Bản án số 680/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 680/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 680/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 680/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN HỒNG C - TÔ THANH Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 680/2026/DS-PT
Ngày: 19-5-2026
Về việc “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu
hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thm phán - Ch ta phiên tòa:
Bà Hoàng Th Thúy Lành
Các Thm phán:
Bà Đinh Thị Ngc Yến
Bà Nguyn Th Dim Hng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn, Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Bé Thi, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xphúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 1193/2025/TLPT-DS ngày 24
tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng ủy quyền, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 362/2025/DS-ST ngày 26 - 9-2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 3 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 76/2025/QĐ-PT ngày 02
tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Nguyễn Hồng C, sinh năm 1968
Địa chỉ: Số F Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp V, xã V, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Tô Thanh Q, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp A, xã K, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Văn phòng C2
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh. (xin vắng mặt)
2
2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn K, xã G, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Ông Đoàn Nguyễn Chí T1, sinh năm
1979
Địa chỉ: 1 khu phố B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
3. Nguyễn Hồng M, sinh năm 1964; Địa chỉ: ấp B, xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng
mặt).
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn L người có quyền nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn
Hồng C do người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Nguyễn Hồng C chủ sử dụng các phần đất tại các thửa đất số 890, 891, 70,
71, TBĐ: 26 đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh).
Nguồn gốc đất C được ba mẹ C cho. C đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất các phần đất nêu trên theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM
558184, số vào sổ cấp giấy CN 10283 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện
Đ cấp ngày 16/01/2024; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 558185, số vào sổ
cấp giấy CN 10282 do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện Đ cấp ngày
16/01/2024; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 886539, số vào sổ cấp giấy CS
02264 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (cũ) cấp ngày 16/01/2024.
Do có khó khăn về kinh tế và được giới thiệu của người quen nên C có liên
hệ ông Thanh Q để vay một số tiền để làm ăn. Ông Q đồng ý cho C vay số tiền
200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Bà C có thế chấp cho ông Q giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông Q chỉ mới giao cho C số tiền 150.000.000 đồng
(một trăm năm mươi triệu đồng) hai bên lập giấy vay tiền vào ngày 08/3/2024 để
làm tin. Stiền 50.000.000 đồng còn lại ông Q sẽ giao vào ngày 11/3/2024 (tức 3
ngày sau) nhưng đến nay ông Q vẫn chưa giao cho C số tiền 50.000.000 đồng còn
lại. Sau đó, ngày 11/3/2024 ông Q yêu cầu bà C ra văn phòng công chứng để làm hợp
đồng thế chấp các quyền sử dụng đất của C sẽ giao cho bà C số tiền 50.000.000
đồng còn lại. Do tin tưởng ông Q và tại văn phòng C2 không giải thích gì thêm nên bà
C vào Hợp đồng y quyền toàn quyền số 910, quyển số 03/2024TP/CC-SCC/HĐGD
do Văn phòng C2 công chứng các phần đất nêu trên cho ông Q ông Q cũng không
giao cho bà C s tiền 50.000.000 đồng như các bên đã thỏa thuận.
Sau này, bà C biết được bà đã ký giấy ủy quyền cho ông Q, để bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của mình, bà C đã khởi kiện đến tòa án và yêu cầu giải quyết như sau:
- hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất số công chứng 910, quyển số
03/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/3/2024 tại Văn phòng C2 giữa bà Nguyễn Hồng
C với ông Tô Thanh Q đối với thửa đất số 890, thửa đất 891, thửa đất 70 và thửa đất số
71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh
Tây Ninh).
- Buộc ông Thanh Q phải trả lại cho bà Nguyễn Hồng C bản chính các giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất các phần đất số DM 558184, số vào sổ cấp giấy CN
3
10283; số DM 558185, do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện Đ (cũ) cấp cùng
ngày 16/01/2024; số vào sổ cấp giấy CN 10282; số CQ 886539, số vào sổ cấp giấy CS
02264 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (cũ) cấp cùng ngày 07/5/2020.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà C được biết ông Q đã chuyển nhượng 03
thửa đất 890, 70, 71, cùng tờ bản đsố 26 cho ông Nguyễn Văn L. Ông L chưa được
đăng ký sang tên.
Do đó, bà C khởi kiện bổ sung yêu cầu:
- hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1890,
quyển số 05/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/4/2024 tại Văn phòng C2 giữa
Nguyễn Hồng C do ông Thanh Q đại diện với ông Nguyễn Văn L đối với thửa đất
số 890, thửa đất 70 và thửa đất số 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay xã H, tỉnh Tây Ninh).
Bị đơn ông Thanh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt
không nộp tài liệu chứng cứ gì khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập ông Nguyễn Văn L do
người đại diện theo ủy quyền là ông Đoàn Nguyễn Chí T1 trình bày:
Tháng 5/2024, qua sự giới thiệu của người quen, được biết ông Thanh Q đang
chào bán các thửa đất số 890, thửa đất 70 và thửa đất số 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất
tọa lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh), trước khi thực
hiện giao dịch thì phía ông Q và ông L xem đất, thỏa thuận giá cả, khi xem đất thì ông
Q chỉ đất trống, không vật, công trình trên đất, nên ông L đồng ý mua với giá
1.500.000.000 đồng. Hai bên thống nhất ra văn phòng C2 kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, đối với 03 thửa đất 890, 70, 71, ông L đã giao tiền cho ông
Q, ông Q đã giao 03 giấy chứng nhận bản chính cho ông L để làm thủ tục đăng ký sang
tên ông L. Tuy nhiên, ông L nộp hồ sơ để thực hiện thủ tục đăng ký thì bị trả hồ sơ do
bà C đang tranh chấp đối với các thửa đất này.
Nay ông L yêu cầu độc lập:
- Buộc bà Nguyễn Hồng C và ông Tô Thanh Q phải tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1890, quyển số 05/2024TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 05/4/2024 tại Văn phòng C2 giữa Nguyễn Hồng C do ông
Thanh Q đại diện với ông Nguyễn Văn L đối với thửa đất số 890, thửa đất 70 thửa
đất số 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã
H, tỉnh Tây Ninh).
Trong trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông L chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của C thì ông L yêu cầu bà Nguyễn Hồng C và ông Thanh
Q liên đới bồi thường thiệt hại cho ông L số tiền 2.000.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M1 trình bày:
Bà là ch s dng thửa đất s 58, t bản đồ s 26, đất ta lc ti xã T, huyện Đ,
tỉnh Long An (nayxã H, tỉnh Tây Ninh), nguồn gốc các thửa đất 890, 891, 70, 71 và
58, cùng tờ bản đồ số 26 cha mẹ cho các chị em bà, chị ruột của Nguyễn
Hồng C. Năm 2023, do em gái gặp nhiều khó khăn, nên được nhà nước htrợ xây
nhà, phần đất 890, 891 của C không đủ diện tích để được xây nhà tình nghĩa nên bà đã
đồng ý cho em ruột cất nhà trên thửa đất 58 của bà. Bà đồng ý để C tiếp tục ở trên
4
thửa đất 58 của bà, nếu bà có tranh chấp sẽ tranh chấp bằng vụ án khác. Bà xác định bà
không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 trình bày:
Văn phòng công chứng xác nhận đã thực hiện việc công chứng Hợp đồng ủy
quyền quyền sử dụng đất số công chứng 910, quyển số 03/2024TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 11/3/2024 giữa Nguyễn Hồng C ông Thanh Q hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Hồng C do ông Thanh Q đại diện với
ông Nguyễn Văn L, đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Văn phòng C2 c
định không có yêu cầu gì liên quan trong vụ án, cũng không có quyền lợi hay nghĩa vụ
gì trong vụ việc tranh chấp này. Văn phòng kính đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ
án trên theo quy định pháp luật và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết của tòa
án.
Tại phiên tòa ngày 19/9/2025, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng C do Nguyễn Thị
Thu T đại diện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung thêm tài liệu chứng
cứ gì mới. C đã yêu cầu Tòa án vô hiệu toàn bộ các hợp đồng ủy quyền, hợp đồng
chuyển nhượng, liên quan đến các thửa đất 890, 891, 70, 71 cùng tờ bản đồ số 26, đất
tọa lạc tại H, tỉnh Tây Ninh. Do các hợp đồng này giả tạo nhầm che giấu giao dịch
vay tiền giữa bà C với ông Q, số tiền vay ghi theo giấy thế chấp tài sản là 200.000.000
đồng, lãi suất 1,5%/tháng, thời hạn 03 năm, tuy nhiên, C chỉ nhận số tiền 150.000.000
đồng từ Truong Van C1 chuyển khoản số tiền 47.000.000 đồng Nguyen Thi T2
chuyển khoản số tiền 92.000.000 đồng vào số tài khoản 66xxxxxx159 mang tên
Nguyễn Hồng C tại Ngân hàng N. Tuy nhiên, bà C không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ
của Truong Van C1, Nguyen Thi T2, không biết mối liên hệ giữa họ với ông Tô Thanh
Q. Do nhiều lần yêu cầu ông Q tiếp tục chuyển tiếp cho bà 50.000.000 đồng nhưng
không liên hệ được với ông Q nên bà đã khởi kiện. Ngoài ra, bà C cũng không có giấy
tờ khác thể hiện C chỉ nhận số tiền 150.000.000 đồng từ ông Q, C thừa nhận
đã tên vào giấy thế chấp tài sản nhằm mục đích vay 200.000.000 đồng của ông
Q. Nếu tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của C, thì bà C cũng tự nguyện trả lại s
tiền 150.000.000 đồng theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận 1,5%/tháng và tiền lãi phát
sinh từ ngày 08/3/2024 cho đến ngày xét xử 19/9/2025 cho ông Q. Trên các thửa đất
891 thì có một phần căn nhà tình nghĩa của bà C, được nhà nước hỗ trợ xây dựng, căn
nhà bà C đang sinh sống có một phần thuộc thửa 891, một phần thuộc thửa đất 58 (do
Nguyễn Thị M1 chị ruột của bà C đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử đất), bà M1
đồng ý cho C cất nhà ở. xác định C chỉ vay tiền của ông Q nhưng do không
hiểu biết đã ký hợp đồng ủy quyền, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của C hiệu hợp đồng ủy quyền, hiệu hợp đồng chuyển nhượng, buộc
ông Q phải trả lại bản chính các giấy chứng nhận cho C, đối với các giấy chứng nhận
ông L giữ, thì bà C không có thực hiện giao dịch với ông L nên không có yêu cầu. Bà
C đồng ý trả lại số tiền đã vay và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Nguyễn Văn L do ông Đoàn Nguyễn
Chí T1 đại diện trình bày: Ông L giữ nguyên yêu cầu độc lập, không có bổ sung thêm
tài liệu chứng cứ mới. Theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/5/2024 thì giá chuyển
nhượng đối với 03 thửa đất số 890, 70, 71 400.000.000 đồng, nhưng giá chuyển
nhượng thực tế là 1.500.000.000 đồng, tuy nhiên ông L không có giấy tờ giao nhận số
tiền 1.500.000.000 đồng với ông Q, nên ông L không tranh chấp đối với số tiền chuyển
5
nhượng, không yêu cầu ông Q (đã đại diện bà C) phải trả lại số tiền đã chuyển nhượng
đã nhận là 1.500.000.000 đồng trong vụ án này, cũng không yêu cầu phải trả lại số tiền
400.000.000 đồng (theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/5/2024),
chỉ yêu cầu giải quyết hậu quả khi hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/5/2024 bị
tuyên bố hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại buộc C ông Q liên đới bồi
thường thiệt hại cho ông L số tiền 2.000.000.000 đồng theo giá trị thị trường của 03
thửa đất 890, 70, 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại H, tỉnh Tây Ninh. Tuy
nhiên, theo chứng thư thẩm định giá, định giá giá trị của 03 thửa đất 890, 70, 71 có giá
là 902.260.000 đồng. Do đó, ông L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông
Q C liên đới bồi thường thiệt hại cho ông L số tiền 902.260.000 đồng giá trị
của 03 thửa đất số 890, 70, 71. Đối với bản chính của 03 giấy chứng nhận của 03 thửa
đất 890, 70, 71 thì ông L đang giữ, khi nào ông Q, C trả đủ tiền thì ông L trả giấy.
Ngoài ra, ông L không yêu cầu ông Q trả lại tiền đã nhận chuyển nhượng, không
tranh chấp, không có yêu cầu gì khác trong vụ án này.
Tại Bản án sơ thẩm số 362/2025/DS-ST ngày 26 9 - 2025 của Tòa án nhân dân
Khu vực 3 - Tây Ninh, quyết định:
Áp dụng các Điều 122, 124, 131, 133, 398, 407, khoản 2 Điều 408, 500, 501,
502 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 của Luật đất đai năm 2013; Điều 26, 27
của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng C
1.1 Vô hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất công chứng số 910, quyển s
03/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/3/2024 tại Văn phòng C2 (nay là văn phòng C2)
giữa bà Nguyễn Hồng C và ông Tô Thanh Q đối với thửa đất số 890, thửa đất 891, thửa
đất 70 và thửa đất số 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh).
1.2 hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 1890,
quyển số 05/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/5/2024 tại Văn phòng C2 giữa
Nguyễn Hồng C do ông Thanh Q đại diện với ông Nguyễn Văn L đối với thửa đất
số 890, thửa đất 70 và thửa đất số 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh).
Nguyễn Hồng C quyền đến quan thẩm quyền về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để làm thủ tục điều chỉnh biến động hoặc đề nghị cấp lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Cơ quan cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án của Tòa án để giải quyết điều chỉnh
biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải
quyết của Tòa án.
1.3 Buộc ông Tô Thanh Q trả lại bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 558184, số vào sổ cấp giấy
CN 10283 do Chi nhánh n phòng đăng ký đất đai huyện Đ (cũ) cấp ngày 16/01/2024.
6
1.4 Buộc ông Nguyễn Văn L trả lại bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 558185, số vào sổ cấp
giấy CN 10282 do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện Đ (cũ) cấp ngày
16/01/2024; bản chính 02 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CQ 886539 và CQ 886538 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh L (cũ) cấp cùng ngày 07/5/2020.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn L
Buộc bà Nguyễn Hồng C và ông Thanh Q phải liên đới bồi thường thiệt hại
cho ông Nguyễn Văn L số tiền 200.000.000 đồng; buộc ông Thanh Q phải bồi
thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn L số tiền 302.260.000 đồng.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn L u cầu
Nguyễn Hồng C và ông Tô Thanh Q phải liên đới bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn
n L s tiền là 400.000.000 đồng.
4. Về chi phí thẩm định, đnh giá, giám định: Ông Tô Thanh Q phải chịu toàn bộ
chi phí tố tụng là 82.000.000 đồng, ông Q phải hoàn trả cho bà Nguyễn Hồng C s tiền
bà C nộp là 17.000.000 đồng, ông Q phải hoàn trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền ông
L nộp là 65.000.000 đồng.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc ông Tô Thanh Q phải chịu 16.013.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung
ngân sách nhà nước.
- Buộc bà Nguyễn Hồng C, ông Tô Thanh Q liên đới phải chịu 10.000.000 đồng
án phí dân sự thẩm sung ngân sách nhà nước. Nguyễn Hồng C được khấu trừ
600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0000669 ngày 29/3/2024 và số 0004743 ngày 03/6/2025 của Phòng Thi hành án dân s
khu vực 3 – Tây Ninh vào thi hành án phí.
- Ông Nguyễn Văn L được miễn án phí.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án quyền kháng
cáo theo quy định ca pháp luật.
7
Ngày 08/10/2025 ông Nguyễn Văn L, người quyền nghĩa vụ liên quan trong
vụ án, có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, sửa bản án dân sự sơ
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc ông L.
Ngày 27/2/2026, bà Nguyễn Thị Thu T nộp đơn kháng cáo tại Toà án nhân dân
tỉnh Tây Ninh theo hướng buộc ông Q là người trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho bà C và bà C trả cho ông Q số tiền thực nhận 150.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Đoàn Nguyễn Chí T1 cung cấp Hợp đồng uỷ quyền lại ngày 09/5/2024 tại
Văn phòng C2 (S C, quyển số 05/2024TP/CC-SCC/HĐGD) giữa bên uỷ quyền
Nguyễn Hồng C, người đại diện Thanh Q, bên uỷ quyền ông Nguyễn Văn L,
đối tượng uỷ quyền là thửa đất số 891, tbản đồ số 26 tại xã T, huyện Đ, nội dung uỷ
quyền là toàn bộ các quyền của người sử dụng đất. Ông T1 cho rằng, ông Q đã chuyển
nhượng cho ông L 3 thửa đất và uỷ quyền cho ông L 01 thửa đất của bà C. Do đó, yêu
cầu cấp phúc thẩm buộc ông Q, C liên đới bồi thường g trị 4 thửa đất là
1.128.629.000 đồng theo gtrị thẩm định giá. Ông T1 còn cho rằng cấp thẩm không
đưa người có quyền nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn V, người môi giới đất cho
ông L nhận chuyển nhượng của ông Q và là người hiện đang giữ các Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất bản chính. Do đó, đề nghị cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm.
Nguyễn Thị Thu T không đồng ý toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người
quyền nghĩa vụ liên quan. T yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của
T đại diện cho C yêu cầu buộc ông Q người trả giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho bà C và bà C trả cho ông Q số tiền thực nhận 150.000.000 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Vic tuân theo pháp lut ca Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa thc hiện đúng trình tự, th tục theo quy đnh ca B lut T tng dân s. Các
đương s thc hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy đnh ca B lut T
tng dân s.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, sửa
bản án thẩm số 362/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của TAND Khu vực 3, tỉnh Tây
Ninh. Buộc bà C liên đới với ông Q bồi thường cho ông L số tiền 902.260.000 đồng.
Đề nghị không xét kháng cáo của Nguyễn Thị Thu T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng c có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, ngày 08/10/2025 nộp trong thời
hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272,
8
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
[1.2] Bà Nguyễn Thị Thu T đại diện cho bà Nguyễn Hồng C kháng cáo yêu cầu
ông Q trả lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính đồng ý trả ông Q
150.000.000 đồng tiền vay thực nhận cùng tiền lãi theo quy định. Xét thấy, bà T nhận
bản án ngày 15/10/2025 nhưng 27/2/2026 mới nộp đơn kháng cáo tại Toà án nhân dân
tỉnh Tây Ninh (sau khi Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm). cho rằng trước
đó nộp đơn tại Toà án nhân dân khu vực 3 Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh
nhưng không có chứng cứ chứng minh về việc nộp đơn kháng cáo nhưng không được
nhận. Do đó kháng cáo của T đại diện cho bà C không được xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn, những người có quyền nghĩa vụ liên quan khác
đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 296 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông L:
[2.1] Tại phn tòa phúc thẩm, ông T1 đại diện cho ông L yêu cầu bồi thường
1.128.692.000 đồng (bao gồm cả thửa đất 891). Ông T1 cung cấp Hợp đồng uỷ quyền
lại ngày 09/5/2024 tại Văn phòng C2 (Số C, quyển số 05/2024TP/CC-SCC/HĐGD)
giữa bên uỷ quyền Nguyễn Hồng C, người đại diện Thanh Q, bên uỷ quyền ông
Nguyễn Văn L, đối tượng uỷ quyền là thửa đất số 891, tờ bản đồ số 26 tại xã T, huyện
Đ, nội dung uỷ quyền toàn bộ các quyền của người sử dụng đất. Ông T1 cho rằng,
ông Q đã chuyển nhượng cho ông L 3 thửa đất và uỷ quyền cho ông L 01 thửa đất của
bà C. Do đó, yêu cầu cấp phúc thẩm buộc ông Q, C liên đới bồi thường giá trị 4 thửa
đất 1.128.629.000 đồng theo giá trị thẩm định giá. Xét thấy, tại phiên tòa thẩm
ông T1 đại diện cho ông L yêu cầu bồi thường số tiền 902.260.000 đồng theo chứng
thư thẩm định giá (không bao gồm thửa 891). Tại phiên toà phúc thẩm, ông T1 lại yêu
cầu bồi thường 1.128.629.000 đồng (giá trị của 4 thửa đất). Yêu cầu của ông T1 vượt
quá yêu cầu ban đầu tại cấp sơ thẩm nên không được xem xét tại cấp phúc thẩm đối với
giá trị thửa đất 891.
[2.2] Ông T1 còn cho rằng hiện ông L không giữ các giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của các thửa đất (890, 70, 71). Hiện các giấy chứng nhận này do ông Nguyễn
Văn V (không địa chỉ), người môi giới bán đất cho ông L đang giữ nên đề nghị
huỷ án thẩm do thiếu người tham gia tố tụng. Xét thấy, tại Biên bản phiên tòa
thẩm thể hiện lời trình bày của ông T1, xác nhận ông L người đang giữ giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, không cầm cố, thế chấp và đồng ý trả lại khi phía ông Q, bà C
trả tiền. Ông T1 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh hiện ông V đang giữ
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có căn cứ xem xét.
[2.3] Xét thấy, Hợp đồng hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất giữa C với
ông Q công chứng số 910, quyển số 03/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/3/2024 tại
Văn phòng C2; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1890,
quyển số 05/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/5/2024 tại Văn phòng C2 giữa
Nguyễn Hồng C do ông Thanh Q đại diện với ông Nguyễn Văn L đối với thửa đất
9
số 890, thửa đất 70 và thửa đất số 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) được cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu. Các bên
không tranh chấp nên không đề cập.
Về số tiền bồi thường: Ông L yêu cầu buộc Nguyễn Hồng C ông Tô Thanh
Q phải liên đới bồi thường thiệt hại cho ông L số tiền 902.260.000 đồng tương đương
giá trị của 03 thửa đất 890, 70, 71 theo Chứng thư thẩm định gsố 020/2025/208-
HD/TĐG LA-BĐS ngày 20/6/2025 của Công ty cổ phần T3. Cấp thẩm xác định thiệt
hại của ông L chênh lệch giá tại thời điểm chuyển nhượng với thời điểm giải quyết
tranh chấp là 902.260.000 đồng - 400.000.000 đồng = 502.260.000 đồng là không phù
hợp. Ông L không được nhận tài sản trong vụ án này nên thiệt hại phải được xác định
là toàn bộ giá trị thửa đất. Do ông Thanh Q và bà Nguyễn Hồng C cùng lỗi dẫn
đến hợp đồng chuyển nhượng bị hiệu nên phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn L
theo định tại Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015. Bà Nguyễn Hồng C cũng có một phần
lỗi nên cũng phải chịu trách nhiệm liên đới cùng với ông Q bồi thường cho ông L.
C vay tiền nhưng lại ký hợp đồng uỷ quyền dẫn đến việc ông L lầm tưởng ông Q
quyền ký hợp đồng chuyển nhượng. Do đó lỗi của các bên là ngang nhau nên phải liên
đới bồi thường thiệt hại cho ông L 902.260.000 đồng là phù hợp.
[3] Từ những phân tích trên, Toà án cấp thẩm đã đánh giá chứng cứ chưa khách
quan và toàn diện; kháng cáo của ông Nguyễn Văn L là có cơ sở nên Hội đồng xét xử
phúc thẩm chấp nhận một phần. Không chấp nhận yêu cầu của ông L về việc bồi thường
giá trị thửa đất 891, tờ bản đồ số 26; Không chấp nhận yêu cầu huỷ án sơ thẩm của ông
L.
[4] Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét xử,
sửa án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự thẩm: Ông Thanh Q Nguyễn Hồng C phải liên
đới nộp án phí DSST đối với số tiền 902.260.000 đồng phải trả cho ông L.
[6] Chi phí đăng tin: Ông Nguyễn Văn L người kháng cáo phải chịu chi phí
đăng tin.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm:
Án phí phúc thẩm dân sự: do kháng cáo của ông Nguyễn Văn L được chấp nhận
một phần nên ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy
định tại Điều 148 của Bộ luật T tụng dân sự.
[8] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn L.
10
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 362/2025/DS-ST ngày 26 9 - 2025 ca
Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Tây Ninh.
Căn cứ Điều 116, 117, 119, 124, 129, 463, 466, 468, 470, 500, 501, 502, 503 Bộ
luật dân sự; Điều 92, 147, 157, 158, 161, 162 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án:
Áp dụng các Điều 122, 124, 131, 133, 398, 407, khoản 2 Điều 408, 500, 501,
502 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 của Luật đất đai năm 2013; Điều 26, 27
của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng C
1.1. hiệu hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất công chứng số 910, quyển số
03/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/3/2024 tại Văn phòng C2 (nay là văn phòng C2)
giữa bà Nguyễn Hồng C và ông Tô Thanh Q đối với thửa đất số 890, thửa đất 891, thửa
đất 70 và thửa đất số 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh).
1.2. hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 1890,
quyển số 05/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/5/2024 tại Văn phòng C2 giữa
Nguyễn Hồng C do ông Thanh Q đại diện với ông Nguyễn Văn L đối với thửa đất
số 890, thửa đất 70 và thửa đất số 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh).
Nguyễn Hồng C quyền đến quan thẩm quyền về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để làm thủ tục điều chỉnh biến động hoặc đề nghị cấp lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Cơ quan cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án của Tòa án để giải quyết điều chỉnh
biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải
quyết của Tòa án.
1.3. Buộc ông Tô Thanh Q trả lại bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 558184, số vào sổ cấp giấy
CN 10283 do Chi nhánh n phòng đăng ký đất đai huyện Đ (cũ) cấp ngày 16/01/2024.
1.4. Buộc ông Nguyễn Văn L trả lại bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 558185, số vào sổ cấp
giấy CN 10282 do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện Đ (cũ) cấp ngày
16/01/2024; bản chính 02 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CQ 886539 CQ 886538 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh L (cũ) cấp cùng ngày 07/5/2020.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn L
Buộc bà Nguyễn Hồng C và ông Thanh Q phải liên đới bồi thường thiệt hại
cho ông Nguyễn Văn L số tiền là 902.260.000 đồng (Chín trăm lẻ hai triệu nai trăm sáu
mươi ngàn đồng).
11
3. Về chi phí thẩm định, định giá, giám định: Ông Tô Thanh Q phải chịu toàn bộ
chi phí tố tụng là 82.000.000 đồng, ông Q phải hoàn trả cho bà Nguyễn Hồng C s tiền
bà C nộp là 17.000.000 đồng, ông Q phải hoàn trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền ông
L nộp là 65.000.000 đồng.
Kể từ khi đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành tương ứng với thời
gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Nguyễn Hồng C, ông Thanh Q liên đới phải chịu 39.067.800 đồng
án phí dân sự thẩm sung ngân sách nhà nước. Khấu trừ 600.000 đồng (sáu trăm nghìn
đồng) tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Hồng C đã nộp theo biên lai thu s0000669 ngày
29/3/2024 số 0004743 ngày 03/6/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3
Tây Ninh vào thi hành án phí.
5. Chi phí đăng tin: Ông Nguyễn Văn L phải chịu 6.750.000 đồng tiền cho phí
đăng tin đối với ông Tô Thanh Q. Ông L đã nộp xong.
6. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bcưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Điều 9 của Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi
hành án dân sự.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TAND ti cao ti
TP.HCM;
- VKSND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND Khu vc 3- Tây Ninh;
- Thi hành án dân s tnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tnh TN;
- Phòng GĐ, TT,
KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tp án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Hoàng Th Thúy Lành
Tải về
Bản án số 680/2026/DS-PT Bản án số 680/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 680/2026/DS-PT Bản án số 680/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất