Bản án số 82/2023/DS-PT ngày 29-06-2023 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, hợp đồng thuê và quản lý căn hộ, hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • 82-2023-DS-PT-BINH-DINH

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • 82-2023-DS-PT-BINH-DINH

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 82/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 82/2023/DS-PT ngày 29-06-2023 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, hợp đồng thuê và quản lý căn hộ, hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Định
Số hiệu: 82/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thu H và Công ty Cổ phần T3 tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, hợp đồng thuê và quản lý căn hộ, hợp đồng tín dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÌNH ĐỊNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 82/2023/DS-PT
Ngày: 29/6/2023
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán căn
hộ, hợp đồng thuê và quản lý căn hộ,
hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Minh Dũng.
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Thắm.
Ông Lê Văn Duy.
- Thư phiên tòa: Huỳnh Thị Phương Thủy Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 09/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm
2023 về Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, hợp đồng thuê quản căn hộ,
hợp đồng tín dụng.
Do Bản án dân sthẩm số 301/2022/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022
của Toà án nhân dân thành phố Q bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 113/2023/QĐXXPT-DS
ngày 31 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu H; Trú tại: P Tòa C Khu nhà ở và trung tâm
thương mại, phường H, quận H, TP (Khu H). (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Hoàng Minh T; trú tại: Số nhà
A đường số H, phường A, Q. G, TP (văn bản ủy quyền ngày 08/10/2020). (vắng
mặt)
- Bị đơn: Công ty Cổ phần T3; Trụ sở tại: Tầng B Tòa nhà B, số nhà B
đường C, phường D, Q. C, TP.
Đại diện theo pháp luật: Ông Tiến D, chức vụ: Tổng Giám đốc (trước đây là
bà Bùi Hải H1 Tổng giám đốc)
2
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Minh Đ - Nhân viên Công ty
Cổ phần T3 (Giấy ủy quyền số 179/GUQ-TGĐ ngày 22/6/2023 của Công ty cổ phần
T3). (có mặt))
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty Cổ phần T3, trụ sở tại: Khu S, khu D - C, xã N, thành phố Q, tỉnh
Bình Định.
Đại diện theo pháp luật: Trần Thị Kim Q, chức vụ: Giám đốc (trước đây
bà Bùi Hải H1 Giám đốc). (vắng mặt)
2. Ngân hàng TMCP P (H3), trụ sở tại: Số B B đường N, phường B, quận A,
TP.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T1, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Lâm Quang C, anh Lương Hữu B; Địa chỉ:
Tầng C số nhà A đường N, P. H, Q. T, TP (văn bản ủy quyền số 5384/2022/GUQ-
HDBANK ngày 09/9/2022). (vắng mặt).
3. Anh Nguyễn Huy T2; trú tại: P Tòa C Khu nhà trung tâm thương
mại, phường H, quận H, TP (Khu H) (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Anh Hoàng Minh T người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị
Thị Thu H, trình bày:
Hợp đồng mua bán căn hộ số 10623/2018/HĐMBCH-THECOASTALHILL
ngày 27/01/2018 giữa Công ty cổ phần T3 (bên bán sau đây viết tắt T3) và ch
Thị Thu H (bên mua) đối với căn hộ số 23, tầng 06, Z, diện tích 40m thuộc Dự
án Khu D, tại Khu K, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Giá bán căn hộ chưa bao
gồm kinh phí bảo trì phần sở hữu chung là 1.509.520.000đ (đã bao gồm VAT); chị
H đã thanh toán được 95% giá bán căn hộ với số tiền là 1.434.044.000đ. Thời điểm
bàn giao căn hộ dự kiến vào QIV năm 2018, có thể được gia hạn tối đa hai lần,
mỗi lần không được chậm quá 45 ngày, việc chậm bàn giao phải được lập tnh
văn bản gửi đến bên mua trong đó nêu rõ lý do chậm bàn giao. Đến nay, công trình
dự án này chưa hoàn thành và bên bán vẫn chưa bàn giao căn hộ cho bên mua là vi
phạm hợp đồng. Mặt khác, sau khi kết Hợp đồng, T3 đã thay đổi địa chỉ trụ sở
ghi trong hợp đồng là tầng 5 Tòa nhà FLC L T đường L, phường M, quận N, thành
phố Hà Nội sang địa chỉ tầng 29 Tòa nhà B, số nhà B đường C, phường D, quận C,
thành phố Nội; nhưng không thông báo cho nhà đầu (chị H) biết theo thỏa
thuận tại Điều 16 của Hợp đồng. Ngày 23/9/2020 chị H gửi cho T3 giấy thông báo
về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ nhưng FLC lại nêu do
trong đó có lý do khách quan là đại dịch Covid-19 để cố tình trì hoãn, né tránh giải
quyết gây thiệt hại cho chH. Nay căn cứ vào các Điều 8.2, 12.2.1, 12.2.2, 12.4.3,
15.1.3, 15.3 của Hợp đồng mua bán căn hộ số 10623 ngày 27/01/2018 và Điều 428
3
của Bộ luật Dân snăm 2015, chị H yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt hợp đồng
mua bán căn hộ yêu cầu FLC thanh toán cho chị H tổng số tiền
2.718.678.69 gồm các khoản sau: Tiền mua căn hộ đã thanh toán
1.434.044.000đ; tiền phạt vi phạm 8% tính trên giá bán căn hộ 120.761.600đ;
tiền lãi chậm bàn giao căn hộ (tạm tính từ ngày 30/3/2019 đến ngày 29/9/2022)
theo lãi suất cho vay kỳ hạn 12 tháng của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 (B1)
10%/năm là: 1.434.044.000đ x 10%/12 tháng x 150% x 42 tháng = 752.873.099đ;
tiền bồi thường thiệt hại tương ng với số tiền cho thuê căn hộ căn cứ trên giá tính
tiền thuê từ ngày 01/7/2019 đến ngày 01/7/2022 là 411.000.000đ.
Do đã thanh toán được 95% giá bán căn hộ nên chị H đã kết với Công ty
cổ phần T3 (sau đây viết tắt T3) Hợp đồng thuê quản tài sản s
1023/2018/HĐTCH-THECOASTALHILL ngày 03/4/2018 đối với tài sản hình
thành trong tương lai là căn hộ số 23 nêu trên. Giá tính tiền thuê là 1.372.290.909đ;
giá thuê trả cho bên cho thuê trong mọi trường hợp sẽ không thấp hơn 10% giá tính
tiền thuê/năm. Thực tế, chị H chưa nhận bàn giao căn hộ nhưng đã nhận tiền thuê
của T3 từ lúc Hợp đồng thuê đến ngày 01/7/2019 với số tiền 153.782.728đ;
từ đó đến nay chưa nhận được thêm khoản tiền thuê nào. Tuy nhiên, chị H không
yêu cầu đối với Hợp đồng thuê này khi Hợp đồng mua bán căn hộ chấm dứt
thì Hợp đồng thuê cũng đương nhiên chấm dứt. Cho nên, chị H không đồng ý với
yêu cầu độc lập của T3 nhưng tự nguyện hoàn trả cho T3 số tiền thuê đã nhận
153.782.728đ.
Để có tiền mua căn hộ T3, vợ chồng chị H có thế chấp căn hộ số 23 nêu trên
vay H3 số tiền tương ứng với 60% giá bán căn hộ 905.712.000đ, thời hạn vay
180 tháng (từ ngày 03/4/2018 đến ngày 03/4/2023), theo Hợp đồng tín dụng số
157/18MB/HĐTD ngày 29/3/2018. Vợ chồng chị H đã trả gốc 405.712.000đ, lãi
trong hạn 365.558.406đ, lãi quá hạn 348.244đ, tổng cộng 771.618.650đ. Đến
ngày 27/9/2022, vợ chồng chH còn nợ H3 gốc 500.000.000đ, lãi trong hạn
4.795.736đ, lãi quá hạn 2.628đ, tổng cộng 504.798.364đ. Chị H thống nhất với
các yêu cầu độc lập của H3 liên quan đến khoản vay nêu trên.
Việc FLC lấy do khách quan do ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh
Covid-19 nên chậm tiến đbàn giao không đúng thời gian bàn giao dkiến
căn hộ là Quý IV/2018 và chậm nhất là ngày 30/3/2019. Trong khi đó, đối với dịch
C2, Bộ Y ban hành Quyết định 219/QĐ-BYT ngày 29/01/2020 về việc bổ sung
bệnh viêm đường hấp cấp do chủng mới của vit C1 (nCov) gây ra vào danh
mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định tại Luật Phòng, chống bệnh
truyền nhiễm năm 2007. Đến ngày 01/02/2020, Thủ tướng Chính phủ ban nh
Quyết định số 173/QĐ-TTg về việc công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng
mới của virút C1 gây ra dịch bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam, thời điểm xảy ra
dịch là từ ngày 23/01/2020. Tối ngày 11/3/2020 (theo giờ Việt Nam), Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) đã tuyên bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 do chủng
mới của virút Corona (SARS-CoV-2) một đại dịch toàn cầu. Mãi đến ngày
01/4/2020, Thủ tướng Chính phủ mới Quyết định số 447/QĐ-TTg về việc công
bố dịch Covid-19 trên phạm vi toàn quốc, thay thế cho Quyết định số 173/QĐ-
4
TTg. Như vậy, kể từ 01/4/2020 thì Việt Nam mới chính thức công bố dịch trên
phạm vi toàn quốc.
Ngoài ra, T3 còn nêu do phải thực hiện quyết định của quan thẩm
quyền liên quan đến việc kinh doanh sản phẩm căn hộ khách sạn (condotel) đ
không chấp nhận yêu cầu chấm dứt hợp đồng bồi thường, phạt vi phạm của chị
H không sở, bởi do này không làm ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng
không đúng sự thật. Theo Điều 1.3 của Hợp đồng, mục đích sử dụng căn hộ
để kinh doanh du lịch - bên mua được sử dụng căn hộ để cho bên bán hoặc
bên thứ ba do bên bán chỉ định thuê khai thác kinh doanh phù hợp với quy định.
Ngay từ thời điểm kết hợp đồng, bên bán đã cho bên mua biết là căn hộ được
dùng vào mục đích kinh doanh du lịch. Hơn nữa, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền trên đất số CN 536342 (số
vào sổ cấp GCN: CT07540) do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp cho FLC
vào ngày 18/06/2019, thì mục đích sử dụng của diện tích đất 57.718,1m tại Khu K,
xã N, thành phố Q chỉ được sử dụng vào mục đích kinh doanh du lịch, phục vụ lưu
trú cho du khách, không hình thành đơn vị không được đăng ký hộ khẩu
thường trú. Theo Công văn s 1590/BQL-QLQHXD ngày 15/12/2017 của Ban
Quản khu kinh tế tỉnh B văn bản thông báo đến FLC về các công trình đủ
điều kiện đưa vào kinh doanh gồm 04 công trình tổ hợp nhà ở khách sạn (condotel)
T3, P, P, Park 4. Các tài liệu, chứng cứ T3 cung cấp nhằm chứng minh FLC
bị ảnh hưởng do chính sách thay đổi quan thẩm quyền đều xảy ra trước
thời điểm hợp đồng mua bán với nguyên đơn. Cho nên, do T3 nêu ra
không có cơ sở.
Bị đơn Công ty Cổ phần T3, trình bày:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do những sự kiện bất khả kháng: Do
phải thực hiện quyết định của quan thẩm quyền liên quan đến việc kinh
doanh sản phẩm căn hộ khách sạn (condotel) dẫn đến chđầu phải thay đổi kế
hoạch xây dựng, kinh doanh; đồng thời do ảnh hưởng nặng n của dịch bệnh
Covid-19 dẫn đến việc bàn giao căn hộ cho khách hàng chưa thể tiến hành theo dự
kiến. Do đó, việc chậm bàn giao căn hộ không thể căn cứ để nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng bồi thường thiệt hại. Căn cứ Điều 12.4.3 của
Hợp đồng mua bán căn hộ số 1023/2018/HĐMBCH-THECOASTALHILL ngày
27/01/2018, khoản tiền phạt 8% được tính trên giá bán căn hộ chưa bao gồm các
khoản thuế phải nộp (nếu có). Cho nên, nguyên đơn yêu cầu về khoản tiền phạt 8%
trên giá bán căn hộ đã bao gồm 10% thuế VAT, tương đương với 120.761.600đ, là
không có cơ sở.
Căn cứ Điều 15.3 của Hợp đồng mua bán ghi nhận việc tính lãi chậm bàn
giao căn hộ trong trường hợp bên mua yêu cầu chấm dứt Hợp đồng mua bán được
tính đến thời điểm chấm dứt Hợp đồng mua bán. Do ngày 23/9/2020 nguyên đơn
đã gửi Thông báo yêu cầu chấm dứt hợp đồng mua bán nên việc tính lãi chậm bàn
giao phải được tính đến thời điểm ngày 23/9/2020. Cho nên, nguyên đơn yêu cầu
tính lãi chậm bàn giao đến ngày xét xử là không phù hợp.
5
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 411.000.000đ ơng ứng với
tiền cho thuê căn hộ, đây không phải là thiệt hại thực tế, trực tiếp phát sinh từ việc
chậm bàn giao căn hộ của T3. Nguyên đơn đã Hợp đồng thuê với bên thứ ba
T3 thu tiền thuê kể từ thời điểm trước khi bàn giao căn hộ; cho nên, thiệt hại về
tiền thuê không phụ thuộc vào việc bàn giao căn hộ. Nguyên đơn yêu cầu chấm dứt
hợp đồng trái pháp luật thì phải nghĩa vụ hoàn trả tiền thuê bồi thường thiệt
hại theo yêu cầu độc lập của T3. Tập đoàn T3 luôn mong muốn được tiếp tục hợp
đồng với khách hàng, nhưng nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, T3
đồng ý thanh hợp đồng với điều kiện nguyên đơn đồng ý cho T3 hoàn trả gốc
sau 06 tháng kể từ ngày 29/9/2022 và không thanh toán các khoản tiền khác. Ngoài
ra, T3 không chấp nhận yêu cầu chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hnêu trên của
nguyên đơn và yêu cầu độc lập của H3 về xử lý kê biên phát mại tài sản thế chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần T3, trình bày:
Nguyên đơn T3 đã kết Hợp đồng thuê quản tài sản số
1023/2018/HĐTCH-THECOASTALHILL ngày 03/4/2018. Theo đó, nguyên đơn
đã đồng ý cho T3 thuê căn hộ số 23 hưởng tiền thuê từ thời điểm nguyên đơn
thanh toán đủ 95% giá bán căn hộ cho FLC theo Hợp đồng mua bán. Thời hạn thuê
tính từ ngày nguyên đơn thanh toán đủ 95% giá bán căn hhoặc tính từ ngày các
bên Hợp đồng thuê là cùng ngày 03/4/2018 đến ngày cuối cùng của thời hạn
hoạt động dự án theo Giấy chứng nhận đầu số 437044030 của Ủy ban nhân dân
tỉnh B cấp ngày 24/4/2015. T3 đã trả tiền thuê cho nguyên đơn tính từ năm 2018
đến nay với tổng số tiền 153.782.728đ. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng thuê,
trong thời hạn thuê nêu trên, nguyên đơn không được đơn phương chấm dứt hợp
đồng trong bất kỳ trường hợp nào. Tuy nhiên, khi chưa hết thời hạn của Hợp đồng
thuê, nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên chấm dứt Hợp đồng mua bán
căn hộ với T3; việc chấm dứt Hợp đồng mua bán khiến cho T3 không thể tiếp tục
thực hiện Hợp đồng thuê lại căn hộ theo thỏa thuận giữa các bên. Thời điểm
nguyên đơn yêu cầu chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ cũng chính thời điểm
nguyên đơn đã đơn phương chấm dứt Hợp đồng thuê với T3.
Việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng thuê là vi phạm nghĩa vụ của bên cho
thuê về việc đảm bảo thời hạn thuê quy định tại Điều 5 của Hợp đồng thuê. Căn cứ
các khoản 10.2, 10.3 Điều 10 của Hợp đồng thuê, T3 được áp dụng các chế tài liên
quan do hành vi chấm dứt Hợp đồng thuê trái pháp luật của nguyên đơn. Cụ thể,
T3 yêu cầu nguyên đơn hoàn trả stiền thuê đã nhận 153.782.728đ một khoản
tiền tương ứng với giá trị các đêm nghỉ mà nguyên đơn đã sử dụng theo Hợp đồng
thuê với số tiền là 103.500.000đ; tổng cộng là 257.282.728đ. T3 không yêu cầu bồi
thường tiền lãi phát sinh tiền phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Đối với
yêu cầu độc lập của H3, T3 thống nhất như ý kiến của T3 không yêu cầu
khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Phát triển Thành phố P, trình bày:
H3 và vợ chồng chị Lê Thị Thu H, anh Nguyễn Huy T2 ký kết Hợp đồng
tín dụng số 1527/18MB/HĐTD ngày 29/3/2018 Khế ước nhận nợ số
6
1527/18MB/HĐTD ĐNGN-KUNN/CN/01 ngày 03/4/2018 với nội dung cụ thể
như sau: Số tiền vay 905.172.000đ; thời hạn vay 180 tháng (từ ngày
03/4/2018 đến ngày 03/4/2023); mục đích để mua căn hộ số B tầng F, Z, thuộc
dự án The FLC C, tại N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; phương thức trả nợ: Ân
hạn gốc 18 tháng (kể tngày 03/4/2018), sau đó trả hàng tháng vào ngày 25 của
tháng, lãi trả 1 tháng/lần vào ngày 25 của tháng; lãi suất vay trong hạn
10,5%/năm - lãi suất này được cố định trong thời gian 01 năm k từ ngày bên
vay/bên được cấp tín dụng nhận tiền vay, sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo
từng thời kỳ của H3. Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, hai bên đã kết Hợp
đồng thế chấp quyền tài sản số 1527/18MB/HĐBĐ ngày 29/03/2018 và đã đăng ký
giao dịch bảo đảm ngày 29/3/2018 theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, chị H, anh T2 mới chỉ thanh toán
cho H3 đến ngày 27/9/2022 với tổng số tiền 771.618.650đ, trong đó: Gốc
405.712.000đ, lãi trong hạn là 365.558.406đ, lãi quá hạn là 348.244đ. Đến kỳ trả
nợ tháng 12 năm 2021, khách hàng đã bắt đầu vi phạm không thanh toán đủ gốc,
lãi theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng. Tổng nợ của chị H, anh T2 tính đến hết
ngày 27-9-2022 504.798.364đ, trong đó: Nợ gốc 500.000.000đ, nợ lãi trong
hạn là 4.795.736 đồng, nợ lãi quá hạn 2.628đ. Tài sản bảo đảm cho khoản vay
của chị H, anh T2 các quyền tài sản phát sinh tHợp đồng mua bán căn hộ số
1023/2018/HĐMBCH-THECOASTALHILL ngày 27-01-2018 giữa bên bán (T3)
với bên mua (chị H, anh T2). H3 không biết, không liên quan việc vi phạm (nếu
có) từ phía FLC với chị H, anh T2. Cho nên, H3 yêu cầu Tòa án xem xét, giải
quyết:
- Không chấp thuận cho chị H, anh T2 chấm dứt hoặc hủy bỏ Hợp đồng mua
bán căn hộ số 16023 ngày 27-01-2018. H3 chỉ đồng ý cho chị H, anh T2 chấm dứt
hoặc hủy bỏ Hợp đồng mua bán này sau khi chị H, anh T2 thanh toán toàn bộ
nghĩa vụ nợ tại H3.
- Buộc chị H, anh T2 phải thanh toán cho H3 tổng số tiền tạm tính đến hết
ngày 27-9-2022 504.798.364đ, trong đó: Nợ gốc 500.000.000đ, nợ lãi trong
hạn là 4.795.736 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.628đ.
- Buộc chị H, anh T2 phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo lãi
suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kể từ ngày 28-9-2022 cho
đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Kể từ ngày Bản án/Quyết định hiệu lực pháp luật, nếu chị H, anh T2
không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản
nợ lãi phát sinh thì H3 quyền yêu cầu quan Thi hành án dân sự thẩm
quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi nợ cho
Ngân hàng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là:
+ Toàn bộ các quyền tài sản của bên thế chấp phát sinh tHợp đồng mua
bán căn hộ số 1023/2018/HĐMBCH-THECOASTALHILL ngày 27-01-2018;
+ Toàn bộ số tiền, lợi nhuận phát sinh, tài sản đền bù, bồi thường, hoa lợi,
lợi tức, phần giá trị/tài sản phát sinh thêm/tài sản hình thành (bao gồm tài sản hình
7
thành trong tương lai) từ các quyền tài sản của bên thế chấp theo Văn bản phát sinh
quyền tài sản được thế chấp;
+ Toàn bộ số tiền bảo hiểm/số tiền do bên bảo lãnh thanh toán (nếu có) trong
trường hợp quyền tài sản được bảo hiểm thanh toán/được bảo lãnh thanh toán cho
bên thế chấp được thụ hưởng;
+ Các tài sản/ tài sản hình thành trong tương lai phát sinh tquyền tài sản
của bên thế chấp được hưởng từ Văn bản phát sinh quyền tài sản được thể chấp với
bên thanh toán và/ hoặc bất cứ bên thứ ba nào khác.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử tài sản bảo đảm được dùng đ
thanh toán nghĩa vụ trả nợ của chị H, anh T2 đối với H3. Nếu số tiền thu được từ
bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì chị H, anh T2 vẫn
phải nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho H3 bằng nguồn thu các tài sản hợp pháp
khác.
- Trường hợp Hợp đồng mua bán căn hộ số 16023 ngày 27-01-2018 bị chấm
dứt đến bất kỳ do nào, yêu cầu Tòa án buộc các bên chuyển các khoản tiền
liên quan việc chấm dứt hoặc hủy bỏ Hợp đồng mua bán (hoàn trả, bồi thường,
phạt vi phạm hợp đồng...) về tài khoản của chị H, anh T2 mở tại H3 để H3 thu hồi
toàn bộ khoản nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Huy T2 trình bày:
Anh chồng của chị Thị Thu H. Ngày 03-4-2018, vợ chồng anh liên
hệ vay H3 được H3 giải ngân số tiền là 905.712.000 đồng, thời hạn vay 180
tháng. Ngân hàng này được chủ đầu (FLC) chỉ định theo thỏa thuận liên kết
trước đó giữa chủ đầu Ngân hàng cùng hỗ trợ cho các nhà đầu vay tiền
mua căn hcủa T3. Tài sản thế chấp căn hộ hình thành trong tương lai (căn hộ
số 23 nêu trên) và trước mắt là bảo đảm bằng bản chính Hợp đồng mua bán căn hộ
chị H kết với T3. Thực tế, Ngân hàng đã giải ngân khoản tiền trên để thanh
toán cho chủ đầu tư theo đề nghị của vợ chồng anh. Hiện tại, vợ chồng anh còn nợ
gốc 610.000.000đ tiền lãi hàng tháng; tuy nhiên, hoàn cảnh rất khó khăn để chi
trả. do: Ngay khi chào bán dự án, chủ đầu đã quảng cáo, cam kết khi nhà
đầu mua căn hộ thì tiền thuê căn hộ sẽ được đảm bảo thanh toán đầy đủ, nhanh
chóng, kịp thời để tạo điều kiện cho nhà đầu tư dùng tiền thuê này để thanh toán
tiền vay (gốc và lãi) cho ngân hàng; nhưng chủ đầu chậm bàn giao căn hộ còn
bên thuê nhiều tháng không thanh toán tiền thuê theo cam kết dẫn đến tranh chấp
đến Tòa.
Căn hsố 10623 chị H đứng tên mua tài sản chung của vợ chồng
anh. Mục đích mua căn hộ này là để có thêm thu nhập và về già có nơi nghỉ dưỡng
cho gia đình cũng như có thu nhập trang trãi trong cuộc sống. Anh để vợ anh đứng
tên trên Hợp đồng mua bán để tạo thuận lợi trong giao dịch. Tiền mua căn hộ
của vợ chồng anh. Nay quyền lợi của vợ chồng anh bị xâm phạm, căn cứ Hợp đồng
mua bán vợ anh phải đứng đơn khởi kiện để thanh lý hợp đồng với FLC nhằm
lấy lại tiền để thanh toán khoản vay cho Ngân hàng. Kính đnghị quý Tòa căn cứ
trên đơn khởi kiện để giải quyết bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ chồng anh theo
8
quy định của pháp luật. Do vướng bận thời gian nên anh xin được vắng mặt tất cả
các buổi hòa giải, làm việc, triệu tập của quý Tòa cũng như các phiên tòa xét xử.
Bản án dân sự thẩm số301/2022/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của
Toà án nhân dân thành phố Q quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu H.
1.1. Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ s
1023/2018/HĐMBCH- THECOASTALHILL ngày 27-01-2018 giữa Công ty Cổ
phần T3 (bên bán) chị Thị Thu H (bên mua), Hợp đồng thuê quản tài
sản số 10623/2018/HĐTCH-THECOASTALHILL ngày 03-4-2018 giữa chị Lê
Thị Thu H (bên cho thuê) Công ty Cổ phần T3 (bên thuê) đối với căn hộ số 23,
tầng F, Z, diện tích 40m
2
thuộc Dự án Khu D, tại Khu K, N, thành phố Q, tỉnh
Bình Định.
1.2. Buộc Công ty Cổ phần T3 nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng chị
Thị Thu H, anh Nguyễn Huy T2 các khoản tiền gồm: Tiền mua căn hộ đã thanh
toán là 1.434.044.000đ; tiền phạt vi phạm hợp đồng là 109.783.272đ; tiền lãi chậm
bàn giao căn hộ là 752.873.099đ; tổng cộng là 2.296.700.371đ.
Thời hạn thanh toán các khoản tiền nêu trên được thực hiện theo khoản 15.3
Điều 15 của Hợp đồng mua bán căn hộ số 10623 ngày 27-01-2018 trong vòng
60 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng (ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật).
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Thị Thu H về
tiền phạt vi phạm hợp đồng 10.978.320đ và tiền bồi thường thiệt hại theo giá
cho thuê căn hộ là 411.000.000 đồng, tổng cộng là 421.978.320đ.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát
triển Thành phố P.
3.1. Buộc vợ chồng chị Thị Thu H, anh Nguyễn Huy T2 nghĩa vụ
thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố P số tiền
504.798.364đ, trong đó: Nợ gốc 500.000.000đ, nợ lãi trong hạn 4.795.736
đồng, nợ lãi quá hạn là 2.628đ.
Vợ chồng chị H, anh T2 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo lãi suất
thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1527/18MB/HĐTD ngày 29-3-2018, Đề nghị
giải ngân kiêm khế ước nhận nợ s 1527/18MB/HĐTD ĐNGN-KUNN/CN/01
ngày 03-4-2018, kể từ ngày 28-9-2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
3.2. Buộc Công ty Cổ phần T3 nghĩa vụ chuyển khoản hoặc thanh toán
trực tiếp các khoản tiền phải trả cho chị H, anh T2 đã tuyên trên vào tài khoản của
chị H, anh T2 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố P.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố P được toàn quyền xử lý thu
hồi nợ bằng các khoản tiền này, nếu không đủ thì bằng các nguồn thu cũng như tài
sản hợp pháp khác của bà H2, ông S mà pháp luật cho phép cho đến khi thu hồi hết
nợ.
9
4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Công ty Cổ phần T3 về việc buộc
chị Lê Thị Thu H bồi thường giá trị các đêm nghỉ dưỡng tại căn hộ khách sạn T3.
5. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Thị Thu H hoàn trả cho Công ty Cổ
phần T3 được nhận số tiền thuê căn hộ là 153.782.728đ.
Ngoài ra, bản án dân sự thẩm n quyết định về chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ định giá tài sản, án phí dân sự sơ thẩm quyền kháng cáo của các
bên đương sự.
Ngày 13/10/2022, Công ty Cổ phần T3 kháng cáo toàn bnội dung quyết
định của bản án thẩm với nội dung cụ thể: Yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải
quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn về thanh toán tiền phạt vi phạm 8% tính trên
giá bán căn hộ sau khi trừ đi 10% thuế giá trị gia tăng; tiền bồi thường thiệt hại
theo giá cho thuê căn h411.000.000đ; Bị đơn chỉ chấp nhận tính tiền lãi chậm
bàn giao căn hộ từ ngày vi phạm nghĩa vụ bàn giao 30/3/2019 đến ngày nguyên
đơn gửi thông báo yêu cầu chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ 23/9/2020.
Tại phiên tòa đại diện cho bị đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu kháng o
về thanh toán tiền phạt vi phạm 8% tính trên giá bán căn hộ sau khi trừ đi 10%
thuế giá trị gia tăng và tiền bồi thường thiệt hại theo giá cho thuê căn hộ
411.000.000đ vì sau khi xem xét lại bản án sơ thẩm đã giải quyết giống như bị đơn
đã kháng cáo phần này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến:
- Về Tố tụng: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn rút một phần yêu cầu
kháng cáo về thanh toán tiền phạt vi phạm 8% tính trên giá bán căn hộ sau khi trừ
đi 10% thuế giá trị gia tăng tiền bồi thường thiệt hại theo giá cho thuê căn hộ
411.000.000đ nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 289 đình chỉ xét
xử phúc thẩm đối với phần rút kháng cáo.
Đối với yêu cầu kháng cáo bị đơn chỉ chấp nhận tính tiền lãi từ ngày
30/3/2019 đến ngày 23/9/2020 ngày chị H thông báo yêu cầu chấm dứt hợp
đồng. Xét thấy chi H thông báo chấm dứt hợp đồng yêu cầu giải quyết các
khoản tiền phát sinh, phía FLC không động thái hay thiện chí để giải quyết dẫn
đến chị H khởi kiện ra tòa yêu cầu chấm dứt hợp đồng, trong quá trình giải quyết
vụ án tại tòa bị đơn không chấp nhận chấp dứt hợp đồng nên phán quyết hiệu
lực của Tòa án sẽ là cơ sở chấm dứt hợp đồng.
Do đó, đề nghị XX không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Áp dụng
khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND thành phố Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sự vắng mặt của đương sự: Anh Hoàng Minh T đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Công ty cổ phần
10
T3, Ngân hàng TMCP phát triển thành phố P (H3), anh Nguyễn Huy T2 vắng mặt
lần 02 nên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét
xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa phúc đại diện cho bị đơn tnguyện rút một phần yêu cầu
kháng cáo về thanh toán tiền phạt vi phạm 8% tính trên giá bán căn hộ sau khi trừ
đi 10% thuế giá trị gia tăng và tiền bồi thường thiệt hại theo giá cho thuê căn hộ
411.000.000 đồng sau khi xem xét lại bản án thẩm thì tòa cấp thẩm tuyên
xử phần này là đúng. Nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 289 và Điều 295 Bộ luật Tố
tụng Dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo bị
đơn đã rút.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần T3 chỉ chấp nhận
tính tiền lãi chậm bàn giao căn hộ từ ngày vi phạm nghĩa vụ bàn giao 30/3/2019
đến ngày 23/9/2020 là ngày nguyên đơn gửi thông báo yêu cầu chấm dứt hợp đồng
mua bán căn hộ, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện bị đơn cho rằng nguyên đơn chị H đã
gửi Thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ ngày 23/9/2020
cho bị đơn Công ty Cổ phần T3 nên căn cứ khoản 3 Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015
thì hợp đồng chấm dứt không cần ý kiến bị đơn từ ngày 23/9/2020 nên bị đơn
Công ty Cổ phần T3 chỉ chấp nhận tính tiền lãi chậm bàn giao căn hộ từ ngày vi
phạm nghĩa vụ bàn giao ngày 30/3/2019 đến ngày chị H ra Thông báo đơn
phương chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ ngày 23/9/2020. Tuy nhiên Hội đồng
xét xử phúc thẩm xét thấy khi nhận được Thông báo đơn phương chấm dứt hợp
đồng mua bán n hộ ngày 23/9/2020, phía Công ty Cổ phần T3 không đồng ý
chấm dứt hợp đồng giải quyết các yêu cầu của chị H khi chấm dứt hợp đồng
như: Tiền chị H đã nộp mua căn hộ, tiền phạt vi phạm 8% tính trên giá bán căn hộ,
tiền bồi thường thiệt hại, tiền lãi chậm bàn giao. vậy tháng 10/2020 chị H khởi
kiện ra tòa yêu cầu chấm dứt hợp đồng giải quyết hậu quả khi chấm dứt hợp
đồng. Nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm Công ty Cổ phần
T3 vẫn không đồng ý chấm dứt hợp đồng giải quyết hậu quả theo yêu cầu của
chị H, nên vụ án kéo dài Tòa thẩm đã tuyên xử chấm dứt hợp đồng. Do đó,
Công ty Cổ phần T3 cho rằng hợp đồng chấm dứt từ khi chị H ra Thông báo đơn
phương chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ ngày 23/9/2020 để tính tiền lãi chậm
bàn giao căn hộ từ ngày 30/3/2019 đến ngày 23/9/2020 là không có cơ sở.
[3.2] Từ những phân tích nêu trên, cấp thẩm buộc Công ty Cổ phần T3
phải nghĩa vụ thanh toán 752.873.099đ tiền lãi chậm bàn giao căn hộ từ ngày
30/3/2019 đến ngày xét xử thẩm 29/9/2022 phù hợp với quy định pháp luật
nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị
đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Những quyết định khác của bản án dân sự thẩm không bkháng cáo,
kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét giải quyết, hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
11
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội tCông
ty Cổ phần T3 phải chịu 300.00.
[6] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc
giải quyết vụ án đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần rút kháng
cáo và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Áp dụng khoản 1 Điều 308
BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND thành phố Q phù hợp với nhận
định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 3, 108, 117, 295, 298, 299, 317, 319, 323, 398, 430, 431,
483, 484, 488 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần T3. Giữ nguyên
bản án sơ thẩm số 301/2022/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân
dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu H.
2.1. Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ s
1023/2018/HĐMBCH- THECOASTALHILL ngày 27-01-2018 giữa Công ty Cổ
phần T3 (bên bán) chị Thị Thu H (bên mua), Hợp đồng thuê quản tài
sản số 1023/2018/HĐTCH-THECOASTALHILL ngày 03-4-2018 giữa chị Thị
Thu H (bên cho thuê) và Công ty Cổ phần T3 (bên thuê) đối với căn hộ số 23, tầng
F, Z, diện tích 40m
2
thuộc Dự án Khu D, tại Khu K, N, thành phố Q, tỉnh Bình
Định.
2.2. Buộc Công ty Cổ phần T3 nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng chị
Thị Thu H, anh Nguyễn Huy T2 các khoản tiền gồm: Tiền mua căn hộ đã thanh
toán là 1.434.044.000đ; tiền phạt vi phạm hợp đồng là 109.783.272đ; tiền lãi chậm
bàn giao căn hộ là 752.873.099đ; tổng cộng là 2.296.700.371đ.
Thời hạn thanh toán các khoản tiền nêu trên được thực hiện theo khoản 15.3
Điều 15 của Hợp đồng mua bán căn hộ số 10623 ngày 27-01-2018 trong vòng
60 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng (ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật).
3. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng của Công ty Cổ phần T3
về việc yêu cầu thanh toán tiền phạt vi phạm 8% tính trên giá bán căn hộ sau khi
trừ đi 10% thuế giá trị gia tăng và tiền bồi thường thiệt hại theo giá cho thuê căn hộ
là 411.000.000đ.
12
4. Những quyết định khác của bản án dân sự thẩm không bkháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty Cổ phần T3 phải chịu 300.000 đồng,
được trừ 3.000.000 đồng tạm ứng án phí Công ty Cổ phần T3 đã nộp theo Biên lai
thu tiền s002846 ngày 08/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q
(đã nộp xong).
6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án quyền chđộng ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả khác khoản tiền hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
6.2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án n sự thì người được thi nh án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 Điều 9 Luật thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Bình Định; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND thành phố Q;
- CCTHADS thành phố Q; (Đã ký và đóng dấu)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; Tòa Dân sự.
Phan Minh Dũng
Tải về
82-2023-DS-PT-BINH-DINH 82-2023-DS-PT-BINH-DINH

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

82-2023-DS-PT-BINH-DINH 82-2023-DS-PT-BINH-DINH

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất