chứng viên xác định hợp đồng công chứng nêu trên đúng quy
định pháp luật.
Theo đơn yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 trong quá trình giải quyết vụ án, người
đại diện hợp pháp của Ngân hàng trình bày:
Giữa Ngân hàng với ông Huỳnh Chí L xác lập Hợp đồng cho vay số
0236/23/0521/CT ngày 27/7/2023. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho ông L vay số
6
tiền 8.200.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh
doanh, thu mua xe máy đã qua sử dụng, thời hạn cho vay tối đa 07 tháng theo
từng giấy nhận nợ, lãi suất trong hạn 8,4%/năm theo từng giấy nhận nợ căn
cứ vào các thỏa thuận tại Điều 5, Điều 8 của Hợp đồng, lãi suất qhạn 150%
lãi suất cho vay trong hạn các thỏa thuận khác tại Điều 5, Điều 8 của Hợp
đồng, phương thức trả ngốc theo kế hoạch trả nợ theo từng giấy nhận nợ,
thời gian trả lãi là vào ngày 26 hàng tháng.
Tài sản đảm bảo gồm:
Quyền sử dụng đất diện tích 3.440,6m
2
, thửa 253, tờ bản đồ số 10, tọa lạc
tại ấp T, Đ, thành phố Cần Thơ (trước đây ấp Thới Phong B, X, huyện
T, thành phố Cần Thơ cũ), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BQ 788908, số vào sổ cấp GCN:
CH01173, do UBND huyện T cấp ngày 07/02/2014 cho ông Nguyễn Văn H1,
được chỉnh lý sang tên cho ông L ngày 03/3/2022.
Quyền sử dụng đất diện tích 980,6m
2
, thửa 255, tờ bản đồ số 10, tọa lạc
tại ấp T, Đ, thành phố Cần Thơ (trước đây ấp Thới Phong B, X, huyện
T, thành phố Cần Thơ), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số DC 748667, số vào sổ cấp GCN:
CS02445, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 27/12/2021
cho ông Hồ Hoàng N1, được chỉnh lý sang tên cho ông L ngày 21/3/2022.
Việc thế chấp tài sản được hai bên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số 0146B/22/0521/CT ngày 11/05/2022, công chứng tại Văn phòng C, số
công chng 938, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC-HĐGD ngày 11/5/2022 và
đăng giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T
ngày 11/5/2022.
Trong quá trình vay vốn, kể từ ngày 27/7/2023 đến ngày khởi kiện, ông L
không trả được vốn vay, số tiền tạm tính đến ngày khởi kiện (ngày 19/11/2025):
Nợ gốc 8.200.000.000 đồng, lãi trong hạn 1.196.858.442 đồng, lãi quá hạn
610.372.374 đồng, tổng cộng 10.007.230.816 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần
nhắc nhở, tạo điều kiện cho ông L trả nợ nhưng đến nay các khoản vay đã quá
hạn, ông L vẫn không thực hiện trả nợ đúng kỳ hạn.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông L thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày khởi
kiện như sau: Nợ gốc 8.200.000.000 đồng, lãi trong hạn 1.196.858.442 đồng, lãi
quá hạn 610.372.374 đồng, tổng cộng 10.007.230.816 đồng tiếp tục tính lãi
cho đến khi ông L tất toán nợ. Buộc ông L nghĩa vụ thanh toán toàn bộ các
khoản lãi quá hạn, phí phát sinh theo lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng cho vay
nói trên cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp ông L không khả năng trả nợ hoặc không thực hiện nghĩa
vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu
quan thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất số 0146B/22/0521/CT ngày 11/05/2022, được công
7
chứng tại Văn phòng C, số công chứng: 938, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC-
HĐGD ngày 11/5/2022 và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh n phòng
đăng ký đất đai huyện T ngày 11/5/2022 để thu hồi nợ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, Ngân hàng không đồng ý, vì trong
quá tnh thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà V với
ông L Ngân hàng không biết không thể biết. Việc chuyển nhượng tài sản
cho ông L được Nhà nước công nhận quyền shữu tài sản theo Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số
BQ 788908, số vào sổ cấp GCN: CH01173, do UBND huyện T cấp ngày
07/02/2014, chỉnh lý sang tên cho ông L ngày 30/3/2022 và các bên đã tiến hành
bàn giao tài sản theo quy định. Sau khi ông L được Nhà nước công nhận quyền
sở hữu tài sản, ông L dùng tài sản thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo khoản
vay theo Hợp đồng cho vay số 0236/23/0521/CT ngày 27/7/2023. Khi vay vốn
Ngân hàng, ông L Ngân hàng xác lập Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số: 0146B/22/0521/CT ngày 11/5/2022, công chứng tại Văn phòng C, số
công chng 938, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC-HĐGD ngày 11/5/2022
đăng giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T
ngày 11/5/2022. Việc thế chấp Ngân hàng thực hiện đúng theo quy định của
pháp luật.
Trường hợp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa 253
giữa ông L với V bị hiệu, Ngân hàng yêu cầu Toà án công nhận Ngân
hàng là bên thứ ba ngay tình theo quy định của pháp luật. Qua xem Sơ đồ đo đạc
hiện trạng thửa đất số 35/VPĐK.DV của Văn phòng đăng đất đai thành phố
C lập ngày 26/9/2025, Ngân hàng thống nhất. Trường hợp ông L vi phạm nghĩa
vụ trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng, Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản bảo
đảm thửa 253 theo diện tích đất thực tế. Ngân hàng thống nhất đối với phần định
giá trị căn nhà theo Chứng thư thẩm định số: 019/2025/1407830/CTO
1.552.179.000 đồng.
Đối với ông Huỳnh Thanh T1 và bà Lê Thị Kiều T2, Ngân hàng có ý kiến
và yêu cầu như sau:
Ngày 03/8/2023, Ngân ng với ông Huỳnh Thanh T1 - Chủ h kinh
doanh Cửa hàng xe gắn máy X và Thị Kiều T2 kết Hợp đồng cho
vay theo hạn mức số 0240/23/0521/CT, cụ thể: Số tiền vay 4.600.000.000 đồng,
mục đích vay bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh, thu mua xe máy đã
qua sử dụng. Để đảm bảo cho các khoản vay này, ông T1 T2 với
Ngân hàng Hợp đồng thế chấp số 0153B/22/0391/CT/FWD ngày 30/5/2022,
công chứng tại Văn phòng C ngày 30/5/2022 đăng thế chấp tại Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện T ngày 30/5/2022.
Tài sản thế chấp gồm:
Quyền sử dụng đất ở tại đô thị, tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành
phố Cần Thơ, thửa 705, tờ bản đồ số 38, diện tích 50m
2
, theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CU
083639, số vào sổ cấp GCN: CHO4630, do UBND huyện T, thành phố Cần Thơ
8
cấp ngày 21/5/2020 do ông Huỳnh Thanh T1 đứng tên.
Quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T,
thành phố Cần Thơ, thửa 695, tờ bản đồ số 38, diện tích 284,4m
2
, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với
đất số CU 083640, số vào sổ cấp GCN: CS04631, do Sở Tài nguyên Môi
trường thành phố C cấp ngày 26/5/2020, do ông Huỳnh Thanh T1 đứng tên.
Ngoài ra, ngày 11/5/2022, ông Huỳnh Chí L với Ngân hàng Hợp
đồng thế chấp tài sản quyền sdụng đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp
T, X, huyện T, thành phố Cần Thơ, thửa 253, tờ bản đồ s 10, diện tích
3.440,6m
2
, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài
sản khác gắn liền với đất số BQ 788908, số vào sổ cấp GCN: CH01173, do
UBND huyện T cấp ngày 07/02/2014, đứng tên L quyền sử dụng đất chuyên
trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ, thửa 255, tờ
bản đồ số 10, diện tích 980,6m
2
, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DC 748667, số vào sổ
cấp GCN: CS02445, do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày
27/12/2021, đứng tên ông L. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại n
phòng C ngày 11/5/2022 và đăng ký thế chấp ngày 30/5/2022 tại Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện T.
Đến ngày 12/01/2024, khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn, Ngân
hàng đã nhiều lần nhắc nhở, tạo điều kiện cho ông T1 và T2 trả số ntrên
nhưng đến nay vẫn không trả được nợ theo kỳ hạn cho Ngân hàng. Tính đến
ngày 16/8/2024, ông T1 bà T2 còn nợ Ngân hàng theo Hợp đồng cho vay
theo hạn mức số 0240/23/0521/CT ngày 03/8/2023 số tiền gốc 4.600.000.000
đồng, tiền lãi 370.483.443 đồng (lãi trong hạn 255.088.473 đồng, lãi quá hạn
115.394.970 đồng), tổng cộng 4.970.483.443 đồng. Trường hợp cho ông T1
T2 không thanh toán được nợ thì yêu cầu Tòa án tuyên phát mãi tài sản thế
chấp theo các hợp đồng thế chấp đã kết đthanh toán nợ cho Ngân hàng
cùng tiền lãi phát sinh từ ngày 17/8/2024 đến khi thanh toán dứt điểm các hợp
đồng cho vay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của người
quyền li, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Thanh T1 - Chủ hộ kinh doanh Cửa
hàng X và bà Lê Thị Kiều T2 là ông Huỳnh Chí L trình bày:
Ông thừa nhận ông Huỳnh Thanh T1 và Thị Kiều T2 kết với
Ngân hàng Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 0240/23/0521/CT ngày
03/8/2023. Theo Hợp đồng, Ngân hàng cho ông T1 và bà T2 vay số tiền
4.600.000.000 đồng, mục đích vay là bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh,
thu mua xe máy đã qua sử dụng. Để đảm bảo cho các khoản vay, ông T1, T2
với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp số 0153B/22/0391/CT/FWD ngày
30/5/2022, công chứng tại n phòng C ngày 30/5/2022 và đăng thế chấp
ngày 30/5/2022 tại Chi nhánh n phòng đăng đất đai huyện T. Tài sản thế
chấp là quyền sử dụng đất ở tại đô thị, tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành
phố Cần Thơ thửa 705, tờ bản đồ số 38, diện tích 50m
2
, theo Giấy chứng nhận
9
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CU
083639, số vào sổ cấp GCN: CH04630, do UBND huyện T, thành phố Cần Thơ
cấp ngày 21/5/2020, đứng tên ông T1 quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm,
tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ, thửa 695, tờ bản đồ số
38, diện tích 284,4m
2
, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất s CU 083640, số vào sổ cấp GCN:
CS04631, do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày 26/5/202,0
đứng tên ông T1.
Ngoài ra, ngày 11/5/2022, ông Huỳnh Chí L với hợp đồng thế chấp
tài sản, thế chấp quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp T, xã X,
huyện T, thành phố Cần Thơ, thửa 253, tờ bản đồ số 10, diện tích đất 3.440,6m
2
,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số BQ 788908, số vào sổ cấp GCN: CH01173, do UBND huyện
T cấp ngày 07/02/2014, đứng tên ông L quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa
nước, tọa lạc tại ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ, thửa 255, tờ bản đồ số
10, diện tích 980,6m
2
, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số DC 748667, số vào sổ cấp GCN:
CS02445, do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày 27/12/2021,
đứng tên ông L. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C ngày
11/5/2022 đăng thế chấp ngày 30/5/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện T.
Tính đến ngày 16/8/2024, ông T1 - Chủ hộ kinh doanh Cửa hàng xe gắn
máy Thanh T1 T2 còn nợ Ngân hàng theo Hợp đồng cho vay theo hạn
mức số 0240/23/0521/CT ngày 03/8/2023 tiền gốc 4.600.000.000 đồng, tiền lãi
370.483.443 đồng (lãi trong hạn 255.088.473 đồng, lãi quá hạn 115.394.970
đồng), tổng cộng 4.970.483.443 đồng. Đến nay, hợp đồng cho vay trên đã quá
hạn thanh toán, do điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn không thể thanh toán
ngay số nợ trên cho Ngân hàng nên ông xin thời hạn để đưa ra phương án trả nợ
vay cho Ngân hàng.
Người làm chứng bà Lê Thị T3 trình bày:
Vào sáng ngày 20/10/2023, thấy ông Huỳnh Chí L kêu 01 người
khác đi cùng đập khóa nhà V, lúc đó bà can ngăn nhưng ông L vẫn tiếp
tục thực hiện hành vi đập khóa, tất cả việc làm của ông L bà chứng kiến toàn
bộ, sau đó điện cho V hay để về giải quyết, không đồng ý đối chất
với ông L và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Tại Bản án số 59/2026/DS-ST ngày 12/02/2026, Tòa án nhân dân khu vực
3 - Cần Thơ đã quyết định:
Căn cứ Điều 6, khoản 3 khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm b
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 97, khoản 1 Điều 147,
Điều 208, Điều 262, Điều 267, Điều 271 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015; Điều 103, Điều 107 Luật Các Tổ chức tín dụng; Điều 299, Điều
323, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 468 Điều 688, Điều 189, Điều 190,
10
Điều 235, Điều 385, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 203 Luật Đất đai
năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với ông
Huỳnh Chí L, về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất thửa 253, tờ bản đồ số 10, giữa Thị Bích V ông Huỳnh Chí L được
công chứng tại Văn phòng C, sE, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD b
hiệu và buộc ông Huỳnh Chí L chuyển quyền sử dụng đất thửa 253, tờ bản đồ số
10, tọa lạc tại ấp T, X, huyện T, thành phố Cần Thơ (cũ), nay ấp T, Đ,
thành phố Cần Thơ trả lại cho ông Nguyễn Văn T.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 -
Phòng G (V1) đối với ông Huỳnh Chí L.
Buộc ông Huỳnh Chí L có nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng tổng số tiền
10.239.220.939 đồng, trong đó nợ gốc: 8.200.000.000 đồng, lãi trong hạn:
1.332.439.263 đồng, lãi quá hạn: 706.781.676 đồng tạm tính đến ngày
12/02/2026, đồng thời tiếp tục tính lãi từ ngày 13/02/2026 cho đến khi ông L trả
tất nợ, nợ lãi.
Buộc ông Huỳnh Thanh T1, Th Kiều T2 trả tổng cộng
5.848.745.998 đồng, trong đó nợ gốc: 4.600.000.000 đồng, lãi trong hạn:
789.847.925 đồng, lãi quá hạn: 458.898.073 đồng tạm tính đến ngày
12/02/2026, đồng thời tiếp tục tính lãi từ ngày 13/02/2026 cho đến khi ông T1,
T2 trả tất nợ, nợ lãi.
Trường hp ông Huỳnh Chí L, ông Huỳnh Thanh T1 và bà Lê Thị Kiều T2
không thc hiện nghĩa vụ tr n hoc tr không đủ n n lãi phát sinh thì
Ngân hàng quyn yêu cu Phòng Thi hành án dân s khu vc 3 - Cần Thơ
tiến hành kê biên, phát mãi toàn b tài sản đã thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ tr
n vay cho Ngân hàng. Các tài sn gm:
- Quyền sử dụng đất thửa 255, tờ bản đồ số 10, diện tích 980,6m
2
, loại đất
chuyên trồng lúa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
i sản khác gắn liền với đất số DC 748667, số vào sổ cấp GCN: CS02445,
do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày 27/12/2021 đứng tên
ông Huỳnh Chí L, đất tọa lạc tại ấp T, X, huyện T, thành phố Cần Thơ (cũ),
nay là ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ.
- Quyền sử dụng đất thửa 253, theo đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số
35/VPĐK.DV ngày 26/9/2025 do Văn phòng đăng đất đai lập diện tích
thực tế (ghi chú phần 1) 2.068,0m
2
phần diện tích đất theo Bản trích đo địa
chính số 503/VPĐKĐĐ ngày 02/8/2024 do Văn phòng đăng đất đai lập
diện tích 1.322,8m
2
.
- Quyền sử dụng đất thửa 705, tờ bản đồ số 38, diện tích 50m
2
, loại đất
11
tại đô thị, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số CU 083639, số vào sổ cấp GCN: CH04630, do
UBND huyện T, thành phố Cần Thơ cấp ngày 21/5/2020 đứng tên ông Huỳnh
Thanh T1, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ (cũ), nay
ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Quyền sử dụng đất thửa 695, tờ bản đồ số 38, diện tích 284,4m
2
, loại đất
cây trồng lâu năm, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 083640, số vào sổ cấp GCN: CS04631,
do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày 26/5/2020 đứng tên ông
Huỳnh Thanh T1, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ
(cũ), nay là ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và
quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 12/02/2026, ông T1 đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết sửa bản án thẩm theo hướng
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C, nay Văn phòng
Công chứng Nguyễn Quốc D và người làm chứng Lê Thị T3 vắng mặt.
Ông T1 không rút đơn khởi kiện không rút kháng cáo. Ngân hàng
Thương mại cổ phần N2 không rút đơn yêu cầu độc lập. Các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo của ông
T1, tại phiên tòa phúc thẩm phát sinh nhiều tình tiết chưa được làm cấp
thẩm, cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo, áp dụng khoản 3 Điều 308,
Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hủy bản án dân sthẩm,
chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng
C, nay Văn phòng C người làm chứng Thị T3: Văn phòng Công chứng
T3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa phúc
thẩm, đối với Văn phòng C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bà T3 vắng mặt
không sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ khoản
12
3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự m 2015, Hội đồng xét xử tiến hành
phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt đối với Văn phòng C và bà T3.
[2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn
Văn T đảm bảo về hình thức nội dung, đúng người quyền kháng cáo, còn
trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 Điều 273
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên hợp lệ, đủ điều kiện để xem xét, giải quyết
theo trình tự phúc thẩm.
[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm
nhận thấy:
[4] Người đại diện hợp pháp của ông T cho rằng thửa đất số 253, tờ bản
đồ số 10, diện tích 3.440,6m
2
, loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp T, xã
X, huyện T, thành phố Cần Thơ, nay thuộc ấp T, T, thành phố Cần Thơ là tài
sản chung của ông với V, V lén lút chuyển nhượng cho ông L ông không
hay biết. V cho rằng, chỉ cầm cố thửa đất này cho ông L để vay số tiền
240.000.000 đồng. Ông L cho rằng, ông chuyển nhượng cả nhà đất luôn với
giá thực tế 6.100.000.0000 đồng. Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 18/3/2022 thể hiện giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất
240.000.000 đồng. Theo Chứng thư thẩm định giá ngày 25/4/2022 giá trị quyền
sử dụng đất 6.365.110.000 đồng theo Chứng thư thẩm định giá ngày
10/9/2025 giá trị nhà 1.552.179.000 đồng. Như vậy, thực tế V cầm cố cho
ông L với giá 240.000.000 đồng hay là chuyển nhượng? Nếu chuyển nhượng thì
chuyển nhượng cả nhà trên đất hay không? Giá chuyển nhượng bao nhiêu,
2.400.000.000 đồng hay 6.100.000.000 đồng? Hai bên đã giao nhận tiền,
quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho nhau hay chưa, vì V cho rằng ông L
vào bao chiếm chkhông giao, báo chính quyền địa phương? Cấp
sơ thẩm chưa làm rõ các nội dung này.
[5] Trong hồ thể hiện, thửa 253 đến 02 bản vẽ đều do Văn phòng
đăng ký đất đai thành phố C cung cấp có số đo tứ cận, diện tích khác nhau. Theo
Bản trích đo địa chính số 503/VPĐKĐĐ ngày 02/8/2024, thửa 253 diện tích
3.059,7m
2
, còn theo đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 53/VPĐK.DV ngày
26/9/2025 thửa 253 diện tích 3.440,6m
2
. Vậy đồ nào đúng? Cấp thẩm
chưa hỏi cơ quan đo đạc để làm rõ.
[6] Trên thửa đất 253 căn nhà kiểu biệt thtài sản chung của ông T
và bà V. Cấp sơ thẩm chưa xem xét, giải quyết.
[7] Thửa đất 253, ông L thế chấp cho Ngân hàng Thương mại c phần N2
để bảo đảm cho khoản vay của ông, của ông Huỳnh Thanh T1 và bà Lê Thị Kiều
T2. Vậy trước khi hợp đồng thế chấp, Ngân hàng đi thẩm định để xem
thửa 253 tài sản trên đất ai đang quản lý, sdụng? phải ông L đang quản
lý, sử dụng hay không? Theo hợp đồng thế chấp chỉ thế chấp quyền sử dụng
đất, vậy giữa Ngân hàng ông L thỏa thuận thế chấp cả nhà và tài sản trên
thửa đất 253 hay không, để xác định Ngân hàng phải bên thứ ba ngay tình
hay không?
13
[8] Các nội dung trên Tòa án cấp thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu,
chứng cứ để làm tại phiên tòa phúc thẩm không ththực hiện bổ sung
được. Do đó, Hội đồng t xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên,
chấp nhận một phần kháng cáo của ông T1, căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ
vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[9] Khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp thẩm cần phải xem xét, thẩm
định lại đối với thửa đất 253 đxác định chính xác số đo tứ cận, diện tích đất
tranh chấp, tài sản trên đất? Thu thập, tài liệu chứng cứ để xác định thửa đất 253
và tài sản trên đất có phải là tài sản chung của ông T1 với bà V hay không? Xác
định thửa đất 253 V chuyển nhượng cho ông L hay cầm cố? Nếu cầm cố
thì giá bao nhiêu? Nếu chuyển nhượng thì giá chuyển nhượng bao nhiêu?
chuyển nhượng cả nhà tài sản trên đất hay không? Thực tế hai bên đã giao
nhận tiền, đất và tài sản trên đất cho nhau chưa hay là ông L vào bao chiếm? Khi
V đem cầm cố hoặc chuyển nhượng cho ông L thì ông T1 có biết hay không?
Khi ông L thế chấp thửa đất 253 cho Ngân hàng thì Ngân hàng đi thẩm định
tài sản thế chấp hay không, có thế chấp cả nhà và tài sản trên đất hay không? Từ
đó mới căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
V với ông L hiệu lực hay bhiệu, Ngân hàng bên thứ ba ngay tình hay
không ngay tình, hợp đồng thế chấp tài sản đối với thửa 253 hiệu lực hay bị
vô hiệu.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án thẩm bị hủy nên theo quy
định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
Tuyên xử:
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 59/2026/DS-ST ngày 12 tháng
02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ.
2. Chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T không phải chịu.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
14
Nơi nhận:
- TAND khu vực 3 - Cần Thơ;
- VKSND TP Cần Thơ;
- VKSND khu vực 3 - Cần Thơ;
- THADS TP Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hoàng Lâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 925/2026/DS-PT Bản án số 925/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 925/2026/DS-PT Bản án số 925/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất