Bản án số 374/2026/DS-PT ngày 13/04/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 374/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 374/2026/DS-PT ngày 13/04/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 374/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản, huỷ Bản án sơ thẩm do không đưa đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào vụ án và chưa thu thập được chứng cứ làm rõ tình tiết vụ án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 374/2026/DS-PT
Ngày: 13 - 4 - 2026
V/v tranh chấp đòi lại tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Sơn Nữ Phà Ca
Bà Lê Thị Thu Hương
Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc
- Thư phiên tòa: Cao Ngọc Quí Thư của Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Ông Thạch -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Các ngày 07, 13 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 641/2025/TLPT-DS ngày 25
tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do án dân sự thẩm số: 205/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 9 Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 709/2025/QĐ-PT ngày 08
tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị M; Địa chỉ: Ấp V, xã M, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Th M: Ông
Nguyễn Văn P; Địa chỉ: Ấp E, M, tỉnh Vĩnh Long. (Giấy uỷ quyền ngày
15/12/2023).
- Bị đơn:Trần Thị Yến L; Địa chỉ: Ấp V, xã M, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Trần Thị Yến L: Ông Trần Văn
L1; Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp. (Giấy uỷ quyền ngày 02/4/2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Trần Thị Yến L: Luật
sư Trần Hồ N Công ty L2 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V.
2
- Người làm chứng: Ông HENG KIM HENG, sinh năm 1958; Địa chỉ
nước ngoài: B Kampung S, Malaysia; Địa chỉ tại Việt Nam: Ấp V, xã M, tỉnh Vĩnh
Long
Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Yến L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
Nguyễn Thị M có người đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Văn P trình bày:
Trước đây vào khoảng tháng 3/2019 đến tháng 10/2020, Nguyễn Thị M
có thoả thuận mua bán chỉ sơ dừa với Trần Thị Yến L, hai bên thoả thuận miệng
bằng hình thức thanh toán gối đầu khi giao hàng mới thì phía L thanh toán
hàng cũ, việc thanh toán M ghi trong sổ quản của chữ xác
nhận còn nợ lại của L. Trong quá trình mua bán thời gian đầu phía bà L thanh
toán tiền đầy đủ nhưng dần về sau thì không thanh toán, tính đến ngày 02/10/2020
thì L n nợ lại M số tiền 1.550.000.000 đồng, L cam kết sẽ thanh toán
dứt trong tháng 11/2020 nhưng đến nay vẫn không thanh toán.
Nay M yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc Trần Thị Yến L trả cho
Nguyễn Thị M số tiền nợ gốc 1.550.000.000 đồng. M rút lại yêu cầu tính lãi
suất đối với số tiền nợ 1.550.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Trần Thị yến L đại diện theo uỷ
quyền là ông Trần Văn L1 trình bày:
L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn M cho
rằng từ trước đến nay không giao dịch làm ăn với M. L quen biết với
ông Heng Kim H (thường gọi H1) quốc tịch Malaysia, trong quá trình sống
chung với ông H, vào năm 2018 ông H làm ăn mua bán dừa với Nguyễn
Thị M Nguyễn Thị Thúy K, trong thời gian từ tháng 3/2019 đến tháng
10/2020 ông H đưa tiền cho nhờ trả tiền ông H mua dừa cho M
và bà K nhưng bà không trực tiếp đưa cho M mà đưa cho bà K, trong các lần trả
tiền thì K kêu L tên thay cho ông H trong biên nhận xác nhận số tiền đã
trả và còn thiếu.
Tại án dân sự thẩm số: 205/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long, đã quyết định:
Áp dụng các Điều 430, 440, 166, 468 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 Ngh
3
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị M. Buộc Trần Thị Yến L trả cho
Nguyễn Thị M số tiền nợ gốc 1.550.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm năm mươi
triệu đồng).
Kể từ khi bản án hiệu lực pháp luật, khi đơn yêu cầu thi hành án của
M, nếu L chưa thi hành xong các khoản tiền phải thi hành án thì còn phải
chịu tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lãi suất
chậm trả kể từ ngày 02/12/2020 đến ngày Toà án xét xử thẩm, mức lãi suất
0,83%/tháng, tương ứng với số tiền vốn gốc 1.550.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí thẩm, chi phí giám định, nghĩa vụ
thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 20 tháng 10 năm 2025, bị đơn Trần Thị Yến L đơn kháng cáo
với nội dung: Kháng cáo toàn bộ Bản án thẩm số: 205/2025/DS-ST ngày 30
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 Vĩnh Long, yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm sửa Bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về việc buộc Trần Thị Yến L trả cho M số
tiền nợ gốc 1.550.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị
Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của M, sửa Bản án thẩm.
L không có thỏa thuận mua bán với M, việc L sổ theo dõi mua bán sơ dừa
của M do ông H nhờ trả tiền mua bán giữa ông H với M khi ông H đi
nước ngoài. Ông H là người tham gia giao dịch mua bán với M nên yêu cầu đưa
ông H vào tham gia tố tụng tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Trần Thị Yến L trình
bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà L, sửa Bản án
thẩm. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của M về việc buộc bà L trả M số
tiền 1.550.000.000 đồng, giữa L với M không thỏa thuận giao dịch mua bán
chỉ dừa, L là người làm công cho ông H. Số tiền L giao cho M tiền
của ông H nhờ trả dùm.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn M ông Nguyễn Văn P đề
4
nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên Bản
án thẩm. M không thỏa thuận, giao dịch mua bán chỉ dừa với ông H
không biết ông H. L là chủ doanh nghiệp đăng kinh doanh ngành nghề chỉ
dừa nên M chỉ giao dịch với L. Từ trước năm 2020, M L thỏa
thuận mua bán chỉ sơ dừa, nguyên tắc mua đứt, bán đoạn n hai bên không lập sổ
theo dõi, ngày 02/10/2020 L nợ M số tiền 1.550.000.000 đồng nên M yêu
cầu bà L ký vào sổ nợ, sau đó bà M đòi tiền bà L nhiều lần nhưngL không trả.
Người làm chứng ông Heng Kim H trình bày: Ông H với M giao dịch
mua bán chỉ dừa từ năm 2017 đến năm 2019; Hình thức mua bán giữa hai n
khi M giao hàng xong thì bên ông H thanh toán tiền hàng cho M bằng tiền
mặt sau, việc giao nhận hàng thanh toán tiền mỗi đợt thì ông H đều xác
nhận vào sổ cái theo dõi do M lập, những lúc ông H không mặt Việt Nam
thì ông H đưa tiền nhờ L trả tiền hàng m cho M như các lần L xác
nhận vào sổ cái theo dõi do M cung cấp tại Toà án. Sau thời điểm L sổ trả
tiền cho M ngày 02/10/2020 thì ông H đã về Việt Nam sau đó nhiều lần ông
H đã thanh toán xong hết số tiền nợ 1.550.000.000 đồng cho M trong năm 2020.
Việc ông H thanh toán tiền nợ cho M thì ông H xác nhận vào sổ cái theo
dõi của M. L hoàn toàn không biết không liên quan đến việc thanh toán
tiền, mua bán chỉ dừa giữa ông H M. Các khoản tiền ông H đưa cho L
thanh toán cho M qua các lần L xác nhận trong biên nhận, gồm: ngày
18/3/2019, 12/4/2019, 02/5/2019, 24/5/2019, 08/9/2019, 30/9/2019, 24/02/2020,
01/4/2020, 16/6/2020 ngày 02/10/2020 tiền nhân của ông H, không phải
tiền của L. Quá trình giao dịch làm ăn với nhau thì ông H và bà M chỉ lập 01 sổ
cái sổ theo dõi do M giữ, không lập hợp đồng mua bán hay biên nhận
khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử người tham
gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến
khi xét xử phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố
tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy
định về mức, thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Yến L.
5
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 205/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 Vĩnh Long chuyển h vụ án để Tòa án
nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long giải quyết lại vụ án theo thủ tc sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Bị đơn Trần Thị Yến L không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm. Về chi phí giám định; án phí sơ thẩm sẽ được xem xét giải quyết khi
Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long xét xử lại sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm bị đơn Trần Thị Yến
L xác định L không quan hệ làm ăn kinh doanh mua bán chỉ dừa với
M. L đăng kinh doanh ngành nghề buôn bán xuất nhập khẩu chỉ dừa,
lưới dừa, thảm nhưng thực tế người mua bán chỉ dừa với M ông Heng
Kim H (thường gọi H1) quốc tịch Malaysia, L chỉ người làm công ăn
lương cho ông H. Cụ thể, năm 2018 ông H bắt đầu mua bán chỉ sơ dừa với bà M và
Nguyễn Thị Thúy K, trong khoảng thời gian từ tháng 3/2019 đến tháng 10/2020
do ông H không Việt Nam nên ông H đưa tiền nhờ L trả tiền mua
dừa cho M K, nhưng không trực tiếp đưa cho M đưa cho K,
trong các lần trả tiền thì K kêu L tên trả tiền vào sổ ghi chép theo dõi của
M. Mục đích tên vào sổ nhằm xác nhận số tiền L đã trả số tiền ông
H còn thiếu M. vậy, nếu M tranh chấp về số tiền mua bán thì L yêu
cầu đưa ông H vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan. Tuy nhiên, không được cấp sơ thẩm chấp nhận.
[2] Tại cấp phúc thẩm, Toà án đã tiến hành triệu tập lấy lời khai ông
Heng Kim H tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2026 ông H xác định: Ông H bắt
đầu giao dịch mua bán chỉ dừa với M từ năm 2017 đến năm 2019; Hình thức
mua bán giữa hai bên là ông H liên hệ M đặt hàng, bà M giao hàng trước sau
đó khoảng 01 tuần ông H thanh toán tiền hàng cho M bằng tiền mặt, việc giao
nhận hàng và thanh toán tiền mỗi đợt thì ông H đều xác nhận vào sổ cái theo
dõi do M lập, những lúc ông H không mặt Việt Nam thì ông H đưa tiền
nhờ bà L trả tiền hàng dùm cho bà M như các lần L xác nhận vào sổ cái theo
dõi do M cung cấp tại Toà án. Sau thời điểm L sổ trả tiền cho M ngày
02/10/2020 thì ông H đã về Việt Nam sau đó nhiều lần ông H đã thanh toán
xong hết số tiền nợ 1.550.000.000 đồng cho M trong năm 2020. Việc ông H
thanh toán tiền nợ cho M thì ông H xác nhận vào sổ cái theo dõi của
6
M. L hoàn toàn không biết không liên quan đến việc thanh toán tiền, mua
bán chỉ sơ dừa giữa ông H và bà M. Các khoản tiền ông H đưa cho L thanh toán
cho M qua các lần L xác nhận trong biên nhận, gồm: ngày 18/3/2019,
12/4/2019, 02/5/2019, 24/5/2019, 08/9/2019, 30/9/2019, 24/02/2020, 01/4/2020,
16/6/2020 và ngày 02/10/2020 là tiền cá nhân của ông H, không phải tiền của L.
Quá trình giao dịch làm ăn với nhau thì ông H và M chỉ lập 01 sổ cái sổ theo
dõi do M giữ, không lập hợp đồng mua bán hay biên nhận khác. Mặt khác,
tại bản khai của người làm chứng Hồ Thị Kim P1 khai ông H người trực
tiếp giao dịch mua bán với bà M và bà là người nhận vận chuyển hàng hóa từ cơ sở
bà M đến cảng C cho ông H, bà L không tham gia giao dịch mua bán sơ dừa với bà
M. Tuy nhiên, cấp thẩm khi giải quyết không thu thập ý kiến của những người
liên quan đưa ông Heng Kim H vào tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết toàn diện, triệt để các yêu cầu của
đương sự là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[3] Xét M khởi kiện yêu cầu L trả số tiền 1.550.000.000 đồng căn cứ
vào một tờ giấy tập học sinh 02 mặt (BL 46-47): Mặt trước bắt đầu bằng dòng
chữ: “24/5 trả 50 triệu còn lại 2.030.000.000 chữ “Ý”; 8/9 trả 95.000.000;
30/9 trả 105.000.000 còn lại 1.830.000.000 chữ “Ý”; 24/2/2020 trả
100.000.000 triệu, còn thiếu lại 1.730.000.000 triệu chữ “Ý””; Mặt sau tờ
giấy bắt đầu bằng dòng chữ: “1/4 trả 50.000.000 triệu, còn thiếu lại 1.680.000.000
triệu kết thúc bằng chữ “Ý”; 16/6 trả Kiều 30.000.000 triệu, còn thiếu lại
1.650.000.000 triệu chữ ký “Ý”; 2/10/20 trả Kiều 100 triệu, còn thiếu lại
1.550.000.000 chữ “Ý””. Các đương sự thừa nhận hình thức kinh doanh
của M với khách hàng chỉ thoả thuận miệng, thanh toán gối đầu (giao hàng
mới, thanh toán tiền hàng cũ). Theo đó, bà M và người đại diện hợp pháp bà M đều
xác nhận việc thanh toán tiền hàng với L được ghi trong sổ theo dõi do M
giữ. Nội dung cuối quyển sổ ngày 02/10/2020 L trả 100.000.000 đồng còn
thiếu lại 1.550.000.000, chữ L được M ra từ sổ cái theo dõi việc
giao dịch mua bán giữa hai bên M cho rằng đây nội dung xác định việc
chốt nợ giữa hai bên.
Do đó, cấp phúc thẩm yêu cầu M cung cấp bản gốc sổ cái ghi chép, quản
lý việc mua bán giữa M với L mà bà M đã xé để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại cấp phúc thẩm phía nguyên đơn nộp Sổ tập học sinh ghi “LY VK” được
đánh số từ trang bìa trước số 01 liên tục đến trang a sau số 72 (tạm gọi là: Sổ
tập), tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2026, đại diện theo uỷ quyền của bà M xác
định: Sổ tập học sinh tại trang bìa có ghi “LY VK” nghĩa L V, xã A, huyện
7
M, tỉnh Bến Tre (cũ), sổ theo dõi chung nhiều công việc bao gồm cả việc mua
bán dừa với L cho rằng tờ giấy tập học sinh 02 mặt (BL 46-47)
M khởi kiện yêu cầu L trả số tiền 1.550.000.000 đồng được ra tại vị trí
giữa trang 14 và trang 15 của quyển tập ghi “LY VK” do M cung cấp tại cấp
phúc thẩm. Tuy nhiên, xét nội dung quyển sổ tập học sinh có ghi “LY VK” do phía
nguyên đơn cung cấp tại cấp phúc thẩm thể hiện sổ này nội dung ghi chép các
ghe dừa của Đ, V, M1, K1, D từ ngày 08/10/2017 đến ngày 18/10/2017, không
nội dung nào thể hiện theo dõi việc mua bán, tiền nợ giữa bà M với L, không
liên quan đến L cũng nội dung cũng không phù hợp với tờ giấy tập học
sinh 02 mặt (BL 46-47) M cung cấp khi khởi kiện. Bởi lẽ, tại tài liệu
nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện thể hiện tại BL 06 thì ngoài tờ giấy tập
học sinh 02 mặt (BL 46-47) thì nguyên đơn n cung cấp bản photo tài liệu
khác thể hiện nội dung:“cũ 2.224.000.000”; “18/3/ trả 44.000.000”; “Còn lại:
2.180.000.000” chữ “Ý”; “12/4 trả 50.000.000” “Còn lai: 2.130.000.000”
và chữ “Ý”; 2/5 trả 50.000.000”; “Còn lại 20.80.000.000” và chữ ký “Ý”. Như
vậy, căn cứ xác định trước tờ giấy tập học sinh 02 mặt (BL 46-47) thì sổ cái
theo dõi của nguyên đơn là tờ giấy tập có ghi nội dung:“cũ 2.224.000.000”; “18/3/
trả 44.000.000”; “Còn lại: 2.180.000.000” chữ “Ý”; “12/4 trả 50.000.000”
“Còn lai: 2.130.000.000” chữ “Ý”; 2/5 trả 50.000.000”; “Còn lại
20.80.000.000” chữ “Ý” chứ không phải chứ không phải tờ giấy tập
nguyên đơn cung cấp tại cấp phúc thẩm ghi Ghe dừa K1 (Diểm) 18/10/2017,
81.75”. Do đó, không có căn cứ xác định tờ giấy tập M khởi kiện bà L liên quan
số tiền 1.550.000.000 đồng trong vụ án này được nguyên đơn xé ra từ quyển sổ tập
do phía nguyên đơn cung cấp tại cấp phúc thẩm.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn cho rằng từ trước thời điểm ngày 24/5
M và L làm ăn mua bán theo nguyên tắc mua đứt bán đoạn hai bên không
lập hợp đồng mua n, bị đơn không nợ khoản tiền nào khác đến ngày 24/5
bà L mua sơ dừa trị giá 2.080.000.000 đồng trả 50.000.000 đồng còn nợ lại
2.030.000.000 đồng. Như vậy, lời trình bày của người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn tại phiên tòa và các chứng cứ ban đầu do phía nguyên đơn cung cấp tại
cấp sơ thẩm và phúc thẩm có mâu thuẫn nhau.
Xét ông H cho rằng giữa ông với M giao dịch mua bán chỉ dừa từ
năm 2017 đến cuối năm 2020 thì ngưng trong quá trình giao dịch hai bên lập
nhiều sổ theo i việc mua bán trả tiền, các quyển sổ đều do M giữ. Cuối
năm 2020, ông H đã thanh toán xong các khoản tiền nợ phát sinh trước đó lần
cuối cùng khi trả tiền ông H tên trả tiền vào sổ cái theo dõi nợ của bà M, hai
8
bên không còn nợ nhau. Do đó, để căn cứ xem xét toàn diện vụ án yêu cầu
khởi kiện của M liên quan đến việc mua bán dừa thì M phải cung cấp sổ
cái theo dõi việc mua bán giữa hai bên để Tòa án xem xét toàn diện khi giải quyết
vụ án. Việc M chỉ một tờ giấy tập trong quyển sổ cái theo dõi mua bán giữa
hai bên để khởi kiện yêu cầu L trả số tiền nợ 1.550.000.000 đồng được cấp
thẩm chấp nhận không căn cứ. Bởi bản chất nội dung của tờ giấy tập
học sinh 02 mặt (BL 46-47) không phải biên bản xác nhận nợ hay chốt nợ
giữa hai bên.
Như vậy, để có căn cứ xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
cần thu thập bản gốc sổ cái theo dõi việc ghi chép mua bán dừa giữa M với
bà L, ông H và yêu cầu ông H, bà L cung cấp chứng cứ chứng minh ông H có tham
gia việc giao dịch mua bán chỉ sơ dừa với bà M giai đoạn năm 2017 đến năm 2020,
thu thập ý kiến những người biết sự việc liên quan đến giao dịch mua bán giữa
M, bà L, ông H.
Từ phân tích trên, xét thấy cấp thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đã
không đưa đủ người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ không đầy đủ. Cấp phúc
thẩm không thể khắc phục được nên hủy Bản án thẩm chuyển hồ vụ án
cho Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long giải quyết lại vụ án theo thủ tục
thẩm.
[4] Chi phí giám định; án phí sơ thẩm sẽ được xem xét giải quyết khi Tòa án
nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
[5] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn L không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Số tiền bà L đã nộp tạm ứng án phí sẽ được hoàn trả.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308; Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lýsử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Yến L.
Tuyên xử:
1. Hủy Bản án dân s thẩm số: 205/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 Vĩnh Long. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án
nhân dân Khu vực 9 - Vĩnh Long giải quyết lại vụ án theo th tục sơ thẩm.
9
2. Chi phí giám định; án phí thẩm sẽ được xem xét giải quyết khi Tòa án
nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn Trần Thị Yến L không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng L đã
nộp theo Biên lai thu số 7574 ngày 28/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 9 - Vĩnh Long sẽ được hoàn trả cho bà Trần Thị Yến L.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- CA: 01;
- TPT-TATC tại TPHCM: 01;
- VKSND TVL: 01;
- TAND KV9-VL: 01;
- Phòng THADS KV9-VL: 01;
- Đương sự: 02;
- HCTP: 01;
- KTNV: 01;
- Lưu: 04.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Sơn Nữ Phà Ca
Tải về
Bản án số 374/2026/DS-PT Bản án số 374/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 374/2026/DS-PT Bản án số 374/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất