Bản án số 77/2025/DS-ST ngày 15/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 77/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 77/2025/DS-ST ngày 15/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ
Số hiệu: 77/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
Bản án số: 77/2025/DS-ST
Ngày: 15 - 9 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán
tài sản và thực hiện nghĩa vụ do
người chết để lại
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Hương
2. Ông Nguyễn Việt Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực
8 Cần Thơ.
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 Cần
Thơ xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 116/2025/TLST- DS ngày 12
tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 208/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2025 và Quyết định
hoãn phiên tòa số: 148/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2025 giữa các đương
sự:
* Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc D, sinh năm 1976.
Địa chỉ: ấp D, xã H, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Khánh T, sinh
năm 1976 (có mặt).
Địa chỉ: Số A đường N, Khóm C, phường P, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn:
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1971 (vắng mặt).
- Chị Trần Thị B, sinh năm 1989 (vắng mặt).
2
- Chị Từ Thị N, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, phường V, thành phố Cần Thơ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Trần Minh P, sinh năm 2011 (vắng mặt).
- Cháu Trần Minh K, sinh năm 2014 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, phường V, thành phố Cần Thơ.
Người giám hộ của cháu Trần Minh P và Trần Minh K: Chị TThị N, sinh
năm 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, phường V, thành phố Cần T.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/3/2024 của nguyên đơn tại Phiên tòa sơ thẩm
người đại diện do nguyên đơn ủy quyền ông Nguyễn Khánh T trình bày:
Trần Ngọc D có mở Đại lý bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản. Từ năm
2016, ông Trần Văn X vợ Phạm Thị H đến Đại của D yêu cầu mua
thuốc thức ăn nuôi tôm để phục vụ nuôi tôm cho gia đình và bán lẻ lại cho người
thân đkiếm lời. D đồng ý bán thiếu cho ông X H, hình thức là ghi vào s
theo dõi, cuối năm cộng lại thanh toán. Vợ chồng ông X H mua nhiều năm
nhưng cuối năm không thanh toán đủ, cộng dồn còn nợ của bà D tổng số tiền là
870.742.000đ (tám trăm bảy mươi triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng), D đã
nhiều lần liên hệ yêu cầu vợ chồng ông X thanh toán số nợ nêu trên nhưng ông X hứa
hẹn vẫn chưa thanh toán. Đến năm 2024, ông X chết, D đến gặp gia đình
ông X gồm H các con ông X yêu cầu thanh toán số nnêu trên nhưng bà H
các con cứ hứa hẹn mà không trả nợ.
Tại đơn khởi kiện, D yêu cầu H vợ ông X, con ông X là chTrần Thị
B, chị Từ Thị N con dâu cùng nhà (do con ruột ông X anh Trần Thanh T1 đã
chết trước ông X) hai người con của anh T1 chị N cháu Trần Minh P, Trần
Minh K phải liên đới thanh toán số nợ nêu trên tiền lãi 130.088.844đ (một trăm
ba mươi triệu không trăm tám mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi bốn đồng) cho
Trần Ngọc D.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin thay
đổi một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu hai cháu Trần Minh PTrần Minh
3
K liên đới trả nợ mà yêu cầu chị Từ Thị N là mẹ ruột đồng thời là người giám hộ hợp
pháp của hai cháu P, K trách nhiệm liên đới với bà H, chị B trả nợ cho nguyên
đơn. Đồng thời nguyên đơn xin rút yêu cầu buộc các bị đơn trả số tiền lãi là
130.088.844đ (một trăm ba mươi triệu không trăm tám mươi tám nghìn tám trăm bốn
mươi bốn đồng).
Bị đơn bà Phạm Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết
vụ án, H trình bày: Đúng là trước đây khi chồng H ông Trần Văn X mua
thiếu thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản của bà D bằng hình thức ghi nợ vào sổ, cuối
năm thanh toán. Ông X mua thức ăn muôi tôm thuốc thủy sản về để nuôi tôm
trong gia đình chia cho một số anh em quen thuộc để kiếm thêm tiền lời. Tuy
nhiên, do nuôi tôm thua lỗ những người mua lại thức ăn của vợ chồng bà cũng
thua lỗ không tiền trả cho vợ chồng nên vợ chồng cũng chưa trả tiền cho
D, hiện nay, vợ chồng bà nợ D 870.742.000đ (tám trăm bảy mươi triệu bảy trăm
bốn mươi hai nghìn đồng) đúng như nguyên đơn yêu cầu. Tuy nhiên, năm 2024 thì
chồng H ông X chết nên hiện nay gia đình rất khó khăn. Vợ chồng H
ông X 2 người con Trần Thị B và Trần Thanh T1 (anh T1 chết năm 2020 vợ
Từ Thị N và 2 người con là Trần Minh P, Trần Minh K), ngoài ra, ông X không có
người con nào khác nữa. Sau khi chồng con trai chết, mẹ con H sống chung,
hoàn cảnh khó khăn nên chưa khả năng thanh toán nợ cho bà D, H xin D
xem xét, gia hạn khi nào có bà sẽ trả nợ.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là người giám hộ của cháu
Trần Minh P, Trần Minh K là chị Từ Thị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá
trình giải quyết vụ án, chị N trình bày: Chị N vợ của anh Trần Thanh T1, con dâu
của ông X H, cùng sống chung nhà với cha mẹ chồng. Chị N anh T1 2
người con Trần Minh P, Trần Minh K; ngoài ra, anh T1 không con chung, con
riêng nào khác nữa. Sau khi chồng chị là anh Trần Thanh T1 chết vào năm 2020, đến
năm 2024 thì cha chồng chết, hiện nay, chị N và hai con sống chung với mẹ chồng là
bà H. Hoàn cảnh gia đình chị quá khó khăn nên không có khả năng trả nợ cho bà D.
Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên chị Trần Thị B: được tống đạt
hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết,
sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Trần Ngọc D nhưng chị Trần Thị B không
phản đối, không văn bản trình bày ý kiến nguyện vọng của mình. Trong quá
4
trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành triệu tập các đương sự nhưng chị Trần Thị
B cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các
đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 04/9/2025; nhưng chị Trần
Thị B vẫn vắng mặt không giao nộp tài liệu, chứng cứ n Hội đồng xét xử
quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Xác định cách tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Ngọc D khởi
kiện yêu cầu bà Phạm Thị H và các con, con dâu ông Trần Văn X (do ông X chết năm
2024 con ruột ông X anh Trần Thanh T1 chết năm 2020 vợ chị Từ Thị N
hai con Trần Minh P, Trần Minh K) cùng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Như vậy
người thực hiện nghĩa vụ của ông Trần Văn X gồm: chị Trần Thị B, chị Từ Thị N
(người giám hộ của Trần Minh P, Trần Minh K) bị đơn trong vụ án người thc
hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại mới đúng. Do đó, tại phiên tòa Hội đồng
xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng gồm chị Trần Thị B chị Từ Thị N là bị
đơn trong vụ án theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử bổ sung thêm quan h
tranh chấp thực hiện nghĩa vụ do người chết để lạitheo quy định tại Điều 615
của Bộ luật Dân sự.
[1.3] Bà Trần Ngọc D khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị H, chị Trần Thị B chị
Từ Thị N phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ mua thức ăn nuôi tôm, bị đơn cư trú
tại ấp T phường V, thành phố Cần Thơ, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án
nhân dân Khu vực 8 Cần Thơ thụ giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại
khoản 3 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân strong
phạm vi đơn khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[1.4] Các bị đơn Phạm Thị H, chị Trần Thị B và chị Từ Thị N đã được triệu
tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu
quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật
Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ
5
luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt các bị đơn bà Phạm Thị H, chị Trần Thị
B và chị Từ Thị N.
[2] Về nội dung giải quyết:
[2.1] Hai bên đã thực hiện việc mua bán tài sản như đã thỏa thuận, thể hin
theo lời trình bày của nguyên đơn thừa nhận của các bị đơn Phạm Thị H trong
quá trình giải quyết vụ án cũng ntại phiên tòa thẩm. Nguyên đơn bị đơn
Phạm Thị H đều thống nhất xác nhận là vợ chồng ông X mua thức ăn nuôi tôm
thuốc thủy sản còn nợ của D 870.742.000đ (tám trăm bảy mươi triệu bảy trăm bốn
mươi hai nghìn đồng). Nhưng do ông X chết, gia đình kkhăn nên không khả
năng thanh toán cho bà D. Từ các căn cứ nêu trên, đối chiếu với quy định tại khoản 2
Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, sở khách quan để kết luận việc giao dịch
dân sự giữa các bên đối với việc mua bán tài sản và bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền
870.742.000đ (tám trăm bảy mươi triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng) là có căn
cứ.
[2.2] Đối với ông Trần Văn X người trực tiếp thực hiện hợp đồng với D,
việc mua bán thức ăn thuốc thủy sản nhằm mục đích nuôi tôm bán lại để phát
triển kinh tế gia đình nên bà Phạm Thị H là vợ ông X có trách nhiệm cùng với ông X
trả nợ cho bà D là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Đối với ông Trần Văn X người trực tiếp thực hiện hợp đồng mua bán
với bà D ông X đã chết trước khi nguyên đơn khởi kiện. Căn cứ vào Điều 615 của
Bộ luật Dân sự quy định “Thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”. Nvậy hàng
thừa kế thứ nhất của ông Trần Văn X gồm: anh Trần Thanh T1 chị Trần Thị B
phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do ông Trần Văn
X để lại cùng với bà Phạm Thị H để thanh toán nợ cho bà Trần Ngọc D.
Do anh Trần Thanh T1 chết năm 2020, anh T1 vợ hai người con cháu
Trần Minh P Trần Minh K. Trong quá trình giải quyết, nguyên đơn yêu cầu chị N,
cháu P cháu K cùng liên đới với gia đình H trả nợ. Tuy nhiên, tại phiên tòa,
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi
kiện không buộc hai cháu Trần Minh P Trần Minh K thực hiện nghĩa vụ trả nợ
buộc chị Từ Thị N người giám hộ của hai cháu P, K thực hiện nghĩa vụ trả nợ
nêu trên. Xét thấy, hai cháu P K còn nhỏ, chị N là mẹ ruột, người giám hộ hợp
pháp của các cháu nên việc yêu cầu của nguyên đơn là đúng quy định và không vượt
6
quá phạm vi khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố
tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do vậy, Trần Ngọc D yêu cầu buộc bà Phạm Thị H, chị Trần Thị B chị
Từ Thị N phải nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho D với số tiền
870.742.000đ (tám trăm bảy mươi triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng), là có căn
cứ, đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét ý kiến của bị đơn Phạm Thị H xin gia hạn cho mẹ con khi nào
tiền strả dứt số nợ nêu trên nhưng không được người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến của bị đơn.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà D có đơn yêu cầu thi hành án, bà
Phạm Thị H, chị Trần Thị B và chị Từ Thị N còn phải liên đới trả lãi theo lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả
tương ứng với thời gian chậm trả.
[3]. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần
yêu cầu khởi kiện không buộc bị đơn trả tiền lãi theo đơn khởi kiện
130.088.844đ (một trăm ba mươi triệu không trăm tám mươi tám nghìn tám trăm bốn
mươi bốn đồng). Việc rút đơn này do nguyên đơn tự nguyện nên Hội đồng xét x
ghi nhận.
[4] Về án phí thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bà Phạm Thị
H, chị Trần Thị B chị Từ Thị N phải liên đới chịu án phí giá ngạch tương ứng
với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 2 Điều 92, khoản 1 khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 1 Điều
147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 430, Điều 440, khoản 2 Điều 468, Điều 615 của Bộ luật dân
sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
7
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Ngọc D đối với bị đơn
Phạm Thị H, chị Trần Thị B chị Từ Thị N, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.
Buộc Phạm Thị H, chị Trần Thị B chị Từ Thị N nghĩa vụ liên đới
thanh toán cho Trần Ngọc D số tiền nợ là 870.742.000đ (tám trăm bảy mươi triệu
bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật ông Trần Ngọc D đơn yêu cầu
thi hành án, Phạm Thị H, chị Trần Thị B chị Từ Thị N phải liên đới trả lãi theo
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc
bị đơn trả số tiền lãi là 130.088.844đ (một trăm ba mươi triệu không trăm tám mươi
tám nghìn tám trăm bốn mươi bốn đồng).
3. Án phí dân sự thẩm: Phạm Thị H, chị Trần Thị B chị Từ Thị N
phải liên đới chịu tiền án phí dân sự thẩm 38.122.230đ (ba mươi tám triệu một
trăm hai mươi hai nghìn hai trăm ba mươi đồng).
- Trần Ngọc D không phải chịu án phí; hoàn trả cho D stiền tạm ứng
án phí đã nộp là 21.012.462đ (hai mươi mốt triệu không trăm mười hai nghìn bốn
trăm sáu mươi hai đồng) theo Biên lai thu số 0006399 ngày 06/03/2025 của Chi cục
Thi hành án dân sự thị Vĩnh Châu (nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8
Cần Thơ)
4. Nguyên đơn quyền kháng cáo đối với bản án thẩm trong hạn 15 ngày,
kể từ ngày Tòa tuyên án; Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được miên yết hợp lệ; để
yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
8
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Khu vực 8 – Cần Thơ; THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Phòng THADS Khu vực 8 – Cần Thơ;
- TAND thành phố Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Võ Thị Hiếu
Tải về
Bản án số 77/2025/DS-ST Bản án số 77/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 77/2025/DS-ST Bản án số 77/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất