Bản án số 66/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 66/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 66/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 66/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 66/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lạng Sơn |
| Số hiệu: | 66/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 66/2025/DS-PT
Ngày 23-9-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất, tài sản gắn liền với đất và
buộc chấm dứt hành vi cản trở
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Đức Trí
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoa
Ông Cao Đức Chiến
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Như Luật - Thư ký viên Tòa án nhân dân,
tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Hoàng Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2025/TLPT-DS ngày 07 tháng
8 năm 2025 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và
buộc chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 26-6-2025 của Tòa án
nhân dân huyện B1, tỉnh Lạng Sơn (nay là Tòa án nhân dân Khu vực V, tỉnh
Lạng Sơn) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐ-PT, ngày 25 tháng 8
năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2025/QĐ-PT ngày 10/9/2025,
Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 107/2025/QĐ-TA ngày
22/9/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1960; cư trú tại: Thôn L, xã
H, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
1. Bà Lương Thị Hương L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ
giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L; có mặt;
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc A - Luật sư Công ty L5 thuộc đoàn Luật sư tỉnh
Bắc Giang. Địa chỉ: Số H đường L, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
2
- Bị đơn: Ông Hoàng Đình T1, sinh năm 1968; cư trú tại: Thôn L, xã H,
tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Chu Bích T2 -
Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Hoàng Thị S, sinh năm 1967; có mặt.
2. Anh Hoàng Minh Đ, sinh năm 1996; vắng mặt.
3. Anh Hoàng Tuấn T3, sinh năm 1999; vắng mặt.
4. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 2000; vắng mặt.
Cùng cư trú tại: Thôn L, xã H, tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện theo ủy quyền cho anh Hoàng Minh Đ, anh Hoàng Tuấn
T3 và chị Nguyễn Thị L1: Bà Hoàng Thị S, sinh năm 1967; có mặt;
Cùng cư trú tại: Thôn L, xã H, tỉnh Lạng Sơn.
5. Bà Dương Thị C, sinh năm 1964; vắng mặt;
6. Chị Hoàng Thị T4, sinh năm 1993; vắng mặt;
7. Anh Hoàng Đình T5, sinh năm 1996; vắng mặt;
8. Chị Vi Thanh T6, sinh năm 1998; vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền cho bà Dương Thị C, chị Hoàng Thị T4,
anh Hoàng Đình T5 và chị Vi Thanh T6: Ông Hoàng Đình T1, sinh năm 1968;
có mặt.
Cùng cư trú tại: Thôn L, xã H, tỉnh Lạng Sơn.
9. Ông Hoàng Đình T7, sinh năm 1947; vắng mặt.
10. Ông Hoàng Đình S1, sinh năm 1971; có mặt.
11. Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1973; vắng mặt.
12. Bà Hoàng Thị L2, sinh năm 1977; vắng mặt.
13. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1949; vắng mặt.
Cùng cư trú tại: Thôn M, xã H, tỉnh Lạng Sơn.
14. Chị Hoàng Thị K, sinh năm 1982; vắng mặt.
Cư trú tại: Thôn Đ, xã K, tỉnh Lạng Sơn.
15. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh
Lạng Sơn; vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Hoàng Văn T là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Hoàng Văn T có vợ là bà Hoàng Thị S. Vợ chồng họ có 02 người
con gồm: Anh Hoàng Minh Đ, anh Hoàng Tuấn T3, chị Nguyễn Thị L1 là con
dâu.
Diện tích đất tranh chấp là 8.217m
2
thuộc thửa đất số 117, tờ bản đồ 39,
tại địa danh xứ đồng Dục X, thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo bản đồ
địa chính xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn
Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là của ông nội nguyên đơn (cụ
Hoàng Văn T8) mua với cụ Hoàng Văn T9 ở thôn P, xã T từ năm 1925. Khi mua
có khế ước viết bằng chữ nho. Sau khi mua cụ Hoàng Văn T8 quản lý canh tác
liên tục đến năm 1955 thì chết. Năm 1966, toàn bộ diện tích đất được đưa vào
hợp tác xã. Khoảng cuối năm 1991 hợp tác xã tan, gia đình nguyên đơn lấy lại
thửa đất trên, bố của nguyên đơn là cụ Hoàng Văn C1 kê khai và nộp thuế theo
quy định đến năm 1994.
Năm 1992, khi gia đình nguyên đơn đến canh tác vụ đầu tiên thì gia đình
bị đơn đến tranh chấp, vụ việc được Ủy ban nhân dân huyện B giải quyết giữa
bố bị đơn (ông Hoàng Đình T7) và nguyên đơn bằng quyết định số 157/UB-QĐ
ngày 22/7/1992. Tuy nhiên gia đình nguyên đơn không nhận được quyết định
này và vẫn tiếp tục khiếu nại tới các cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa được
giải quyết dứt điểm.
Năm 2006, nguyên đơn mới biết gia đình bị đơn đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, nguyên đơn đã gửi đơn đến UBND huyện B; UBND xã
T để giải quyết nhưng không có kết quả nên khởi kiện ra Tòa án.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền
sử dụng đất, trả lại toàn bộ diện tích đất 8.217m
2
tại thửa đất số 117, tờ bản đồ
số 39, bản đồ địa chính xã T, có địa danh xứ đồng Dục X, thôn L, xã T, huyện
B, tỉnh Lạng Sơn cho nguyên đơn được quản lý, sử dụng. Nếu trường hợp không
được giao quyền quản lý, sử dụng đất trên thì yêu cầu Tòa án giao cho nguyên
đơn được quyền quản lý, sử dụng phần diện tích có những ngôi mộ của tổ tiên.
Đối với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định, định giá tài sản, chồng ghép bản đồ
nguyên đơn nhất trí, không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn gồm: Bà Hoàng
Thị S, anh Hoàng Minh Đ, anh Hoàng Tuấn T3, chị Nông Thị L3 đều không có
ý kiến gì với diện tích đất tranh chấp, nhất trí với ý kiến của nguyên đơn. Anh
Hoàng Minh Đ, anh Hoàng Tuấn T3, chị Nông Thị L3 đều xin vắng mặt tại
phiên tòa.
Bị đơn ông Hoàng Đình T1 trình bày:
Ông Hoàng Đình T1 có vợ là bà Dương Thị C, có 02 người con là chị
Hoàng Thị T4 và anh Hoàng Đình T5. Chị Vi Thanh T6 là con dâu.
4
Về nguồn gốc đất tranh chấp là của ông nội bị đơn là cụ Hoàng Đình C2
canh tác năm 1956. Từ năm 1956 đến năm 1991 cụ Hoàng Đình C2 quản lý,
canh tác liên tục không có tranh chấp. Sau khi cụ Hoàng Đình C2 chết thì bố của
bị đơn là ông Hoàng Đình T7 quản lý, canh tác trồng cây ngô. Khoảng cuối năm
1991, nguyên đơn đến tranh chấp thửa đất trên với ông Hoàng Đình T7. Năm
1992, vụ việc tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân huyện B (UBND) giải quyết
bằng quyết định số 157/UB-QĐ ngày 22/7/1992, theo nội dung quyết định thì
UBND huyện B đã giao cho gia đình ông Hoàng Đình T7 quản lý một mẫu đất
(3.600m
2
) vì theo đơn yêu cầu giải quyết của nguyên đơn chỉ yêu cầu UBND
huyện giải quyết diện tích tranh chấp một mẫu đất (3600m
2
) chính là diện tích
8.217m
2
hiện nay nguyên đơn đang tranh chấp với gia đình bị đơn. Do trước đây
chưa có bản đồ, không có máy móc đo đạc, chỉ ước tính. Phần đất tranh chấp
hiện nay vẫn nguyên trạng, đúng vị trí, có bờ thửa rõ ràng giống như thời điểm
tranh chấp năm 1992, không có gì thay đổi.
Từ năm 1992 trở đi gia đình bị đơn vẫn trồng cây ngô trên đất. Đến năm
2004 gia đình bị đơn được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số
32, tờ bản đồ 07, diện tích 8.120m
2
cho hộ ông Hoàng Đình T1. Từ năm 2004
đến nay gia đình bị đơn vẫn quản lý, canh tác trồng màu trên đất liên tục, không
có tranh chấp với ai. Tuy nhiên đến khoảng năm 2020 thì gia đình nguyên đơn
tiếp tục tranh chấp với gia đình bị đơn.
Về tài sản trên đất chỉ có cây ngô của gia đình bị đơn trồng hàng năm thu
hoạch theo mùa vụ, ngoài ra không có tài sản, cây cối, công trình gì khác.
Nguyên đơn cho rằng trên đất có ngôi mộ của gia đình nguyên đơn là không
đúng vì ngôi mộ nằm ngoài diện tích đất đang tranh chấp.
Do đó bị đơn không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối
với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định, định giá tài sản, chồng ghép bản đồ bị
đơn nhất trí, không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với
diện tích 8.217m
2
nằm trong thửa số 117. Rút một phần yêu cầu khởi kiện đối
với diện tích 39,8m
2
nằm trong thửa 116, tờ bản đồ 39; diện tích 43,1m
2
nằm
trong thửa 14, tờ bản đồ số 51. Bị đơn vẫn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn đối với diện tích 8.217m
2
.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bị đơn gồm: Cụ Hoàng Đình
T7 và cụ Nguyễn Thị D, ông Hoàng Đình S1, bà Hoàng Thị H, bà Hoàng Thị
L2, bà Hoàng Thị K, là bố, mẹ đẻ và các anh chị em của bị đơn đều không có ý
kiến gì với diện tích đất tranh chấp, nhất trí với ý kiến của bị đơn. Họ xin vắng
mặt tại phiên tòa. Bà Dương Thị C, chị Hoàng Thị T4, anh Hoàng Đình T5, chị
Vi Thanh T6 - là vợ, con bị đơn đều không có ý kiến gì với diện tích đất tranh
chấp, nhất trí với ý kiến của bị đơn. Họ đã ủy quyền cho bị đơn ông Hoàng Đình
T1 tham gia phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy bản nhân dân huyện B ( gọi tắt
là UBND huyện B), tỉnh Lạng Sơn trình bày: Quyết định số 157/UB-QĐ ngày
5
22 tháng 7 năm 1992 của UBND huyện B đã được ban hành và có hiệu lực pháp
luật, hiện tại không tìm thấy hồ sơ giải quyết khiếu nại lưu tại kho lưu trữ của
UBND huyện B. Do điều kiện công tác, sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa
phương 02 cấp, nên đại diện UBND huyện B không thể có mặt tham gia phiên
tòa.
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày
20/3/2025 xác định đất tranh chấp thuộc 02 thửa đất 117, 116 tờ bản đồ số 39,
bản đồ địa chính xã T, huyện B tại xứ đồng Dục X, thôn L, xã T, huyện B, tỉnh
Lạng Sơn. Diện tích tranh chấp có các phía tiếp giáp:
Phía Đông Bắc tiếp giáp với thửa 84, tờ bản đồ 39 của ông Hoàng Đình
T1;
Phía Tây Bắc tiếp giáp với các thửa 82, 86, 87, 88, 114, 115, đều thuộc tờ
bản đồ số 39, của gia đình các ông Dương Văn K1, Dương Văn Đ1, Dương Văn
T10, Dương Văn C3, Dương Văn T11 và Dương Văn D1.
Phía Nam tiếp giáp các thửa 13, 14, tờ bản đồ số 39 của ông Hoàng Văn
T12;
Phía Đông Nam tiếp giáp thửa 116, tờ bản đồ số 39 của ông Hoàng Văn
T12.
Trên thửa đất 117 không có tài sản gì; trên thửa đất 116 có 01 ngôi mộ
của gia đình ông Hoàng Văn T.
Giá đất tính theo giá nhà nước là 42.000 đồng/m
2
; giá đất theo giá thị
trường là 43.000 đồng/m
2
.
Kết quả đo đạc do Công ty cổ phần T15 - Chi nhánh L6 thực hiện ngày
20/3/2025 thể hiện: Diện tích đất tranh chấp là 8.299,9m
2
thuộc 03 thửa đất
(trong đó có 8.217m
2
nằm trong thửa số 117, tờ bản đồ 39; 39,8m
2
nằm trong
thửa 116, tờ bản đồ 39; 43,1m
2
nằm trong thửa 14, tờ bản đồ số 51).
Tại bản kết luận giám định chồng ghép bản đồ ngày 29/4/2025 của Giám
định viên tư pháp nêu:
Khu đất tranh chấp 8.217,0m
2
theo kết quả đo đạc tại mảnh trích đo địa
chính số TĐ16-2025 do Công ty cổ phần T15 - Chi nhánh L6 thực hiện ngày
20/3/2025 có vị trí, ranh giới phù hợp với thửa đất số 32, tờ bản đồ giải thửa số 7
xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (nay là H, tỉnh Lạng Sơn).
(Vị trí, ranh giới, diện tích khu đất tranh chấp so với bản đồ giải thửa xã T
thể hiện tại Sơ đồ số hóa, chồng ghép bản đồ khu đất tranh chấp kèm theo)
Khu đất tranh chấp 8.217,0m
2
theo kết quả đo đạc tại mảnh trích đo địa
chính số TĐ16-2025 do Công ty cổ phần T15 - Chi nhánh L6 thực hiện ngày
20/3/2025 có vị trí, ranh giới, diện tích trùng khít với thửa đất số 117, tờ bản đồ
địa chính số 39 năm 2009 xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
6
(Vị trí, ranh giới, diện tích khu đất tranh chấp so với bản đồ địa xã T năm
2009 thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính TĐ16-2025 do Công ty cổ phần T15 -
Chi nhánh L6 thực hiện ngày 20/3/2025)
Tại Quyết định số 157/UB-QĐ ngày 22/07/1992 của UBND huyện B về
việc giải quyết đất nương Dục Xóm ở L thuộc thôn L giữa ông Hoàng Đình T7
với ông Hoàng Đình T13 ở xã T không có sơ đồ, bản đồ, bản vẽ ... thể hiện vị
trí, ranh giới đám nương có diện tích 1 mẫu ở L, thôn Làng Thẳm, xã T, huyện
B, tỉnh Lạng Sơn. Do vậy, không xác định nội dung giám định trên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Lạng Sơn (nay là Tòa án nhân dân Khu vực
V, tỉnh Lạng Sơn) đã quyết định:
1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn T
đối với diện tích 8.217m
2
thuộc thửa đất 117, tờ bản đồ số 39, bản đồ địa chính
xã T, có địa danh: Nương Dục X, thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; buộc bị
đơn và các thành viên trong gia đình chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc
thực hiện quyền sử dụng đất nêu trên. Diện tích 8.217m
2
được xác định bởi các
đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): A1, A2, A3, A4, A5, A6, B1, A8, A9, A10,
A11, A12, A13, A14, A15, A16 thể hiện tại Trích đo khu đất tranh chấp số 16-
2025 ngày 25/3/2025 kèm theo Bản án.
Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án
dân sự đó nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về
nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp.
2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn T
đối với tổng diện tích 89,2m
2
, cụ thể:
- Diện tích 39,8m
2
nằm trong thửa 116, tờ bản đồ 39 được xác định bởi
các đỉnh thửa nối các điểm: A6, A7, B1 thể hiện tại Trích đo khu đất tranh chấp
số 16-2025 ngày 25/3/2025 kèm theo Bản án.
- Diện tích 43,1m
2
nằm trong thửa 14, tờ bản đồ số 51 được xác định bởi
các đỉnh thửa nối các điểm: A7, A8, B1 thể hiện tại Trích đo khu đất tranh chấp
số 16-2025 ngày 25/3/2025 kèm theo Bản án.
- Trên phần diện tích 89,2m
2
nằm trong thửa 116, tờ bản đồ 39 và thửa
14, tờ bản đồ số 51 có 01 ngôi mộ của gia đình nguyên đơn ông Hoàng Văn T.
- Nguyên đơn ông Hoàng Văn T có quyền khởi kiện lại phần diện tích đất
nêu trên nếu có tranh chấp.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng
cáo của các đương sự.
Trong thời hạn luật định, nguyên đơn ông Hoàng Văn T kháng cáo yêu
cầu hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại bởi Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm
rõ mâu thuẫn về thời gian ban hành và nội dung của Quyết định số 157 ngày
7
20/7/1992 của UBND huyện B; Quyết định xét xử sơ thẩm bị khiếu nại nhưng
vẫn đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại Văn bản số 367/UBND-PKT ngày 19/9/2025 của UBND xã H, tỉnh
Lạng Sơn v/v cho ý kiến đối với vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất
có nội dung: Không có hồ sơ lưu trữ đối với Hồ sơ cấp GCNQSDĐ thửa đất số
32 tờ bản đồ số 07 nên không có cơ sở xác định nguồn gốc cấp GCNQSDĐ cho
ông Hoàng Đình T1 và UBND xã cũng không có tài liệu liên quan đến việc thu,
nộp thuế qua các thời kỳ nên không có cơ sở xác định việc nộp thuế của gia đình
ông Hoàng Văn T.
Ông Hoàng Văn T thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm
hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ông Hoàng Đình T1 không đồng ý với nội dung kháng cáo của nguyên
đơn đề nghị giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
Về nguồn gốc đất và quá trình quản lý sử dụng diện tích đất tranh chấp.
Nguồn gốc đất tranh chấp là do ông nội của nguyên đơn là cụ Hoàng Văn T8
mua lại từ cụ Hoàng Văn T9 từ năm 1925. Sau khi mua đất thì canh tác từ đó
đến năm 1955 thì cụ Hoàng Văn T8 chết. Năm 1966 toàn bộ diện tích đất tranh
chấp được đưa vào Hợp tác xã để canh tác, sản xuất. Khoảng cuối năm 1991
Hợp tác xã tan rã thì ông T có đến lấy lại diện tích đất trước đây đã đưa vào Hợp
tác xã để canh tác. Nguyên đơn đã canh tác từ cuối năm 1991 đến tháng 7 năm
1992, từ tháng 7 năm 1992 trở đi thì không canh tác nữa.
Quyết định số 157/UB-QĐ ngày 22/7/1992 của Ủy ban nhân dân huyện B
đã giải quyết tranh chấp đất đai. Nguyên đơn cho rằng Quyết định số 157/UB-
QĐ là sai trái, không có căn cứ. Vì căn cứ vào nguồn gốc đất và quá trình sử
dụng thì diện tích đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình nguyên đơn. Ủy
ban nhân dân huyện B ban hành quyết định 157/UB-QĐ ngày 22/7/2025 quyết
định giải quyết tranh chấp đất đai, giao diện tích cho ông Hoàng Đình T7 là
không có căn cứ không phù hợp với nguồn gốc diện tích đất, quá trình sử dụng
đất. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng án lệ về việc tranh chấp đã được giải quyết
bằng một Quyết định đã có hiệu lực pháp luật là chưa đúng. Đề nghị Hội đồng
xét xử hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Lương Thị
Hương L nhất trí với ý kiến của luật sư bảo vệ cho nguyên đơn.
Ông Hoàng Văn T nhất trí với ý kiến trình bày của luật sư bảo vệ và
không bổ sung gì thêm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:
Bị đơn không nhất trí với yêu cầu kháng cáo và căn cứ kháng cáo của
nguyên đơn. Toà án cấp sơ thẩm đã thu thập hồ sơ giải quyết của Quyết định số
157/UB-QĐ ngày 22/7/2025 và hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
8
đối với ông Hoàng Văn T14. Các tài liệu thể hiện diện tích đất tranh chấp đã
được giải quyết bằng một Quyết định có hiệu lực pháp luật và ông Hoàng Văn
T14 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng trình tự, thủ tục.
Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm đã tuyên.
Ông Hoàng Đình T1 nhất trí với ý kiến trình bày của luật sư bảo vệ và
không bổ sung thêm gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc
chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:
1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án
tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự
vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt; người tham gia tố tụng có mặt tại
phiên tòa đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy
định của pháp luật tố tụng dân sự;
2. Về việc giải quyết kháng cáo: Về nguồn gốc diện tích đất 8.217,0m
2
tranh chấp giữa nguyên đơn Hoàng Văn T và bị đơn Hoàng Đình T1 thuộc thửa
đất số 117 tờ bản đồ số 39 bản đồ địa chính xã T lập năm 2009, theo bản đồ giải
thửa trước là thửa đất số 32 tờ bản đồ số 07 bản đồ giải thửa xã T. Nguồn gốc
đất tranh chấp nguyên đơn trình bày do ông nội nguyên đơn là cụ Hoàng Văn T8
mua năm 1925 có văn khế bằng chữ nho, sau khi mua cụ Hoàng Văn T8 canh
tác quản lý đến năm 1955. Năm 1966 toàn bộ diện tích đất nêu trên được đưa
vào Hợp tác xã. Sau khi Hợp tác xã T16, gia đình ông Hoàng Đình T7 (bố đẻ bị
đơn) được giao canh tác đến năm 1992 thì xảy ra tranh chấp với nguyên đơn và
đã được UBND huyện B giải quyết tranh chấp bằng Quyết định số 157/UB-QĐ
ngày 22/7/1992 giao cho ông Hoàng Đình T7 3600m
2
. Năm 1992 hộ gia đình
ông Hoàng Đình T1 trồng cây thuốc lá trên diện tích đã được giải quyết tranh
chấp thì bị nguyên đơn cùng. Có 02 người khác đến cày phá các cây thuốc lá do
bị đơn trồng, vụ việc đã được giải quyết yêu cầu bồi thường tại bản án dân sự sơ
thẩm của TAND huyện Bắc Sơn và bản án dân sự phúc thẩm số 20/PT-DS ngày
22/6/1993 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn tuyên buộc ông Hoàng Văn T
phải bồi thường cho ông Hoàng Đình T1 giá trị tài sản bị thiệt hại. Những năm
sau đó gia đình bị đơn tiếp tục quản lý sử dụng, hàng năm trồng ngô và hoa màu
trên diện tích đất đã được giải quyết tranh chấp. Phía nguyên đơn trình bày trên
đất tranh chấp có ngôi mộ đôi của ông bà nội nguyên đơn, tuy nhiên sau khi xem
xét thẩm định tại chỗ nguyên đơn xác định ngôi mộ không nằm trong diện tích
8.217,0m
2
có tranh chấp. Như vậy, bị đơn có quá trình quản lý, canh tác trên đất
từ năm 1992, nguyên đơn không có quá trình quản lý sử dụng đất tranh chấp.
Tại phiên tòa nguyên đơn khẳng định có biết được Quyết định số 157 của
UBND huyện B vào ngày 06/8/1992, ngày 09/8/1992 nguyên đơn có đơn trình
bày gửi UBND xã T về việc không nhận được quyết định giải quyết tranh chấp
đất đai, đơn này có xác nhận của UBND xã T. Đến ngày ngày 20/4/1993 nguyên
đơn có đơn đề “Đơn khiếu nại” tuy nhiên tại mục “Kính gửi” không ghi gửi đến
9
cơ quan nào, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn
không cung cấp tài liệu chứng cứ về việc có gửi đơn đến cơ quan nào để khiếu
nại Quyết định 157 như đã trình bày. Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu các cơ quan
liên quan cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại đối với Quyết định 157 nhưng
không thu thập được. Việc nguyên đơn trình bày có gửi đơn khiếu nại Quyết
định 157 đến UBND xã T và UBND huyện B chỉ là ý kiến của nguyên đơn,
không có tài liệu căn cứ chứng minh. Mặt khác, đại diện UBND huyện B khẳng
định quyết định số 157 của UBND huyện B là quyết định có giá trị pháp lý và
biên bản xác minh ngày 11/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh
Lạng Sơn xác minh tại UBND xã T, huyện B, Công văn số 08/CV-UBND ngày
05/7/2016 của UBND xã T và Biên bản làm việc ngày 08/11/2023 của Thanh tra
huyện B khẳng định Quyết định số 157 ngày 22/7/1992 vẫn có hiệu lực pháp
luật.
Như vậy, xác định quan hệ tranh chấp đối với thửa đất số 117 tờ bản đồ số
39 đã được giải quyết bẳng một quyết định có hiệu lực pháp luật. Sau khi được
giải quyết tranh chấp đất bằng Quyết định số 157 giữa ông Hoàng Đình T7 với
ông Hoàng Đình T13, hộ ông Hoàng Đình T7 đã quản lý sử dụng và giao cho
con trai là Hoàng Đình T1 quản lý, đến năm 2004 hộ ông Hoàng Đình T1 được
cấp GCNQSDĐ. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề
nghị bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Hoàng Văn T, giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của TAND huyện B1, tỉnh
Lạng Sơn (nay là TAND Khu vực V, tỉnh Lạng Sơn).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, có
người tham gia tố tụng vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền hoặc
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào
Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án
vắng mặt những người này.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, ông Hoàng Văn T khai không nhận được
Quyết định số 157/UB-QĐ ngày 22/7/1992 của UBND huyện B về việc giải
quyết khiếu nại giữa ông và ông Hoàng Đình T7 nhưng vào ngày 22/4/2025,
nguyên đơn giao nộp cho Tòa án bản sao Quyết định số 157/UB-QĐ ngày
22/7/1992 được chứng thực vào ngày 18/4/2025. Mặt khác ông T trình bày ngày
02/8/1992 Công an huyện B có giấy mời nguyên đơn đến họp tại trụ sở UBND
xã T để giải quyết tranh chấp và cho rằng UBND huyện đã quyết định gải quyết
trước 12 ngày là không đúng vì giấy mời của Công an mời ông T đến để thông
báo cho ông T biết đã có Quyết định 157 về việc giải quyết tranh chấp đất và
yêu cầu ông chấp hành, sau đó ông nói khi đến mới biết có quyết định nhưng
ông không nhận được quyết định này nên này 09/8/1992 ông có đơn trình bày
nhưng nội dung đơn không phải là đơn khiếu nại mà là đơn thắc mắc tại sao lại
không nhận được quyết định và đến gần 01 năm sau ông mới có đơn khiếu nại
ghi ngày 20/4/1993 (BL280), còn ông nộp đơn ngày nào thì không thể hiện được
10
này tháng năm nộp. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn khẳng định có nhận
được Quyết định số 157/UB-QĐ ngày 22/7/1992 của UBND huyện B vào ngày
06/8/1992. Ngày 20/4/1993, nguyên đơn gửi đơn khiếu nại lần đầu đến UBND
huyện về ngày 02/8/1992 UBND huyện B có giấy mời nguyên đơn đến họp tại
trụ sở UBND xã T để giải quyết. Nhưng sau đó không có kết quả giải quyết cuối
cùng. Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập hồ sơ giải quyết khiếu nại tại UBND xã T,
UBND huyện B và Trung tâm lưu trữ lịch sử tỉnh Lạng Sơn nhưng không còn
lưu trữ được hồ sơ giải quyết khiếu nại. Tại biên bản làm việc ngày 06/10/2023
(văn bản do ông T giao nộp) bản thân ông T nhất trí không yêu cầu trả lời đơn
khiếu nại ngày 06/10/2023, ông đồng ý kết thúc việc khiếu nại, kiến nghị, phản
ánh hành chính về nội dung Quyết định 157/UB-QĐ ngày 22/7/1992 của UBND
huyện B. Theo quy định tại Điều 19, Pháp lệnh số 53-LCT/HĐNN8, ngày
7/5/1991 của Hội đồng Nhà nước 53-LCT/HĐNN8 về giải quyết khiếu nại, tố
cáo thì thời hiệu giải quyết khiếu nại là 06 (sáu) tháng kể từng ngày có quyết
định hành chính hoặc việc làm trái pháp luật. Như vậy, tính từ ngày 06/8/1992
đến ngày 20/4/1993 thì đã quá thời hiệu giải quyết khiếu nại. Đại diện UBND
huyện B khẳng định Quyết định số 157/UB-QĐ ngày 22/7/1992 của UBND
huyện B là quyết định có giá trị pháp lý. Khẳng định này phù hợp với kết luận
của Chánh thanh tra huyện B tại biên bản làm việc ngày 08/11/2023 “Quyết định
số 157/UB-QĐ ngày 22/7/1992 vẫn có hiệu lực pháp luật…”.
[3] Theo quyết định số 157/UB-QĐ ngày 22/7/1992 của UBND huyện B
giao cho ông Hoàng Đình T7 quản lý 1 mẫu (3.600m
2
) đất; năm 1999 bản đồ địa
chính đo thành thửa số 32, tờ bản đồ số 7, diện tích 8.120m
2
; năm 2010 đo lại
bản đồ địa chính mới thành thửa số 117, tờ bản đồ số 39. Mặc dù có sự chênh
lệch diện tích nhưng cả hai bên đương sự đều thừa nhận phần đất tranh chấp có
bờ thửa rõ ràng, từ trước đến nay không có sự thay đổi; có sự chênh lệch về số
diện tích là do những năm trước đây không có máy móc đo đạc cụ thể chỉ ước
tính diện tích, sau này khi đo đạc bản đồ địa chính có máy móc nên độ chính xác
cao. Lời khai của hai bên đương sự đều thống nhất nên đây là tình tiết không
phải chứng minh. Do vậy có cơ sở khẳng định thửa đất số 117, tờ bản đồ số 39
(địa chỉ: Nương Dục X, thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn) hiện nay chính là
thửa đất đã được UBND huyện B giải quyết bằng quyết định số 157/UB-QĐ
ngày 22/7/1992.
[4] Tên trong quyết định số 157/UB-QĐ ngày 22/7/1992 của UBND
huyện B là ông Hoàng Đình T13. Tuy nhiên, qua xác minh tại UBND xã T có
01 người tên là Hoàng Đình T13 trẻ hơn nguyên đơn khoảng 10 tuổi nhưng
không có tranh chấp với ông Hoàng Đình T7, ông Hoàng Đình T1. Chỉ duy nhất
có ông Hoàng Văn T có tranh chấp đất đai với ông Hoàng Đình T7, ông Hoàng
Đình T1. Tại biên bản xác minh ngày 17/7/2024 tại UBND xã T, huyện B nêu:
“…có căn cứ khẳng định ông Hoàng Đình T13 ghi trong quyết định số 157/UB-
QĐ ngày 22/7/1992 của UBND huyện B với ông Hoàng Văn T hiện nay đang
khởi kiện ông Hoàng Đình T1 là cùng một người…”. Như vậy, có thể khẳng
định, các văn bản có ghi tên Hoàng Đình T13 là do có sự nhầm lẫn về chính tả,
11
bản chất chính là ông Hoàng Văn T (nguyên đơn của vụ án). Bản thân ông
Hoàng Văn T tại bút lục 286 cũng đa trình bày ông là Hoàng Văn T, tuy nhiên
trong Quyết định 157 của UB huyện ghi ông Hoàng Đình T13, trong thôn Làng
Huyền có ông Hoàng Đình T13 nhưng ít hơn ông 10 tuổi không có tranh chấp
với ông Hoàng Đình T7.
[5] Theo Án lệ số 71/2024/AL về việc đình chỉ giải quyết vụ án với lý do
sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 04/2022/DS-GĐT ngày
28/4/2022 và được công bố theo Quyết định số 119A/QĐ-CA ngày 15/5/2024
của Chánh án tối cao thì: Tranh chấp quyền sử dụng đất đã được giải quyết bằng
quyết định có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nguyên đơn tiếp
tục khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nguyên
đơn không đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp. Từ
năm 1992 đến nay (33 năm), bị đơn vẫn là người đã và đang trực tiếp quản lý, sử
dụng đất tranh chấp. Trong trường hợp này, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ
án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án. Hội đồng xét xử thấy tính chất, các tình tiết sự kiện pháp lý trong vụ án
này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ. Vì vậy, theo quy định
tại điểm c, đ khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 và theo Án lệ số 71/2024/AL có đủ cơ sở để khẳng định sự việc
(yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn) đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu
lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do đó cấp sơ thẩm đình chỉ
giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp lý, đúng pháp
luật.
[6] Đối với nội dung kháng cáo cho rằng đã có khiếu nại Quyết định đưa
vụ án ra xét xử vì chưa triệu tập người làm chứng theo yêu cầu của nguyên đơn
để lấy lời khai: Xác định ông Hoàng Văn L4, Hoàng Văn C4 chỉ là người đến
phá hoa mầu và tài sản trên đất tranh chấp và đã bị xét xử bằng bản án dân sự đã
có hiệu lực pháp luật. Mặt khác, vụ án đã được giải quyết bằng quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên không cần thiết
phải triệu tập những người này.
[7] Đối với nội dung kháng cáo về việc cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải
không đúng thủ tục tố tụng: Xác đinh vệc ông Hoàng Văn T trình bày như vậy là
không đúng sự thật vì ngày 07/3/2025 ông Hoàng Văn T đã có văn bản ủy quyền
cho ông Nguyễn Văn H1, Hoàng Đình H2 (BL115- 119), đến ngày 04/4/2025
mới tiến hành hòa giải, như vậy việc hòa giải là đúng trình tự, thủ tục.
[8] Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Do đó, không có căn cứ
để chấp nhận kháng cáo của bị nguyên đơn ông Hoàng Văn T. Do kháng cáo
12
không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo
quy định của pháp luật.
[9] Xét đề nghị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, của người
bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự, đề nghị nào phù hợp với nhận định
trên thì được chấp nhận, đề nghị nào không phù hợp với nhận định trên thì
không được chấp nhận.
[10] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hoàng Văn T; giữ nguyên quyết định
của Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực V, tỉnh Lạng Sơn, trước đây là Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh
Lạng Sơn đối với nội dung có kháng cáo.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; Điều 12, 14, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án: Nguyên đơn ông Hoàng Văn T được miễn án phí phúc thẩm theo quy định
của pháp luật.
3. Về các vấn đề khác
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- TAND Khu vực V, tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND Khu vực V, tỉnh Lạng Sơn;
- THADS tỉnh Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- Người TGTT khác;
- Lưu: HS; Tòa DS; HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Vi Đức Trí
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm