Bản án số 905/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 905/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 905/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 905/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 905/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 905/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 905/2025/DS-PT
Ngày: 23-12-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất, hợp đồng vay tài
sản, hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với
đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dững
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Vũ Đình Quang - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18/11, 12/12 và ngày 23/12/2025 tại trụ sở 1 Tòa án nhân
dân tỉnh Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số:
456/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp
đồng vay tài sản, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 96/2025/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân dân khu
vực 6 – Đng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 535/2025/QĐ-PT ngày
27 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Huỳnh Thanh B, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số C, đường P, Tổ C, khóm P, phường C (Khóm D, Phường F,
thành phố C), tỉnh Đng Tháp.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Thanh B: Ông Đỗ H, sinh
năm 1968 (Có mặt). Địa chỉ: Số A L, phường B (Phường C, Quận A), Thành phố
H Chí Minh (Hợp đng ủy quyền ngày 09/7/2025).
2. Bị đơn: Lê Nguyễn Thanh T, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số B, đường N, Tổ C, Khóm A, phường C (Phường A, thành phố
C), tỉnh Đng Tháp.
Địa chỉ liên hệ: Số B, đường Q, Tổ C, khóm P, phường C (Khóm D,
Phường F, thành phố C), tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Nguyễn Thanh T: Ông Phạm
Hoàng Đ, sinh năm 1972 (Có mặt). Địa chỉ: Tổ D, Khóm D, phường C (Phường
A, thành phố C), tỉnh Đng Tháp (Hợp đng ủy quyền ngày 20/10/2025).
3. Ngưi có quyn li, ngha v liên quan:
3.1. Trần Văn K, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Khu phố A, phường T (phường T, thành phố T), Thành phố H
Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn K: Anh Nguyễn Trường
T1, sinh năm 1997 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã M (xã M, huyện C), tỉnh Đng
Tháp (Hợp đng ủy quyền ngày 20/10/2025).
3.2. Huỳnh Thanh V, sinh năm 1970 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.3. Huỳnh Quang M, sinh năm 2008.
Người đại diện theo pháp luật của Huỳnh Quang M: Ông Huỳnh Thanh
B, sinh năm 1979.
3.4. Huỳnh Thị Thu L, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số C, đường P, Tổ C, khóm P, phường C (Khóm D, Phường
F, thành phố C), tỉnh Đng Tháp.
3.5. Huỳnh Tấn L1, sinh năm 1960 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.6. Huỳnh Thị D, sinh năm 1973 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.7. Huỳnh Kim Bé T2, sinh năm 1952 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ C, khóm P, phường C (Khóm D, Phường F, thành phố
C), tỉnh Đng Tháp.
3.8. Huỳnh Thị Tuyết M1, sinh năm 1975 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, đường H, phường T (Phường A, quận T), Thành phố H
Chí Minh.
3.9. Huỳnh Thanh N, sinh năm 1968 (Vắng mặt).
3
Địa chỉ: Số A, đường M, Tổ C, khóm P, phường C (Khóm D, Phường F,
thành phố C), tỉnh Đng Tháp.
3.10. Nguyễn Tú T3, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ B, khóm T, phường C (Khóm C, Phường F, thành phố C), tỉnh
Đng Tháp.
3.11. Lê Thị Kim C, sinh năm 1992 (đã chết ngày 09/02/2024).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của chị Lê Thị Kim C:
3.11.1. Nguyễn Tú T3, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
3.11.2. Nguyễn Hoài Thiên Â, sinh ngày 03/9/2017.
Người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Hoài Thiên Â: Anh Nguyễn Tú
T3, sinh năm 1993.
Cùng địa chỉ: Tổ B, khóm T, phường C (Khóm C, Phường F, thành phố
C), tỉnh Đng Tháp.
3.11.3. Nguyễn Thị M2, sinh năm 1966 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ G, ấp M, xã M (xã M, huyện C), tỉnh An Giang.
3.12. Nguyễn Phước L2, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
3.13. Đặng Thị Mộng H1, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ A, khóm T, phường C (phường H, thành phố C), tỉnh
Đng Tháp.
3.14. Văn phòng C1 (Nay là Văn phòng C2) (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường N, khóm M, xã M (thị trấn M, huyện C), tỉnh Đng
Tháp.
3.15. Văn phòng C3.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ngọc H2, chức vụ: Trưởng
Văn phòng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số H, đường L, Tổ C, Khóm B, phường C (Khóm B, Phường A,
thành phố C), tỉnh Đng Tháp.
3.16. Phòng C4 tỉnh Đng Tháp.
Địa chỉ: Số A, đường H, phường C (Phường A, thành phố C), tỉnh Đng
Tháp.
3.17. Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đng Tháp (Người kế thừa quyền
và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Đng Tháp).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quốc N1, chức vụ: Chủ tịch (Có
đơn xin xét xử vắng mặt).
4
Địa chỉ trụ sở: Số C, đường C, phường C, tỉnh Đng Tháp.
3.18. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hà L3, chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Minh G, chức vụ: Giám đốc
Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai khu vực XVIII – Đng Tháp (Giấy ủy
quyền số 6632/GUQ-SNNMT ngày 13/11/2025) (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: Khu phố T, phường T, tỉnh Đng Tháp.
4. Ngưi kháng cáo: Ông Huỳnh Thanh B là nguyên đơn và ông Huỳnh
Thanh V, ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Kim Bé T2, bà Huỳnh
Thị Tuyết M1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết v án tại cấp sơ thẩm nguyên
đơn ông Huỳnh Thanh B và ngưi đại diện theo ủy quyn của nguyên đơn
trình bày:
Do ông B cần tiền làm ăn với số tiền 500.000.000 đng nên ông B có liên
hệ gặp bà Lê Nguyễn Thanh T để vay số tiền 500.000.000 đng. Tuy nhiên bà T
yêu cầu ông B thế chấp tài sản nhà và đất bằng hình thức làm hợp đng sang tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gắn liền quyền sở hữu nhà ở cho bà T thì bà
T mới cho vay số tiền 500.000.000 đng.
Ngày 27/10/2020, ông B có xác lập hợp đng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho bà Lê Nguyễn Thanh T. Nội dung hợp đng
như sau: 1. Thửa đất số 6937, tờ bản đ số 8, diện tích 123,0m², mục đích sử
dụng: Đất ở đô thị, đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông
Huỳnh Thanh B vào ngày 20/10/2020, số vào sổ cấp GCN: CS04913, số bìa: CY
500487; 2. Nhà ở: Nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 92,2m², diện tích sàn
92,2m², Hình thức sử dụng riêng - cấp (Hạng): Cấp IV; 3. Thửa đất số 8974, tờ
bản đ số 8, diện tích 178,7m², loại đất: Trng cây lâu năm, đất do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Huỳnh Thanh B vào ngày 20/10/2020, số vào
sổ cấp GCN: CS04914, số bìa: CY 500488; 4. Giá chuyển nhượng 500.000.000
đng. Ngoài ra, còn có một số điều khoản khác được quy định trong hợp đng.
Hợp đng đã được xác lập tại Văn phòng C1 số công chứng: 6347/SCC,
quyển số 2 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/10/2020. Sau khi Công chứng viên
chứng thực xong thì ông B có nhận đủ số tiền 500.000.000 đng theo hợp đng
bằng tiền mặt và ông B có ghi biên nhận đã nhận 500.000.000 đng. Ngoài ra,
hai bên còn thỏa thuận miệng khi nào ông B cần nhận lại tài sản thì trả đủ số tiền
500.000.000 đng và bà T có nghĩa vụ làm thủ tục sang tên lại đất và nhà cho
ông B của các thửa đất và nhà nêu trên. Đng thời hai bên có thỏa thuận bằng
miệng lãi suất là 3%/tháng, hình thức đóng lãi đưa trực tiếp. Tuy nhiên mỗi lần
5
đưa tiền lãi thì ông B mang tiền đưa trực tiếp cho bà T và bà T nhận đủ tiền (hai
bên không xác lập biên nhận về việc nhận tiền lãi). Tại thời điểm ông B làm hợp
đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của các thửa
đất nêu trên thì tại căn nhà có 02 hộ khẩu gm: Hộ khẩu của ông B do ông B tự
tách ra từ hộ khẩu gốc của cha mẹ và hộ khẩu có 05 thành viên gm: Huỳnh Kim
H3, Lưu Thị T4, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Quang M và Huỳnh Thị Thu L. Do
công việc làm ăn xa và thường xuyên vắng nhà nên ông B phát hiện bà T và
chng là ông Trần Văn K mang tài sản các thửa đất và nhà nêu trên chuyển
nhượng cho người khác mà không báo cho ông B biết thì ông B không đóng lãi
nữa. Đng thời trong giai đoạn này do dịch bệnh nên ông B không có đi làm và
không có thu nhập đóng lãi. Cụ thể:
Ngày 29/6/2021, bà T cùng chng ông K xác lập hợp đng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và nhà ở cho anh Nguyễn Phước L2 và anh Nguyễn Tú T3
các thửa 6937, tờ bản đ số 8, diện tích 123m
2
, với giá 1.300.000.000 đng và
thửa 8974, tờ bản đ số 8, diện tích 178,7m² với giá 700.000.000 đng.
Đến ngày 26/10/2021, anh Nguyễn Tú T3 cùng vợ là chị Lê Thị Kim C
với anh Nguyễn Phước L2 cùng vợ là chị Đặng Thị Mộng H1 tiến hành xác lập
hợp đng chuyển nhượng lại nhà và đất tại thửa 6937 và 8974 lại cho bà Lê
Nguyễn Thanh T với giá 6.000.000.000 đng.
Tất cả các giao dịch giữa bà T, ông K với anh L2, anh T3 và giữa anh T3,
chị C, anh L2, chị H1 với bà T đều không thông báo cho ông B biết.
Đến ngày 09/12/2021, bà T và ông K yêu cầu ông B tiếp tục làm hợp đng
thuê nhà tại văn phòng công chứng. Sau khi ông B biết được sự việc thì ông B
có tìm đến gặp bà T và ông K yêu cầu hủy tất cả các hợp đng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và hợp đng thuê nhà để chuyển trả tài sản lại cho ông B đứng
tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà tại hai thửa đất 6937
và 8974. Ông B đng trả lại số tiền 500.000.000 đng cho bà T. Bà T, ông K
cố tình lánh mặt mà không chịu chuyển trả các giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và quyền sở hữu nhà hai thửa đất nêu trên tại số C, Tổ C, Khóm D, Phường
F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp.
Nay ông Huỳnh Thanh B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Yêu cầu tuyên bố các hợp đng vô hiệu gm:
+ Hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
giữa ông Huỳnh Thanh B và bà Lê Nguyễn Thanh T ngày 27/10/2020, đối với
các thửa 6937, tờ bản đ số 8, diện tích 123,0m², mục đích sử dụng đất ở đô thị
cùng nhà ở và thửa số 8974, tờ bản đ số 8, diện tích 178,7m², loại đất trng cây
lâu năm, với giá chuyển nhượng 500.000.000 đng là giao dịch vô hiệu.
+ Hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
ngày 29/6/2021 giữa bà Lê Nguyễn Thanh T và ông Trần Văn K với anh Nguyễn
6
Phước L2 và anh Nguyễn Tú T3 tại thửa 6937, tờ bản đ số 8, diện tích 123,0m²,
mục đích sử dụng đất ở đô thị cùng nhà ở với giá 1.300.000.000 đng là giao
dịch vô hiệu.
+ Hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 29/6/2021, giữa
bà Lê Nguyễn Thanh T, ông Trần Văn K với anh Nguyễn Phước L2 và anh
Nguyễn Tú T3 tại thửa đất số 8974, tờ bản đ số 8, diện tích 178,7m², mục đích
sử dụng đất trng cây lâu năm, giá chuyển nhượng 700.000.000 đng là giao
dịch vô hiệu.
+ Hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
vào ngày 26/10/2021 giữa anh Nguyễn Tú T3, chị Lê Thị Kim C và anh Nguyễn
Phước L2, chị Đặng Thị Mộng H1 với bà Lê Nguyễn Thanh T, đối với các thửa
6937, tờ bản đ số 8, diện tích 123,0m², mục đích sử dụng đất ở đô thị cùng nhà
ở và thửa số 8974, tờ bản đ số 8, diện tích 178,7m², loại đất trng cây lâu năm,
với giá chuyển nhượng 6.000.000.000 đng là giao dịch vô hiệu.
+ Yêu cầu hủy các hợp đng: Hợp đng thuê quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất vào ngày 09/12/2021 giữa bà Lê Nguyễn Thanh T, ông Trần Văn
K và ông Huỳnh Thanh B; Hợp đng công chứng ngày 27/10/2020 của Văn
phòng C1 số công chứng: 6347/SCC, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp
đng công chứng ngày 29/6/2021 của Văn phòng C3 số công chứng: 2200, quyển
số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đng công chứng ngày 29/6/2021 của Văn
phòng C3 số công chứng: 2197, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp
đng công chứng ngày 26/10/2021 của Văn phòng C3 số công chứng: 2809,
quyển số 04/2021 TP/CC-SCC/HĐGD.
Ông B đng trả lại đủ số tiền 500.000.000 đng cho bà T. Thửa đất số
6937 thì trên đất có căn nhà cấp 4, không có cây trng và không có vật kiến trúc
nào khác.
Tài sản tranh chấp nêu trên là của cha ông B là ông Huỳnh Kim H3 cá nhân
tặng cho ông Huỳnh Thanh N và ông Huỳnh Thanh N cá nhân tặng cho ông B
chỉ cho trên mặt giấy tờ, không giao nhận tài sản. Tài sản là của hộ gia đình và
của ông H3 và bà T3 đng sở hữu.
Ông B làm hợp đng chuyển nhượng cho bà T và ông K thì ông B không
thông báo cho ông Huỳnh Thanh V với anh Huỳnh Quang M biết, trong hợp
đng chuyển nhượng ông V và anh M không có k tên. Tài sản tranh chấp hiện
nay do ông Huỳnh Thanh V, anh Huỳnh Quang M, ông Huỳnh Thanh B, chị
Huỳnh Thị Thu L và các anh chị em ruột cùng đang quản l sử dụng. Sau khi
hủy xong thì ông B yêu cầu tài sản do hàng thừa kế của ông Huỳnh Kim H3 và
bà Lưu Thị T4 được đng sở hữu đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
đng quản l, đng sử dụng.
Đối với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
chưa biết cụ thể về ngun gốc đất, tài sản gắn liền với đất là của hộ gia đình ông
7
Huỳnh Kim H3, bà Lưu Thị T4 và các con nên việc cơ quan chính quyền xác lập
h sơ tặng cho, h sơ chuyển nhượng là chưa đúng.
Đối với các văn phòng công chứng công chứng các hợp đng tặng cho, các
hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và hợp
đng thuê quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất là sai với quy định nên các
hợp đng công chứng của các văn phòng công chứng vô hiệu.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Thanh
B trình bày: Ông B vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên bố các hợp
đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa 6937, tờ bản đ số 8, diện tích
123,0m² và thửa đất số 8974, tờ bản đ số 8, diện tích 178,7m đất tọa lạc phường
F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp giữa ông B sang cho bà T, giữa bà T sang cho
anh L2 và anh T4, giữa anh T4, chị C, anh L2, chị H1 sang cho bà T là vô hiệu;
Đối với hợp đng thuê nhà và đất hai thửa đất nêu trên giữa bà T, ông K và ông
B cũng là hợp đng giả tạo nên vô hiệu.
Khi các hợp đng vô hiệu ông B không yêu cầu giải quyết hậu quả các hợp
đng vô hiệu, ông B chỉ đng trả lại cho bà T số tiền 500.000.000 đng, ngoài
ra không đng trả thêm tiền lãi nào khác. Ông B có đóng lãi cho bà T hay không
thì người đại diện theo ủy quyền không rõ. Ông B không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ nào khác tại phiên tòa sơ thẩm.
Ông B thống nhất với biên bản xem xét thẩm định, thống nhất sơ đ đo
đạc, thống nhất giá do Hội đng định giá đã định theo giá Nhà nước, đối với bà
T có cung cấp giá thị trường phần đất tranh chấp ông B không đng và không
cung cấp giá thị trường nào khác. Đối với phần đất mương lộ nằm ngoài giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 8495 có diện tích 44m
2
trong phạm vi các
mốc 1, B3, A, B, C, D, 7, 1 thì ông B không tranh chấp, yêu cầu gì liên quan đến
phần đất này.
Nhà và đất hiện nay do các con ông B và ông V đang quản l sử dụng, ông
B không thường xuyên sinh sống ở nhà, ngoài nơi ở này thì chị L và anh M không
có nơi ở nào khác. Do thiếu nợ nhiều người nên ông B đã rời khỏi địa phương
trốn nợ vào cuối năm 2019, những biên nhận bản chính do bà T cung cấp tại
phiên tòa sơ thẩm thể hiện tổng số tiền bà T giao cho ông B tổng cộng
3.500.000.000 đng, người đại diện theo ủy quyền có trao đổi với ông B nhưng
lâu quá ông B không nhớ, mà nếu có thì đó là khoản tiền khác không phải là tiền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngưi có quyn li, ngha v liên quan ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh
Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh Kim Bé T2
có đơn yêu cầu độc lập nội dung như sau:
Trong thời gian chung sống thì ông Huỳnh Kim H3 và bà Lưu Thị T4 có
07 người con gm: Huỳnh Tấn L1, Huỳnh Thị D, Huỳnh Thị Tuyết M1, Huỳnh
Thanh N, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Kim Bé T2, Huỳnh Thanh B. Ngoài ra ông
8
H3 và bà T4 không còn con riêng hay con nuôi nào khác, cha mẹ ông H3 và cha
mẹ bà T4 chết trước ông H3 và bà T4. Lúc còn sống ông H3 và bà T4 cùng hộ
gia đình các con có tạo lập khối tài sản chung gm: Thửa đất số 6937, tờ bản đ
số 8, diện tích 123,0m², mục đích sử dụng đất ở đô thị, đất do Ủy ban nhân dân
thành phố C, tỉnh Đng Tháp cấp lại cho ông Huỳnh Kim H3 vào ngày
09/11/2010, số vào số cấp GCN: BC 384568 cùng nhà ở: Nhà ở riêng lẻ, diện
tích xây dựng 92,19m², cấp hạng nhà cấp 4, số tầng 01, nhà xây dựng năm 1999
và thửa đất số 6938, tờ bản đ số 8, diện tích 185,70m², loại đất trng lúa nước,
đất do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đng Tháp cấp cho ông Huỳnh Kim
H3 vào ngày 09/11/2010, số vào số cấp GCN: BC 384569.
Sau khi ông H3 đi đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mang nhà
và đất của hai thửa đất nêu trên làm hợp đng tặng cho ông Huỳnh Thanh N vào
ngày 12/11/2010. Việc xác lập hợp đng tặng cho trong thời kỳ hôn nhân vợ
chng, trong thời kỳ tài sản chung vợ chng, trong thời kỳ nhiều người cùng
quản l và sử dụng chung tài sản mà không hay biết. Bà Lưu Thị T4 hoàn toàn
không hay biết và đặc biệt là hộ gia đình các con cũng không hay biết.
Đến ngày 06/12/2010 ông N được Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đng
Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà tại thửa số 6937 và
ngày 27/11/2010 ông N được Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đng Tháp cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất thửa đất số 6938.
Phần đất do hộ gia đình ông H3 và bà T4 cùng tất cả các con và cháu cùng
sinh sống, cùng quản l sử dụng chung, việc cho tặng không giao nhận tài sản và
trong hộ không ai hay biết. Sau khi ông N được đứng tên hai giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì ông N tiếp tục làm hợp đng tặng cho quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất hai thửa đất nêu trên cho ông B vào ngày 29/9/2020,
tặng cho không giao tài sản và cũng không ai hay biết.
Ông L1, bà D, bà M1, ông V, bà T2 xác nhận tài sản nhà và đất nêu trên là
của chung cha mẹ và hộ gia đình. Việc xác lập hợp đng tặng cho giữa các bên
không đảm bảo pháp l, vi phạm tài sản chung vợ chng, vi phạm vào tài sản
chung hộ gia đình đang quản l sử dụng, vi phạm vào việc giao nhận tài sản khi
giao dịch, vi phạm vào việc trực tiếp quản l sử dụng. Hiện nay trong căn nhà
tranh chấp vẫn còn nhiều bàn thờ tổ tiên và nhiều người đang trực tiếp quản l
sử dụng sinh sống gm: Huỳnh Quang M, Huỳnh Thị Thu L, Huỳnh Thanh V và
các anh em cùng quản l.
Nay ông L1, bà D, bà M1, ông V và bà T2 yêu cầu Tòa án:
Tuyên bố hợp đng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
giữa ông Huỳnh Kim H3 và ông Huỳnh Thanh N ngày 12/11/2010 tại thửa số
6937 và thửa số 6938 cùng tờ bản đ số 8, tọa lạc Phường F, thành phố C, tỉnh
Đng Tháp và hợp đng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
9
giữa ông Huỳnh Thanh N và ông Huỳnh Thanh B đối với hai thửa đất trên ngày
29/9/2020 là giao dịch vô hiệu.
Huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo hợp đng tặng
cho và huỷ các hợp đng công chứng gm: Hợp đng công chứng ngày
12/11/2010 của Văn phòng C5 số công chứng: 8333/SCC, quyển số 10 TP/CC-
SCC/HĐGD; Hợp đng công chứng ngày 29/9/2020 của Văn phòng C1 số công
chứng: 5879/SCC, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD. Sau khi tuyên bố các hợp
đng tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là vô hiệu và huỷ các
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì yêu cầu hàng thừa kế thứ nhất của ông
H3 và bà T4 được đng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn
liền với đất, được đng quản l và đng sử dụng chung gm có Huỳnh Tấn L1,
Huỳnh Thị D, Huỳnh Thị Tuyết M1, Huỳnh Thanh N, Huỳnh Thanh V, Huỳnh
Kim Bé T2, Huỳnh Thanh B. Hiện tại ông L1, bà D, bà M1, ông V, bà T2 đng
ý cho Huỳnh Thị Thu L và Huỳnh Quang M tiếp tục được sử dụng tài sản nêu
trên. Khi các hợp đng vô hiệu ông L1, bà D, bà M1, ông V và bà T2 không yêu
cầu giải quyết hậu quả của các hợp đng vô hiệu.
Đối với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
họ chưa biết cụ thể về ngun gốc đất, tài sản gắn liền với đất là của hộ gia đình
ông H3, bà T4 và các con nên việc cơ quan chính quyền xác lập h sơ tặng cho,
h sơ chuyển nhượng là chưa đúng. Đối với các văn phòng công chứng công
chứng các hợp đng tặng cho và các hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất là sai với quy định nên các hợp đng công chứng
của các văn phòng công chứng vô hiệu.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Thanh
V, chị Huỳnh Thị Thu L, ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Kim
Bé T2, bà Huỳnh Thị Tuyết M1 trình bày: Phần đất đang tranh chấp là tài sản
của vợ chng ông H3 và bà T4 để lại, là tài sản của hộ ông H3 và 07 người con
gm: Huỳnh Tấn L1, Huỳnh Thị D, Huỳnh Thị Tuyết M1, Huỳnh Thanh N,
Huỳnh Thanh V, Huỳnh Kim Bé T2, Huỳnh Thanh B và cam kết không còn ai
khác trong hộ được cấp đất và những người thừa kế thứ nhất của ông H3 và bà
T4.
Sau khi xem xét lại h sơ ông L1, bà D, bà M1, ông V và bà T2 xác định:
Đối với thửa 6938, có diện tích 185,7m² nhưng chỉ tranh chấp diện tích 178,7m
2
(diện tích đo đạc 178,2m
2
) thuộc thửa 8974 (được tách ra từ thửa 6938) tờ bản
đ số 8 (không tranh chấp diện tích 38,6m
2
thuộc thửa 8973). Do đó ông L1, bà
D, bà M1, ông V và bà Thủ rút một phần yêu cầu khởi kiện, đối với yêu cầu
tuyên bố vô hiệu hợp đng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
giữa ông H3 và ông N ngày 12/11/2010, tại thửa 6938, tờ bản đ số 8, đối với
phần đất có diện tích 38,6m
2
(thuộc thửa 8973) đất tọa lạc Phường F, thành phố
C, tỉnh Đng Tháp.
10
Hiện tại phần nhà và đất nêu trên các anh em cùng quản l, ông V cùng với
anh M và chị L đang sinh sống, ngoài ra ông V còn có nhà khác gần đó. Ông L1,
bà D, bà M1, ông V và bà T2 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đng tặng cho quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông H3 và ông N ngày 12/11/2010,
tại thửa 6937, tờ bản đ số 8, diện tích 123,0m² đất tọa lạc Phường F, thành phố
C là vô hiệu; Yêu cầu Tòa án tuyên bố một phần hợp đng tặng cho quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông H3 và ông N ngày 12/11/2010, tại
thửa 6938, tờ bản đ số 8, có diện tích 178,7m
2
(tương ứng thửa 8974) đất tọa
lạc Phường F, thành phố C là vô hiệu.
Ông L1, bà D, bà M1, ông V và bà T2 không yêu cầu giải quyết hậu quả
hợp đng vô hiệu.
Ông L1, bà D, bà M1, ông V và bà T2 thống nhất với biên bản xem xét
thẩm định, thống nhất sơ đ đo đạc, thống nhất giá do Hội đng định giá đã định
theo giá Nhà nước, đối với giá bà T cung cấp giá thị trường phần đất tranh chấp
ông L1, bà D, bà M1, ông V, bà T2 không đng và cũng không cung cấp giá
thị trường nào khác. Đối với phần đất mương lộ nằm ngoài giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tại thửa 8495 có diện tích 44m
2
trong phạm vi các mốc 1, B3,
A, B, C, D, 7, 1 thì không tranh chấp.
Ông L1, bà D, bà M1, ông V và bà T2 thống nhất yêu cầu khởi kiện của
ông B, không đng yêu cầu khởi kiện của bà T và ông K vì nhà, đất hiện nay
vẫn do các con của ông H3 và bà T4 quản l, sử dụng.
Ngưi có quyn li, ngha v liên quan ông Huỳnh Thanh N có ngưi
đại diện theo ủy quyn trình bày:
Ông N thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn và những người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan, đối với phần đất thửa 6938, khi được ông H3 tặng cho có
diện tích 185,7m
2
, sau khi đổi thửa thành thửa 8974, tờ bản đ số 8 có diện tích
178,7m
2
, do các đương sự không tranh chấp phần diện tích đất chêch lệch nên
người đại diện cũng không có hỏi ông N về phần diện tích tách thửa dư ra, ông
N cũng không có kiến tranh chấp và thống nhất chỉ tranh chấp thửa mới là thửa
8974, tờ bản đ số 8 có diện tích 178,7m
2
. Khi ông H3 tặng cho ông N thì các
anh em trong gia đình không ai hay biết và khi ông N tặng cho B cũng không ai
biết, tuy nhiên phần đất hiện nay vẫn do các con ông H3 đang quản l sử dụng.
Ông N thống nhất với biên bản xem xét thẩm định, thống nhất sơ đ đo
đạc, thống nhất giá do Hội đng định giá đã định theo giá Nhà nước, đối với bà
T cung cấp giá thị trường phần đất tranh chấp ông N không đng và cũng không
cung cấp giá thị trường nào khác. Đối với phần đất mương lộ nằm ngoài giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 8495 có diện tích 44m
2
trong phạm vi các
mốc 1, B3, A, B, C, D, 7, 1 thì ông N không tranh chấp.
11
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết v án tại cấp sơ thẩm bị đơn bà
Lê Nguyễn Thanh T và ngưi có quyn li ngha v liên quan ông Trần Văn
K có yêu cầu khởi kiện như sau:
Bà Lê Nguyễn Thanh T và ông Trần Văn K là vợ chng, trong thời gian
chung sống có tạo lập được căn nhà và 02 phần đất gm: Phần đất diện tích
123,0m
2
, thuộc thửa số 6937, tờ bản đ số 8 và căn nhà cấp IV, loại nhà ở riêng
lẻ, diện tích xây dựng 92,2m
2
, diện tích sàn 92,2m
2
gắn liền với phần đất cùng
tọa lạc tại Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 206613, số vào sổ
cấp GCN: CS07568 cho bà Lê Nguyễn Thanh T vào ngày 18/11/2021 và phần
đất diện tích 178,7m
2
, thuộc thửa 8974, tờ bản đ số 8, tọa lạc tại Phường F,
thành phố C, tỉnh Đng Tháp được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 206612, số vào sổ cấp GCN: CS07567 cho
bà Lê Nguyễn Thanh T vào ngày 18/11/2021.
Ngày 09/12/2021, bà T và ông K có cho ông B thuê toàn bộ phần nhà và
đất nêu trên, hai bên có lập hợp đng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất được công chứng chứng nhận số 3530, quyển số 05/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD. Theo đó, nội dung hợp đng thể hiện bà T và ông K cho ông B thuê
hai phần đất, bao gm: Phần diện tích đất 123,0m
2
thửa số 6937, tờ bản đ số 8
tọa lạc tại Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp và căn nhà cấp IV, loại nhà ở
riêng lẻ, diện tích xây dựng 92,2m
2
, diện tích sàn 92,2m
2
gắn liền với phần đất
nêu trên và phần đất diện tích 178,7m
2
, thửa số 8974, tờ bản đ số 8 với giá
10.000.000 đng/tháng, mục đích thuê là sử dụng làm nơi để ở, phương thức
thanh toán vào ngày 01 tây mỗi tháng, thời hạn thuê là 18 tháng (từ ngày
09/12/2021 đến ngày 09/6/2023).
Sau khi thuê nhà, ông B có thanh toán tiền thuê cho bà T và ông K được
03 tháng đầu tiên (từ tháng 12/2021 đến tháng 3/2022). Tuy nhiên, kể từ tháng
thứ 4 (tháng 4/2022) cho đến nay thì ông B không còn thanh toán cho bà T và
ông K nữa. Bà T và ông K nhiều lần yêu cầu ông B di dời toàn bộ tài sản của ông
B ra khỏi căn nhà và yêu cầu ông B thanh toán phần tiền thuê còn lại là 17 tháng
(tạm tính từ tháng 4/2022 đến tháng 8/2023) nhưng ông B cố tình tránh né không
thực hiện và vẫn tiếp tục ở trong căn nhà của bà T và ông K mặc dù đã hết hạn
hợp đng thuê.
Do đó, nay bà T và ông K yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông B, Huỳnh Quang M (ông Huỳnh Thanh B là đại diện theo pháp
luật), chị Huỳnh Thị Thu L và ông Huỳnh Thanh V di dời toàn bộ đ đạc để trả
lại cho bà T và ông K phần diện tích 123,0m
2
, thuộc thửa đất số 6937 và căn nhà
cấp IV, loại nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 92,2m
2
và phần đất diện tích
178,7m
2
, thuộc thửa đất số 8974, cùng tờ bản đ số 8 tọa lạc tại Phường F, thành
phố C, tỉnh Đng Tháp.
12
Buộc ông Huỳnh Thanh B thanh toán cho bà T và ông K 17 tháng tiền thuê
nhà với số tiền 10.000.000 đng/tháng là 170.000.000 đng. Đng thời yêu cầu
tính tiền thuê nhà mỗi tháng 10.000.000 đng từ tháng 9/2023 đến khi di dời đ
đạc ra khỏi nhà và đất.
Bà T và ông K không đng với yêu cầu yêu cầu khởi kiện của ông B. Do
bà T có phần đất liền kề với đất của ông B, khoảng tháng 10/2020 ông B liên hệ
với bà T và hỏi bà T có nhu cầu chuyển nhượng toàn bộ diện tích nhà và đất nêu
trên hay không vì hiện nay ông B có nhu cầu chuyển nhượng toàn bộ diện tích
nhà và đất nêu trên. Ông B có trao đổi về giá chuyển nhượng và bà T cũng thống
nhất nên đng nhận chuyển nhượng với giá chuyển nhượng không phải là
500.000.000 đng như ông B trình bày.
Sau khi k hợp đng chuyển nhượng thì ngày 20/10/2020 bà T được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa CY 468786, số vào sổ cấp GCN:
CS05040 đối với phần đất diện tích 123,0m
2
, thuộc thửa đất số 6937, tờ bản đ
số 8 và căn nhà cấp IV, loại nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 92,2m
2
, cùng tọa
lạc tại Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp và giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có số bìa CY 468787, số vào sổ cấp GCN: CS05041 đối với phần đất
diện tích 178,7m
2
, thuộc thửa đất số 8974, tờ bản đ số 8 tọa lạc tại Phường F,
thành phố C, tỉnh Đng Tháp.
Sau đó, bà T chuyển nhượng lại cho anh Nguyễn Phước L2 và anh Nguyễn
Tú T3 toàn bộ diện tích nhà, đất nêu trên. Đến ngày 21/7/2021 anh T5 và anh L2
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng 03 tháng kể từ ngày được
cấp giấy chứng nhận anh L2 và anh T5 có nhu cầu chuyển nhượng. Lúc đó, bà T
nhận thấy giá trị đất vẫn còn khả năng tăng nên bà T đng nhận chuyển nhượng
lại. Đến ngày 18/11/2021, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
DC 206613, số vào sổ cấp GCN: CS07568 đối với phần đất diện tích 123,0m
2
,
thuộc thửa đất số 6937, tờ bản đ số 8 và căn nhà cấp IV, loại nhà ở riêng lẻ,
diện tích xây dựng 92,2m
2
gắn liền với phần đất nêu trên và giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số DC 206612, số vào sổ cấp GCN: CS07567 đối với phần
đất diện tích 178,7m
2
, thuộc thửa đất số 8974, tờ bản đ số 8, tất cả cùng tọa lạc
tại Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp.
Sau khi bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà và
đất nêu trên thì bà T có cho ông B thuê lại toàn bộ diện tích nhà và đất nêu trên
với giá 10.000.000 đng/tháng, thời hạn thuê là 18 tháng. Hai bên có lập hợp
đng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được Công chứng viên
Phạm Lê Hạ U thuộc Văn phòng C3 chứng nhận số 3530, quyển số 05/2021
TP/CC-SCC/HĐGD. Do đó, yêu cầu Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông B.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà T và ông K
trình bày: Bà T và ông K không đng yêu cầu khởi kiện của ông B và những
13
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp có căn cứ tuyên bố các hợp
đng vô hiệu, bà T và ông K không yêu cầu giải quyết hậu quả của các hợp đng
vô hiệu, nếu có yêu cầu bà T và ông K sẽ khởi kiện thành vụ án khác, bà T và
ông K không đng nhận số tiền 500.000.000 đng từ ông B vì đây không phải
là tiền vay, nếu ông B xác định đây là tiền vay thì ông B phải cung cấp được tài
liệu, chứng minh và ông B có đóng lãi cho bà T.
Mặc dù, số tiền chuyển nhượng trong hợp đng ghi là 500.000.000 đng
nhưng thực tế số tiền chuyển nhượng ông B nhận của bà T và ông K là
3.500.000.000 đng. Bà T và ông K đã cung cấp tất cả biên nhận bản chính do
ông B tự ghi nhận số tiền là 3.000.000.000 đng cùng số tiền 500.000.000 đng
ông B nhận khi k hợp đng chuyển nhượng là tổng cộng 3.500.000.000 đng.
Bà T và ông K cũng cung cấp biên nhận bản chính thể hiện bà T và ông K
đã giao cho ông T3 và ông L2 số tiền 6.000.000.000 đng để chuyển nhượng lại
nhà và đất của hai thửa đất nêu trên và đề nghị Hội đng xét xử lưu tất cả biên
nhận bản chính vào h sơ vụ án để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Bà T và ông K vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông B, Huỳnh Quang M
(ông B là đại diện theo pháp luật), chị L và ông V di dời đi nơi khác để trả lại
cho bà T và ông K phần nhà và đất tại thửa 6937 và thửa 8974 cùng tờ bản đ số
8 tọa lạc tại Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp. Yêu cầu ông B thanh toán
cho bà T và ông K tiền thuê nhà mỗi tháng 10.000.000 đng, tính từ tháng 4/2022
đến tháng 6/2025 là 38 tháng, số tiền 380.000.000 đng và không yêu cầu gì
thêm về số tiền thuê nhà. Bà T và ông K đng cho ông B, ông V và các con
ông B được lưu cư 01 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà T và ông K thống nhất với biên bản xem xét thẩm định, thống nhất sơ
đ đo đạc, không thống nhất giá do Hội đng định giá đã định theo giá Nhà nước
vì không đúng giá trị phần nhà đất tranh chấp nên bà T đã cung cấp chứng thư
thẩm định giá theo giá thị trường cho Tòa án xem xét. Đối với phần đất mương
lộ nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 8495 có diện tích 44m
2
trong phạm vi các mốc 1, B3, A, B, C, D, 7, 1 thì bà T và ông K không tranh
chấp, yêu cầu gì liên quan đến phần đất này.
Bà T, ông K cam kết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính tại thửa
6937 và 8974 do bà T và ông K đang quản l. Bà T và ông K cam kết không có
cầm cố, thế chấp cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khác.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 96/2025/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Tòa án nhân dân
khu vực 6 – Đồng Tháp) (viết tắt bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh
B.
14
2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị
D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V và bà Huỳnh Kim Bé T2.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu của ông L1, bà D, bà M1, ông V và bà T2
đối với yêu cầu tuyên bố vô hiệu một phần Hợp đng tặng cho quyền sử dụng
đất ngày 12/11/2010 giữa ông H3 và ông N đối với phần đất diện tích 38,6m
2
thuộc một phần thửa 6938 (tương ứng 8973), tờ bản đ số 8, đất tọa lạc Phường
F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp.
4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Nguyễn Thanh T và ông Trần
Văn K.
4.1. Buộc ông Huỳnh Thanh B thanh toán tiền thuê nhà cho bà T và ông
K số tiền 380.000.000 đng (Ba trăm tám mươi triệu đng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4.2. Buộc ông Huỳnh Thanh B, Huỳnh Quang M (do ông Huỳnh Thanh B
là người đại diện theo pháp luật), chị Huỳnh Thị Thu L và ông Huỳnh Thanh V
phải di dời đi nơi khác trả lại nhà và đất cho bà Lê Nguyễn Thanh T và ông Trần
Văn K tại phần đất thửa 6937 và thửa 8974, cùng tờ bản đ số 8, tọa lạc tại
Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp đã được Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đ cấp cho bà Lê Nguyễn Thanh T cùng ngày 18/11/2021.
Ông Huỳnh Thanh B, Huỳnh Quang M (do ông Huỳnh Thanh B là người
đại diện theo pháp luật), chị Huỳnh Thị Thu L và ông Huỳnh Thanh V được lưu
cư tại phần nhà và đất thuộc thửa 6937 và thửa 8974, cùng tờ đ số 8, tọa lạc tại
Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp trong thời hạn một tháng kể từ ngày bản
án có hiệu lực pháp luật.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Thanh B phải chịu án phí dân sự
sơ thẩm số tiền 19.000.000 đng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 600.000 đng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000275
ngày 12/01/2024 và số 0009786 ngày 27/5/2024. Ông Huỳnh Thanh B còn phải
nộp tiếp số tiền 18.400.000 đng.
Do ông Huỳnh Tấn L1 và bà Huỳnh Kim Bé T2 là người cao tuổi và đơn
xin miễn án phí nên ông L1 và bà T2 được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy
định.
Bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1 và ông Huỳnh Thanh V mỗi
người phải chịu án dân sự sơ thẩm 300.000 đng nhưng được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí bà D, ông V và bà M1 đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
15
phí Tòa án số 0009789, 0009788, 0009787 cùng ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp. Bà D, ông V và bà M1 đã
nộp xong án phí.
Bà Lê Nguyễn Thanh T và ông Trần Văn K được nhận lại số tiền tạm ứng
án phí đã nộp 4.850.000 đng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0000108 ngày 30/11/2023 và số 0000189 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp.
6. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc định giá
tổng số tiền 7.647.000 đng.
Buộc ông Huỳnh Thanh B trả lại cho bà Lê Nguyễn Thanh T và ông Trần
Văn K số tiền 2.623.500 đng.
Ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh
Thanh V và bà Huỳnh Kim Bé T2 liên đới trả lại cho bà Lê Nguyễn Thanh T và
ông Trần Văn K số tiền 3.823.500 đng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền,
nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Ông Huỳnh Thanh B là nguyên đơn, ông Huỳnh
Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V, bà
Huỳnh Kim Bé T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thống nhất
bản án sơ thẩm, nên đã kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết như sau:
- Nguyên đơn ông Huỳnh Thanh B yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét
sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Huỳnh Thanh B và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bị đơn bà Lê Nguyễn
Thanh T và ông Trần Văn K.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị
D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh Kim Bé T2 yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu
độc lập của ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông
Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh Kim Bé T2.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Đỗ H là người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Thanh B trình
bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đng xét xử sửa bản án sơ
thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bị đơn. Bởi, hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông và bà T là hợp đng vô hiệu do giả tạo che giấu hợp đng vay
500.000.000 đng, ông B đng trả lại cho bà T số tiền đã vay 500.000.000
đng.
16
- Ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh
Thanh V, bà Huỳnh Kim Bé T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử
vắng mặt thể hiện: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đng xét xử
sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bị đơn. Bởi, phần đất tranh chấp do hộ gia đình ông H3, bà T3
và tất cả các con, cháu cùng sinh sống, quản l và sử dụng chung.
- Ông Phạm Hoàng Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Nguyễn
Thanh T trình bày: Không đng kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan, đề nghị Hội đng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Trường T1 là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần
Văn K trình bày: Không đng kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, đề nghị Hội đng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp phát biểu kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn phúc thẩm: Thủ tục kháng cáo của ông Huỳnh Thanh B, ông Huỳnh Tấn
L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh
Kim Bé T2 thực hiện đúng và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đng xét xử và Thư k phiên tòa
kể từ khi thụ l vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện
đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng
đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản
1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh
Thanh B là nguyên đơn, ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị
Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh Kim Bé T2 là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 96/2025/DS-ST ngày
18 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp
(Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đng Tháp).
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm ngày
23/12/2025).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp (Tòa
án nhân dân khu vực 6 – Đng Tháp) thụ l và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn
17
liền với đất” là đúng quy định tại khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và
điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm
quyền của Tòa án. Việc nguyên đơn ông Huỳnh Thanh B và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1,
ông Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh Kim Bé T2 nộp đơn kháng cáo ngày 27/6/2025
là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự,
nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Huỳnh Thị Thu L, anh Nguyễn Tú T3, bà
Nguyễn Thị M2, anh Nguyễn Phước L2, chị Đặng Thị Mộng H1, Văn phòng C2,
Phòng C4 tỉnh Đng Tháp vắng mặt không l do và ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh
Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh Kim Bé T2, Văn
phòng C3, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Đng Tháp, Sở Nông nghiệp
và Môi trường tỉnh Đ vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của ông Huỳnh Thanh B yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của bị đơn và kháng cáo của ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà
Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh Kim Bé T2 yêu cầu sửa
bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu
cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bị đơn.
Hội đng xét xử xét thấy:
Các đương sự thống nhất xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa 6937, tờ
bản đ số 8, diện tích 123m
2
(đo đạc thực tế diện tích 123m
2
) trong phạm vi các
mốc 6-E-F-5-6 và phần đất tranh chấp thuộc thửa 8974, tờ bản đ số 8, diện tích
178,7m
2
(đo đạc thực tế diện tích 178,2m
2
) trong phạm vi các mốc 7-D-C-2-G1-
3-4-5-F-E-6-7 theo Sơ đ đo đạc ngày 23/4/2025 và ngày 08/5/2025 của Chi
nhánh Văn phòng đăng k đất đai thành phố C. Trên đất có căn nhà cấp 4 và các
công trình phụ tọa lạc tại Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp.
Ông Huỳnh Kim H3 (sinh năm 1931, chết ngày 23/01/2022) và bà Lưu Thị
T4 (sinh năm 1935, chết ngày 01/01/2022) chung sống với nhau có 07 người con:
Huỳnh Tấn L1, Huỳnh Thị D, Huỳnh Thị Tuyết M1, Huỳnh Thanh N, Huỳnh
Thanh V, Huỳnh Kim Bé T2, Huỳnh Thanh B. Ngoài ra, không có con nuôi, con
riêng nào khác.
Theo h sơ thể hiện ông Huỳnh Kim H3 được Ủy ban nhân dân (UBND)
thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất ngày 06/10/1998 gm 06
thửa: 367, 328, 329, 330, 331, 2366. Ngày 06/5/2004, UBND thị xã C ban hành
Quyết định số 825/QĐ.UB về việc thu hi giấy chứng nhận QSD đất của ông H3,
18
do việc đo đạc lập lại bản đ địa chính chính thức và cấp đổi giấy chứng nhận
QSD đất mới thay thế như sau: Thửa 581, diện tích 5.001,5m
2
, đất lúa; Thửa 539,
diện tích 3.176,2m
2
, đất lúa; Thửa 519 gm diện tích 123m
2
, đất T và diện tích
185,7m
2
, đất LN.
Ngày 11/11/2004, ông H3 thực hiện hợp đng chuyển nhượng QSD đất
cho ông Huỳnh Thanh B tại thửa 519 nêu trên. Đến ngày 27/01/2005 ông B được
UBND thị xã C cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa 519, tờ bản đ số 8,
diện tích 308,7m
2
gm 123m
2
đất ở đô thị và 185,7m
2
đất trng lúa. Ngày
25/6/2008, ông B được UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà ở tại địa chỉ số C, đường P, Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp.
Ngày 14/10/2010, ông B thực hiện hợp đng tặng cho QSD đất và tài sản
gắn liền với đất cho ông H3 tại thửa đất 519. Ông H3 làm đơn xin tách thửa 519
thành 02 thửa mới 6937 và 6938. Ngày 09/11/2010, ông H3 được UBND thành
phố C cấp giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất tại thửa đất 6937, tờ bản đ số 8, diện tích 123m
2
đất ở tại đô thị và tài
sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 4 và thửa 6938, tờ bản đ số 8, diện tích
185,7m
2
đất trng lúa.
Ngày 12/11/2010, ông H3 thực hiện hợp đng tặng cho QSD đất và tài sản
gắn liền với đất cho ông Huỳnh Thanh N tại thửa 6937 và căn nhà gắn liền trên
đất; Cùng ngày 12/11/2010, ông H3 thực hiện hợp đng tặng cho QSD đất cho
ông N tại thửa 6938. Ngày 27/11/2010, ông N được UBND thành phố C cấp giấy
chứng nhận QSD đất tại thửa 6938. Đến ngày 06/12/2010, ông N được UBND
thành phố C cấp giấy chứng nhận QSD đất tại thửa 6937 và tài sản gắn liền với
đất.
Ngày 06/02/2015, ông N làm thủ tục tách thửa 6938 thành thửa 8974, diện
tích 178,7m
2
(thửa đất tranh chấp) và thửa 8973 có diện tích 38,6m
2
để chuyển
quyền cho bà T hợp thửa 6152 thành thửa 8975 (thửa giáp ranh đất tranh chấp).
Đến ngày 27/02/2015, ông N được UBND thành thành phố C cấp giấy chứng
nhận QSD đất thửa 8974.
Ngày 29/9/2020, ông N thực hiện hợp đng tặng cho QSD đất và nhà tại
thửa 6937 và đất thửa 8974 cho ông Huỳnh Thanh B. Đến ngày 20/10/2020, ông
B được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất 02 thửa đất nêu trên.
Ngày 20/10/2020, ông B thực hiện hợp đng chuyển nhượng QSD đất và
tài sản gắn liền với đất tại thửa 6937 và căn nhà cấp 4 trên đất và thửa 8974 cho
bà Lê Nguyễn Thanh T, giá ghi trong hợp đng 500.000.000 đng, phương thức
thanh toán: Tự thỏa thuận. Đến ngày 20/11/2020 bà T được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất 02 thửa đất nêu trên.
19
Ngày 29/6/2021, bà T và ông Trần Văn K thực hiện hợp đng chuyển
nhượng QSD đất tại thửa 8974, giá ghi trong hợp đng 700.000.000 đng và hợp
đng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 6937 và căn
nhà trên đất, giá ghi trong hợp đng 1.300.000.000 đng cho anh Nguyễn Phước
L2 và anh Nguyễn Tú T3. Đến ngày 21/7/2021, anh T3 và anh L2 được Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền với đất 02 thửa đất nêu trên.
Ngày 26/10/2021, anh Nguyễn Tú T3, chị Lê Thị Kim C cùng với anh
Nguyễn Phước L2, chị Đặng Thị Mộng H1 thực hiện hợp đng chuyển nhượng
QSD đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 8974 và thửa 6937 và căn nhà gắn
liền với đất cho bà T, giá ghi trong hợp đng 6.000.000.000 đng. Đến ngày
18/11/2021 bà T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận
QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất 02 thửa đất nêu trên.
Ông B cho rằng các hợp đng trên là giả tạo nhằm che giấu hợp đng vay
tài sản của ông B, vì ông B có vay của bà T số tiền 500.000.000 đng. Lời trình
bày của ông B không được bà T thừa nhận và ông B không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và các giao
dịch chuyển nhượng nêu trên là nhằm mục đích đảm bảo cho việc vay tiền. Bà T
cho rằng giá trị nhận chuyển nhượng là 3.500.000.000 đng, khi k hợp đng
chuyển nhượng đã giao cho ông B 500.000.000 đng và cung cấp thêm 04 bản
chính biên nhận như sau: Biên nhận ngày 02/11/2020 số tiền 1.500.000.000
đng; Biên nhận ngày 13/01/2021 số tiền 500.000.000 đng; Biên nhận ngày
01/02/2021 số tiền 500.000.000 đng; Biên nhận ngày 22/02/2021 số tiền
500.000.000 đng.
Xét, các hợp đng đều được công chứng, chứng thực theo quy định pháp
luật, về nội dung thể hiện cụ thể trong hợp đng, khi giao kết hợp đng các bên
đều có đủ năng lực hành vi dân sự, k kết hợp đng trên tinh thần hoàn toàn tự
nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, đe dọa, không vi phạm đạo đức xã hội. Được
Công chứng viên giải thích quyền và nghĩa vụ cho các bên khi giao kết hợp đng
và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp các giấy tờ đã cung cấp
liên quan đến việc giao kết hợp đng và mục đích, nội dung không vi phạm pháp
luật, không trái đạo đức xã hội. Như vậy, các hợp đng có đầy đủ các điều kiện
có hiệu lực của hợp đng theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự.
Ngày 09/12/2021, ông B xác lập hợp đng thuê quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất với bà T, ông K đối với thửa đất 8974 và thửa 6937 và căn
nhà cấp 4 gắn liền với đất, thời hạn thuê 18 tháng, giá 10.000.000 đng/tháng,
thanh toán bằng tiền mặt vào ngày 01 tây mỗi tháng. Hợp đng được Văn phòng
C3, chứng thực. Bà T, ông K cho rằng ông B đã đóng tiền thuê nhà đến tháng
3/2022, từ tháng 4/2022 đến này không có đóng.
20
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của ông B cho rằng việc chuyển
nhượng chỉ thực hiện trên giấy tờ, nhà và đất vẫn do các con của ông B đang sinh
sống. Ông L2, bà D, bà M1, ông V và bà T2 cho rằng phần nhà và đất tại thửa
6937 và thửa 8974 là tài sản chung vợ chng ông H3 và bà T3, việc ông H3 tự
tặng cho ông N, ông N tặng cho ông B tài sản hộ gia đình là không đúng quy
định. Vi phạm tài sản chung vợ chng, vi phạm vào tài sản chung hộ gia đình
đang quản l sử dụng, vi phạm vào việc giao nhận tài sản khi giao dịch, vi phạm
vào việc trực tiếp quản l sử dụng. Hiện nay người đang trực tiếp quản l sử
dụng sinh sống gm: Huỳnh Quang M, Huỳnh Thị Thu L, Huỳnh Thanh V và cả
các anh em cùng quản l.
Tại Kết quả xác minh số 853/CAP ngày 27/12/2023 của Công an P1 xác
nhận ông B có đăng k hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số C, đường P, tổ C, Khóm
D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp, trong hộ ông B chỉ có 01 thành viên
ông B là chủ hộ, hiện tại ông B không có sinh sống tại địa chỉ trên đi đâu làm gì
không rõ từ tháng 4/2023.
Đối với chị Huỳnh Thị Thu L (con ông B) không có đăng k hộ khẩu
thường trú tại tổ C, Khóm D, Phường F, thành phố C mà đăng k hộ khẩu thường
trú tại tổ B, Khóm B, Phường F, thành phố C chung hộ với bà Nguyễn Thị P (là
chủ hộ). Đối với Huỳnh Quang M không có chung hộ khẩu với ông B mà đăng
k chung hộ khẩu với ông Huỳnh Thanh V (là chủ hộ) tại tổ C, Khóm D, Phường
F, thành phố C. Hiện căn nhà số C, đường P, tổ C, Khóm D, Phường F, thành
phố C có 02 nhân khẩu đang sinh sống là Huỳnh Quang M và chị Huỳnh Thị Thu
L.
Theo h sơ thể hiện từ năm 2004 đến năm 2021 ông H3 và bà T3 vẫn còn
sống, nhà và đất thuộc thửa 6937 và thửa 8974 nhiều lần đăng k thế chấp, thực
hiện hợp đng tặng cho, chuyển nhượng qua nhiều cá nhân nhưng ông H3, bà T3
và các anh em trong gia đình cũng không ai tranh chấp. Đng thời, các anh em
của ông B cũng không có sinh sống tại phần đất và nhà tại số C, đường P, Phường
F, thành phố C. Theo kiến ông N và bà D trong quá trình giải quyết vụ án, thể
hiện khi ông H3 và bà T3 còn sống các anh em đã được cha mẹ cho đất nên các
anh em không tranh chấp yêu cầu chia thừa kế.
Vì vậy, ông L2, ông V, bà D, bà T2, bà M1 cho rằng đang cùng quản l,
sử dụng căn nhà và đất tại thửa 6937 và thửa 8974 là không có căn cứ và không
đúng với thực tế.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông B có đơn yêu cầu tiến hành đo đạc, thẩm định
tài sản tranh chấp đề ngày 09/12/2025. Xét thấy, yêu cầu của ông B là không có
cơ sở chấp nhận, bởi tại Biên bản phiên tòa ngày 21/5/2025, người đại diện theo
ủy quyền của ông B thống nhất biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, sơ đ đo đạc,
thống nhất giá do Hội đng định giá đã định theo giá Nhà nước, không thống
21
nhất giá thị trường do bà T cung cấp và ông B không cung cấp giá thị trường nào
khác để Hội đng xét xử xem xét (trang 8).
Từ những phân tích nêu trên, Hội đng xét xử xét thấy việc Tòa án sơ thẩm
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, không chấp nhận yêu cầu độc lập
của ông L2, bà D, bà M1, ông V, bà T2, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T,
ông K là có căn cứ chấp nhận.
[3] Tại phiên tòa người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Hội
đng xét xử xét thấy, trình bày của người kháng cáo là không có đủ căn cứ, đng
thời người kháng cáo cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh
cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không
được Hội đng xét xử chấp nhận.
[4] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa như nêu
trên. Hội đng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp
nhận.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của ông B, ông L2, bà D, bà M1, ông V, bà T2
không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Thanh B, ông Huỳnh Tấn
L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh
Kim Bé T2.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 96/2025/DS-ST ngày 18 tháng 6
năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp (Tòa án
nhân dân khu vực 6 – Đng Tháp).
2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh
B.
2.2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh
Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V và bà Huỳnh Kim Bé T2.
2.3. Đình chỉ một phần yêu cầu của ông L1, bà D, bà M1, ông V và bà T2
đối với yêu cầu tuyên bố vô hiệu một phần Hợp đng tặng cho quyền sử dụng
đất ngày 12/11/2010 giữa ông H3 và ông N đối với phần đất diện tích 38,6m
2
thuộc một phần thửa 6938 (tương ứng 8973), tờ bản đ số 8, đất tọa lạc Phường
F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp.
22
2.4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Nguyễn Thanh T và ông Trần
Văn K.
2.4.1. Buộc ông Huỳnh Thanh B thanh toán tiền thuê nhà cho bà T và ông
K số tiền 380.000.000 đng (Ba trăm tám mươi triệu đng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2.4.2. Buộc ông Huỳnh Thanh B, Huỳnh Quang M (do ông Huỳnh Thanh
B là người đại diện theo pháp luật), chị Huỳnh Thị Thu L và ông Huỳnh Thanh
V phải di dời đi nơi khác trả lại nhà và đất cho bà Lê Nguyễn Thanh T và ông
Trần Văn K tại phần đất thửa 6937 và thửa 8974, cùng tờ bản đ số 8, tọa lạc tại
Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp đã được Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đ cấp cho bà Lê Nguyễn Thanh T cùng ngày 18/11/2021.
Ông Huỳnh Thanh B, Huỳnh Quang M (do ông Huỳnh Thanh B là người
đại diện theo pháp luật), chị Huỳnh Thị Thu L và ông Huỳnh Thanh V được lưu
cư tại phần nhà và đất thuộc thửa 6937 và thửa 8974, cùng tờ đ số 8, tọa lạc tại
Phường F, thành phố C, tỉnh Đng Tháp trong thời hạn một tháng kể từ ngày bản
án có hiệu lực pháp luật.
2.5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Thanh B phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm số tiền 19.000.000 đng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 600.000 đng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000275 ngày 12/01/2024 và số 0009786 ngày 27/5/2024. Ông Huỳnh Thanh B
còn phải nộp tiếp số tiền 18.400.000 đng.
Do ông Huỳnh Tấn L1 và bà Huỳnh Kim Bé T2 là người cao tuổi và đơn
xin miễn án phí nên ông L1 và bà T2 được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy
định.
Bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1 và ông Huỳnh Thanh V mỗi
người phải chịu án dân sự sơ thẩm 300.000 đng nhưng được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí bà D, ông V và bà M1 đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0009789, 0009788, 0009787 cùng ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp. Bà D, ông V và bà M1 đã
nộp xong án phí.
Bà Lê Nguyễn Thanh T và ông Trần Văn K được nhận lại số tiền tạm ứng
án phí đã nộp 4.850.000 đng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0000108 ngày 30/11/2023 và số 0000189 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp.
23
2.6. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc định giá
tổng số tiền 7.647.000 đng.
Buộc ông Huỳnh Thanh B trả lại cho bà Lê Nguyễn Thanh T và ông Trần
Văn K số tiền 2.623.500 đng.
Ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh
Thanh V và bà Huỳnh Kim Bé T2 liên đới trả lại cho bà Lê Nguyễn Thanh T và
ông Trần Văn K số tiền 3.823.500 đng.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Huỳnh Thanh B, ông Huỳnh Tấn L1, bà Huỳnh Thị D, bà Huỳnh Thị
Tuyết M1, ông Huỳnh Thanh V, bà Huỳnh Kim Bé T2 mỗi người phải chịu
300.000 đng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
mỗi người đã nộp là 300.000 đng, theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0003798, số 0003799 cùng ngày 27/6/2025 của Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đng Tháp (Phòng Thi hành án dân sự khu vực
6 – Đng Tháp) và số 0004103, số 0004104, số 0004105, số 0004106 cùng ngày
07/7/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đng Tháp (Thi hành án dân sự tỉnh
Đng Tháp).
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Tỉnh;
- Phòng TT, KT & THA TAND Tỉnh;
- TAND khu vực 6 – Đng Tháp;
- Phòng THADS khu vực 6 – Đng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS
(Quang)
.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng dấu)
Hứa Quang Thông
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm