Bản án số 243/2026/DS-PT ngày 04/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 243/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 243/2026/DS-PT ngày 04/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 243/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Công C - Nguyễn Văn T, Huỳnh Thị Bảo Đ - Tranh chấp quyền sở hữu tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 243/2026/DS-PT
Ngày: 04 – 5 – 2026
V/v Tranh chấp quyền sở
hữu tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Thái Bình và ông Nguyễn Anh Dũng.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Huyền Anh - Thư Toà án của Tòa án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29/4/2026 ngày 04/5/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng (Cơ sở 1) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
52/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2026 về việc:“Tranh chấp quyền sở
hữu tài sản”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 Lâm Đồng bị kháng cáo. Theo Quyết
định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 203/2026/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm
2026 Thông báo về việc hoãn phiên tòa phúc thẩm số 14/TB-TA ngày 13
tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Công C, sinh năm 1973; địa chỉ: Khu phố P,
phường H, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Công C: Ông Đỗ Minh T,
sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố B, phường P, tỉnh Lâm Đồng (Theo Hợp đồng
ủy quyền ngày 02/4/2025). (Có mặt)
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973; (Vắng mặt)
2.2. Bà Huỳnh Thị Bảo Đ, sinh năm 1981; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Khu phố P, phường H, tỉnh Lâm Đồng.
2
Người đại diện theo y quyền của bà Huỳnh Thị Bảo Đ: Nguyễn Thụy
Thiên T2, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu phố A, phường P, tỉnh Lâm Đồng (Theo
Hợp đồng ủy quyền ngày 25/3/2026). (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng TMCP V;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Minh H, sinh năm 1986 (Theo
Văn bản ủy quyền số 305/2026/UQN-PLTH2 ngày 08/4/2026). (Có mặt)
Địa chỉ trụ sở chính: a VPBank Tower, số 89 Láng Hạ, phường Đống
Đa, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ Chi nhánh Bình Thuận: Số 132 Trần Hưng Đạo, phường Phú Thủy,
tỉnh Lâm Đồng.
3.2. Nguyễn Thị Minh C1, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố P, phường
H, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị Minh C1: Ông Đỗ Minh
T, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố B, phường P, tỉnh Lâm Đồng (Theo Hợp
đồng ủy quyền ngày 02/4/2025). (Có mặt)
3.3. Công ty Cổ phần M1;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Như T3, sinh năm 1995 - Chức
vụ: Trưởng nhóm XLN (Theo Văn bản ủy quyền số 24204/2026/UQ-XLN-
JUPITERMN ngày 07/4/2026). (Có mặt)
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường C, Thành phố
Hà Nội.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Trịnh Minh Đ1, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố P, phường H,
tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
4.2. Ông Thanh M, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố P, phường H, tỉnh
Lâm Đồng. (Có mặt)
4.3. Ông Nguyễn Trúc N, sinh năm 1996; địa chỉ: Khu phP, phường H,
tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
4.4. Ông Trịnh Minh S, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố P, phường H, tỉnh
Lâm Đồng. (Vắng mặt)
5. Người kháng cáo: Bị đơn Huỳnh Thị Bảo Đ người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
3
1. Trong đơn khởi kiện cũng như các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn ông Huỳnh ng C ủy quyền cho ông Đỗ Minh T
trình bày:
Ngày 20/01/2022, ông đến Công ty T4 mua 01 xe ô Camry số khung
MR2BA3HK404000288, số máy 5656395M20A với số tiền 1.265.800.000đ, tr
tiền mặt 600.000.000đ, còn lại 665.800.000đ vay tiền ngân hàng trả, do ông
đang nợ ngân hàng không vay được nữa nên nhờ ông Nguyễn Văn T1 đứng tên
giùm và được Phòng C2 Công an tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô s
86006620 ngày 20/01/2022, biển kiểm soát 86A-193.30. Sau đó vợ ông Nguyễn
Văn T1 tên Huỳnh Thị Bảo Đ Hợp đồng vay tài sản số LN2201175099901
ngày 20/01/2022 ông T1 cùng Đ Hợp đồng thế chấp số
LN2201175099901 thế chấp xe ô tô 86A-193.30 với Ngân hàng TMCP V Chi
nhánh B vay số tiền 665.800.000đ đtrả cho Công ty T4. Tiền lãi gốc hàng
tháng thì ông C đưa tiền cho Đ trả cho Ngân hàng. Từ khi mua xe xong thì
ông C vẫn sdụng xe đến nay. Do mâu thuẫn trong việc làm ăn nên ông T1
không sang tên xe ô cho ông C. Nay ông Huỳnh Công C khởi kiện yêu cầu
Tòa án công nhận ông Huỳnh Công C chủ sở hữu xe ô con 05 chỗ ngồi,
nhãn hiệu TOYOTA, loại xe Camry, số khung MR2BA3HK404000288, số máy
5656395M20A theo Chứng nhận đăng ô số 86006620, biển kiểm soát
86A-193.30 do Phòng C2 Công an tỉnh B cấp ngày 20/01/2022 đứng tên
Nguyễn Văn T1.
2. Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Thị Bảo Đ trình bày:
Năm 2022, ông T1 bà mua xe 86A-193.30 trị giá 1.331.600.000đ của
Công ty TNHH T4 để s dụng, trả tiền mặt 665.800.000đ còn nợ 665.800.000đ
vay ngân hàng trả, tiền của vợ chồng bỏ ra mua xe 86A-193.30 rồi ông T1 đứng
tên chứ không đứng tên giùm xe cho ông C. Do thiếu tiền trả tiền xe nên
ngày 20/01/2022 bà Huỳnh Thị Bảo Đ đứng ra vay tiền Ngân hàng TMCP V -
Chi nhánh B 665.800.000đ để trả tiền mua xe. Sau khi lấy xe về giữa ông và ông
Huỳnh Công C đang làm ăn chung nên đưa xe cho ông C mượn sử dụng rồi ông
C chiếm đoạt luôn. Ngày 20/02/2023 vợ chồng bị đổ nợ không có tiền trả nợ cho
Ngân hàng nên đã chuyển sang tên cho Nguyễn ThMinh C1 trả nợ thay đ
Ngân hàng khỏi thanh lý xe. Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông
không đồng ý.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Minh C1
trình bày:
Bà là vợ ông Huỳnh Công C, tháng 01/2022 vợ chồng bà có mua 01 xe ô tô
Camry số khung MR2BA3HK404000288, số máy 5656395M20A với số tin
1.265.800.000đ của Công ty TNHH T4, trả tiền mặt 600.000.000đ, còn lại
665.800.000đ vay tiền ngân hàng trả, do ông C đang nNgân hàng không cho
4
vay được nữa nên ông C nhờ ông Nguyễn Văn T1 đứng tên xe giùm được
Phòng C2 Công an tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng xe ô số 86006620
ngày 20/01/2022, biển kiểm soát 86A-193.30. Sau đó, vợ chồng bà nhờ
Huỳnh Thị Bảo Đ Hợp đồng vay tài sản số LN2201175099901 ngày
20/01/2022 ông T1 cùng bà Đ Hợp đng thế chấp số LN2201175099901
thế chấp xe ô tô 86A-193.30 với Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh B vay số tiền
665.800.000đ để trả cho Công ty T4. Hàng tháng đưa tiền mặt hoặc chuyển
khoản cho Đ để Đ trả cho Ngân hàng giúp. Ngày 20/02/2023, cùng
Đ trực tiếp đến Ngân hàng V1 làm thủ tục chuyển ứng dụng thanh toán từ Đ
sang tên Nguyễn Thị Minh C1 để bà C1 trực tiếp trả nợ gốc lãi cho Ngân
hàng V1. Nay do mâu thuẫn trong việc làm ăn nên ông T1 không sang tên xe
cho ông Huỳnh Công C. Nay đề nghị Tòa án giải quyết công nhận ông
Huỳnh Công C là chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 86A-193.30.
4. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V - Chi
nhánh B vắng mặt không trình bày gì.
5. Những người làm chứng ông Thanh M ông Nguyễn Trúc N
cùng trình bày: Đầu năm 2022, ông Huỳnh ng C mua xe ô biển số 86A-
193.30 mang về mời chúng tôi nhậu rửa xe, rồi từ đó ông C sử dụng xe ô
tô biển số 86A-193.30 từ đó đến nay.
6. Những người làm chứng ông Trịnh Minh Đ1 ông Trịnh Minh S
vắng mặt nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/9/2025 cùng trình bày:
Đầu năm 2022, ông Huỳnh Công C mua xe ô tô biển số 86A-193.30 mang về và
mời chúng tôi nhậu rửa xe, rồi từ đó ông C sử dụng xe ô biển số 86A-
193.30 từ đó đến nay.
* Tại Bản án dân sự thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 – Lâm Đồng, đã quyết định:
1. Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 273, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 158, Điều 161, Điều 163, Điều 164 khoản 2 Điều 221 Bộ lut Dân sự
năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
2. Tuyên xử: Chấp nhận toàn byêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Công
C, về việc yêu cầu Tòa án công nhận ông Huỳnh Công C chủ sở hữu xe ô
con 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe Camry, số khung
MR2BA3HK404000288, số máy 5656395M20A theo Chứng nhận đăng ô
số 86006620, biển kiểm soát 86A-193.30 do Phòng C2 Công an tỉnh B cấp ngày
20/01/2022 đứng tên Nguyễn Văn T1.
Ông Huỳnh Công C nghĩa vụ đăng chủ sở hữu xe với quan
thẩm quyền. Kể tngày bản án này có hiệu lực pháp luật thì quan có thẩm
5
quyền căn cứ bản án này cấp chứng nhận đăng xe ô cho ông Huỳnh Công
C.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án
và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Huỳnh Thị Bảo Đ và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V nộp đơn kháng o toàn bộ bản án n
sự thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy Bản án dân sự thẩm
số 52/2025/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 –
Lâm Đồng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn Huỳnh Thị Bảo Đ gi nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa
án cấp phúc thẩm xem xét hủy Bản án dân sự thẩm số 52/2025/DS-ST ngày
20 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 Lâm Đng cấp
thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
- Ngân hàng TMCP V, Công ty Cổ phần M1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
hủy bản án dân sự sơ thẩm để xét xử lại. Tòa án cấp sơ thẩm không tống đạt cho
ngân hàng theo địa chỉ trụ schính chỉ tống đạt tại Chi nhánh B chưa
đúng, không đưa Công ty Cphần M1 vào tham gia tố tụng đã ảnh hưởng đến
quyền lợi của Công ty Cổ phần M1.
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh C1 đề nghị
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc tuân theo pháp luật trong qtrình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
và quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các
đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung ván: Việc cấp thẩm xác định quyền sở hữu xe ô
thuộc về ông Huỳnh Công C căn cứ. Việc Tòa án cấp thm không giải
quyết về Hợp đồng tín dụng vẫn không ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng
TMCP V ng ty Cổ phần M1 các đương sự không yêu cầu độc lập,
nếu tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác và đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm bổ sung phần nghĩa vụ của ông C khi tiếp nhận quyền sở hữu xe
ô tô. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án n sự thẩm, không chấp
6
nhận kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Bảo Đ và người có quyền lợi, nghĩa v
liên quan Ngân hàng TMCP V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ o các i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tng: Bà Huỳnh Thị Bảo Đ và Ngân ng TMCP V kháng
cáo trong thời hạn đúng quy định pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ
tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thụ
gii quyết đúng quy định tại khoản 2 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa, Công ty Cổ phần M1 đề nghị được tham gia tố tụng với
cách người quyền lợi, nghĩa vliên quan đến vụ án. Theo chứng cứ
Công ty Cổ phần M1 cung cấp thể hiện công ty đã mua phần nợ của Ngân hàng
TMCP V trong đó Hợp đồng tín dụng giữa Huỳnh Thị Bảo Đ vi Ngân
hàng TMCP V, không liên quan đến việc tranh chấp quyền sở hữu xe, tuy
nhiên, việc mua bán nợ đã thể hiện số Hợp đồng tín dụng đ làm vụ
việc, bảo đm quyền lợi cho Công ty Cổ phần M1, HĐXX đưa Công ty Cổ phần
M1 vào tham gia tố tụng tại phiên tòa. Đối với ông Nguyễn Văn T1 đã được Tòa
án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không do. Do đó HĐXX
giải quyết vụ án vắng mặt đương sự.
[3] Xét kháng cáo của Huỳnh ThBảo Đ, HĐXX nhận thấy: Giữa các
bên đương stranh chấp quyền sở hữu chiếc xe ô 5 chỗ ngồi biển số 86A-
193.30 nhãn hiệu TOYOTA, loại xe CAMRY. Nguyên đơn bị đơn đều xác
định mình là người sở hữu xe ô tô này. Về giấy tờ xe do Công an tỉnh B cấp giấy
Chứng nhận đăng ô số 86006620 ngày 20/01/2022 đứng tên Nguyễn Văn
T1.
[4] Xét việc quản lý sử dụng xe ô tô: Sau khi mua xe ô tô, ông Huỳnh Công
C mang xe về nhà cất giữ, sử dụng từ ngày 18/01/2022 đến nay. Nội dung được
các đương sự thừa nhận, phù hợp với lời khai của những người làm chứng: Ông
Trịnh Minh Đ1, ông Trịnh Minh S, ông Thanh M ông Nguyễn Trúc N.
Trong quá trình sử dụng xe đến khi ông C khởi kiện thì giữa ông T1 ông C
không tranh chấp, giữa các bên không văn bản chính thức thỏa thuận về việc
sử dụng xe như thế nào. Ông C người đăng ký tài khoản giao thông với Công
ty Cổ phần G (Ứng dụng EPASS). Ngân ng giữ bản chính giấy đăng xe
nên sau 03 tháng C1 ông C trả tiền gốc lãi cho ngân hàng đầy
đủ thì
ngân hàng cấp cho ông C“Giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng
ký phương tiện giao thông đang thế chấp” để xuất trình khi tham gia giao thông.
Như vậy ông C là người sử dụng xe ô tô công khai từ lúc mua đến nay.
7
[5] Về việc trả tiền mua xe ô tô: Để mua xe ô , ông C v ông C
Nguyễn Thị Minh C1 nhờ Huỳnh Thị Bảo Đ Hợp đồng vay tiền thế
chấp xe ô 86A-193.30 cho Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh B rồi bà C1 đưa
tiền cho Đ trả cho Ngân hàng hàng tháng. Đến ngày 20/02/2023 Đ không
trả tiền cho Ngân hàng nữa mà chuyển sang cho bà C1 thể hiện tại lời khai thống
nhất giữa C1 và bà Huỳnh Thị Bảo Đ các Biên lai giao dịch ATM ngày
21/3/2023 trở về sau. Bà C1 cung cấp chứng cứ thể hiện bà là người trả nợ ngân
hàng. Trong khi đó chính Đ thừa nhận nời chuyên kinh doanh cầm cố,
thế chấp tài sản trong đó xe ô tô, nhưng ô tô vẫn sử dụng biển kiểm soát u
trắng thì việc ông C sử dng xe ô tô không thế chấp, không vay mượn C1
nhận trả nợ thay Đ tại Ngân hàng không sthỏa thuận nào khác bng
văn bản thì chỉ có chủ sở hữu thực tế mới thực hiện.
[6] Ngoài ra ông Huỳnh ng C còn làm một số thủ tục theo tập quán địa
phương được mọi người đều thừa nhận chỉ chính người chsở hữu xe mới
thực hiện như cúng xe, tổ chức tiệc mua xe mới (Hay còn gọi là “Rửa xe”).
[7] Như vậy với các chứng cứ trong hồ vụ án với nội dung đã phân tích
như trên đủ cơ sở xác định ông Huỳnh Công C là chủ sở hữu xe ô tô hiệu Toyota
Camry BKS 86A-193.30. Tòa án cấp thẩm công nhận quyền sở hữu xe ô
cho ông C, bà C1 là hợp tình, hợp lý.
[8] Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP V, HĐXX nhận thấy:
[8.1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt hp lệ các văn bản
tố tụng cho Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh B do giao dịch xuất phát từ chi
nhánh của pháp nhân từ đó pháp nhân quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ
giao dịch dân sự do chi nhánh xác lập, thực hiện. Ngân hàng TMCP V cho rằng
Tòa án chỉ mời chi nhánh nên Ngân hàng TMCP V không thể tham gia tố tụng
không đúng quy định tại Điều 86 Bộ luật Dân sự. Do đó Tòa án cấp thẩm
giải quyết vắng mặt ngân hàng là đúng quy định.
[8.2] Về việc Tòa án cấp thẩm không giải quyết số nợ đến hạn của Hợp
đồng tín dụng xử Hợp đồng thế chấp xe giữa ngân hàng vợ chồng ông
Nguyễn Văn T1, Huỳnh Thị Bảo Đ. Trong vụ án này, tại cấp thẩm, ngân
hàng không có yêu cầu độc lập, chưa khởi kiện, ông C, bà C1, ông T1, bà Đ đều
thừa nhận toàn bộ số nợ ngân hàng, đều chkết quả giải quyết vụ án mới tiếp
tục xử khoản nợ của ngân hàng. Như vậy giữa các bên đương sự đều chưa
phát sinh tranh chấp về Hợp đng tín dụng và Hp đng thế chấp, n Tòa án
không giải quyết về Hợp đng tín dụng Hợp đồng thế chấp hoàn toàn
căn cứ. Việc xác định lại chủ sở hữu xe ô tô không ảnh hưởng đến quyền lợi của
ngân hàng cũng như bên mua nợ Công ty Cổ phần M1. Các đương s
quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác. Để bảo đảm việc giải quyết vụ án,
HĐXX cần bổ sung phần chuyển giao quyền nghĩa vụ đối với Hợp đồng tín
8
dụng Hợp đồng thế chấp Đ, ông T1 đã kết với ngân hàng khi công
nhận quyền sở hữu xe ô tô cho ông C, bà C1.
[9] Qua hồ sơ vụ án, xem xét toàn bộ quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm và tại
phiên tòa xét xử phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp chứng cứ mới
để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo do đó yêu cầu kháng cáo của Huỳnh
Thị Bảo Đ Ngân hàng TMCP V không sở chấp nhận. Ý kiến của
kiểm sát viên tại phiên tòa phợp với nhận định của XX nên chấp nhận.
HĐXX quyết định giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[10] Về án phí: Người kháng cáo phải nộp án phí dân sự phúc thẩm do yêu
cầu kháng cáo không được chấp nhận theo khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
[11] Những quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo,
không bkháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2025;
Tuyên x: Không chấp nhận kháng cáo của Huỳnh Thị Bảo Đ; Không
chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP V. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu
vực 12 – Lâm Đồng.
2. Căn cứ:
- Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 5, Điều 86, điểm c khoản 1 Điều 121, Điều 221, Điều 238, Điều
275, Điều 370, Điều 371 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Tuyên xử:
3.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Công C, về việc
yêu cầu Tòa án công nhận ông Huỳnh Công C, Nguyễn Thị Minh C1 chủ
sở hữu xe ô con 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe Camry, số khung
MR2BA3HK404000288, số máy 5656395M20A theo Chứng nhận đăng ô
số 86006620, biển kiểm soát 86A-193.30 do Phòng C2 Công an tỉnh B cấp ngày
20/01/2022 đứng tên Nguyễn Văn T1.
9
3.2. Ông Huỳnh Công C, bà Nguyễn Thị Minh C1 có nghĩa vụ đăng ký ch
sở hữu xe với quan thẩm quyền. Kể từ ngày bản án này hiệu lực pháp
luật thì cơ quan có thẩm quyền căn cứ bản án này cấp Chứng nhận đăng ký xe ô
tô cho ông Huỳnh Công C, bà Nguyễn Thị Minh C1.
3.3. Chuyển giao toàn bộ quyền nghĩa vụ của Huỳnh Thị Bảo Đ và
ông Nguyễn Văn T1 sang cho ông Huỳnh Công C, Nguyễn ThMinh C1 tại
Hợp đồng vay tài sản số LN2201175099901 ngày 20/01/2022 Hợp đng thế
chấp số LN2201175099901 thế chấp xe ô 86A-193.30 với Ngân hàng TMCP
V – Chi nhánh B.
Nếu phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vtrong hp đồng, các bên
quyền khởi kiện tranh chấp tại Tòa án có thẩm quyền.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Huỳnh Công C không chịu án phí dân sự thẩm. Hoàn trả cho ông
Huỳnh Công Ẩn S1 tiền 24.750.000đ (Hai mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi
ngàn đồng) do ông Huỳnh Công C nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Toà án số 0014224 ngày 25/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm
Thuận Bắc (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Lâm Đồng).
- Vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 Huỳnh Thị Bảo Đ phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
- Ngân hàng TMCP V Chi nhánh B Nguyễn Thị Minh C1 không
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Huỳnh Thị Bảo Đ phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003398 ngày 23/9/2025 của quan
Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Ngân hàng TMCP V phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005090 ngày 14/10/2025 của quan
Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
10
6. Nhng quyết định khác của bn án thẩm không kháng cáo, không
bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày
04/5/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND, VKSND KV12 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS KV12 - Lâm Đồng;
- Công an tỉnh Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Cổng TTĐT-TANDTC;
- Lưu: Hồ sơ; Tòa DS; Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lê Phương
Tải về
Bản án số 243/2026/DS-PT Bản án số 243/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 243/2026/DS-PT Bản án số 243/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất