Bản án số 65/2026/DS-PT ngày 06/04/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 65/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 65/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 65/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 65/2026/DS-PT ngày 06/04/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ngãi |
| Số hiệu: | 65/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Phạm Thế V tranh chấp đòi tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 65/2026/DS-PT
Ngày: 06 – 4 – 2026
V/v: Tranh chấp đòi lại quyền
sử dụng đất bị lấn chiếm
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Giang
Các Thẩm phán: Lương Văn Hùng;
Ông Nguyễn Hành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tiến Đạt – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 06/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2025/TLPT-DS ngày
09/10/2025, về việc: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 23/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 152/2025/QĐ-PT ngày
17 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Thế V, sinh năm 1964; địa chỉ: Số D, đường H,
phường K, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Ông Phạm Kim P, sinh năm 1970; địa chỉ: Số A, đường Đ,
phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn: Ông Đào Đức H, Luật sư của
Công ty L - Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ trụ sở: Số A đường H,
phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị T, sinh năm 1974;
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Ông Phạm Thế V, sinh năm
1964;
2
Cùng địa chỉ: Số D, đường H, phường K, tỉnh Quảng Ngãi.
Bà Trần Thị C, sinh năm 1972; địa chỉ: Số A, đường Đ, phường Đ, tỉnh
Quảng Ngãi.
4. Người kháng cáo: Ông Phạm Kim P, là bị đơn.
Tất cả người tham gia tố tụng đều có mặt tại phiên toà phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Thế V trình bày:
Năm 2003, ông V mua mảnh đất tại đường Đ, phường D, thành phố K của
ông Nguyễn Công S. Mảnh đất này ông S mua lại của ông Hy A và chưa làm
thủ tục sang tên đổi chủ, nên ông S đã liên hệ ông Hy A để ông Hy A ký giấy
trực tiếp chuyển nhượng lại cho ông V. Ông V đã làm thủ tục chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Trong quá trình làm thủ tục, nhân viên Phòng Địa chính thị
xã K đã đo đạc, cắm mốc. Theo mốc đó, ông V đã cắm một số trụ bê tông nhưng
không rào để xác định ranh giới. Trong quá trình xác nhận tứ cận, các chủ đất
xung quanh đều đồng ý ký tên và lúc đó bà Phan Thị Đ cũng ký giáp ranh cho
ông, không có ý kiến gì. Ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tại thửa đất số 55-5, tờ bản đồ số 24, diện tích 142,5m
2
, tại phường D, thị xã K
(sau này là thành phố K), tỉnh Kon Tum, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00307/QSDĐ/02307/143/QĐ-UB(TX) do Phó Chủ tịch UBND thị xã K cấp
ngày 21/8/2003 cho ông Phạm Thế V (sau đây được viết tắt là thửa 55-5). Đây
là tài sản chung của vợ chồng ông V, bà T.
Do ông V có nhà ở nơi khác; trước đây khi xung quanh chưa xây nhà,
hàng năm vợ chồng ông V, bà T vẫn lên kiểm tra, mọi việc vẫn bình thường.
Sau khi các phía đã xây nhà, do nghĩ mảnh đất đã ổn định nên vợ chồng ông V,
bà T ít ghé qua để kiểm tra. Đến khoảng cuối năm 2023, khi vợ chồng ông V, bà
T có ý định sử dụng mảnh đất trên thì phát hiện ông P có nhà giáp phía Bắc với
mảnh đất của ông V, bà T đã lấn chiếm, rào chắn toàn bộ đất của ông V, cụ thể:
+ Phía Đ1 (giáp đường Đ) rộng 7,5m.
+ Phía T1 (giáp nhà ông Hoàng Đình C1) rộng 7,5m.
+ Phía Bắc (giáp đất ông Phạm Kim P) dài 19m.
+ Phía Nam (giáp nhà ông Nguyễn Công V1) dài 19m.
Sau khi phát hiện ông Phạm Kim P rào chắn toàn bộ thửa đất, ông V đã
nhiều lần yêu cầu ông P dỡ bỏ rào chắn, trả lại quyền sử dụng đất hợp pháp cho
ông V nhưng ông P không thực hiện, nên ông V làm đơn yêu cầu UBND
phường D, thành phố K hòa giải, tại UBND phường ông P không cung cấp giấy
tờ gì và không đồng ý trả lại đất. Do đó, ông V làm đơn yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc ông P tháo dỡ các tài sản gắn liền với phần đất phải trả lại như: rào
3
chắn, bàn thờ, cây trồng trên đất theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của
Tòa án.
- Ý kiến của bị đơn ông Phạm Kim P trình bày: Đất của ông V là đất của gia
đình ông P đang quản lý, sử dụng; do đó, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn ông Phạm Thế V. Gia đình ông P tự san bằng hố bom có diện
tích đất của ông V chi phí khoảng 30.000.000 đồng từ năm 1994 tới nay, ông P
không biết giá đất thời điểm hiện tại như thế nào và gia đình ông P đang canh
tác trên lô đất này.
- Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T tại phiên tòa:
Thửa đất số 55-5 là tài sản chung của vợ chồng bà (ông V, bà T), hiện đang bị
ông Phạm Kim P chiếm giữ trái phép toàn bộ thửa đất nên bà thống nhất với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời yêu cầu bị đơn ông Phạm Kim P trả
lại toàn bộ quyền sử dụng đất cho gia đình bà sử dụng.
- Lời khai của ông Hy A (bút lục 32): Ông Hy A là chủ đất trước đây của
thửa 55-5, được nhà nước cấp cho ông H1 Am theo Quyết định cấp đất năm
1994. Khi cấp đất ông Hy A đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
W013728. Khi nhận đất thì đất đã có cọc phân chia vị trí ranh các thửa đất. Khi
được cấp đất xong, ông Hy A chưa xây dựng gì trên đất (đất trống); thời điểm
đó khu vực xung quanh chỉ mới có 01 căn nhà. Đây là tài sản riêng của ông Hy
A, do không sử dụng nên đã chuyển nhượng cho thầy S, nhưng do thầy S chưa
làm giấy tờ đất rồi chuyển nhượng lại cho ông V; vậy nên thầy S có nói ông Hy
A ký luôn giấy tờ mua bán từ ông Hy A qua ông V luôn.
Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 23/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 7 - Quảng Ngãi đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đề ngày 12/3/2024 về việc “Tranh chấp
đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm” của ông Phạm Thế V đối với ông Phạm
Kim P.
2. Buộc ông Phạm Kim P trả lại cho ông Phạm Thế V thửa đất số 55-5, tờ
bản đồ 4, địa chỉ: Đường Đ, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay là
phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) có diện tích 142,5m
2
; theo đo đạc thực tế có diện
tích 138,1m
2
; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00307
QSDĐ/02307/143/QĐUB(TX), ngày 27/08/2003 của UBND thị xã K, tỉnh Kon
Tum (cũ) cấp cho ông Phạm Thế V.
(Có sơ đồ đất đo đạc cung cấp kèm theo).
3. Buộc ông Phạm Kim P phải tháo dỡ, di dời các tài sản gắn liền với đất
của ông Phạm Thế V gồm: 01 cây mít tố nữ trồng (theo bị đơn khai trồng năm
1998); 01 gốc cây dầu khuynh diệp (bạch đàn) trồng năm 1976 (theo bị đơn
khai); 03 cây đu đủ trồng năm 2018, 01 bàn thờ và dây kẽm gai rào phía đông
(mặt tiền) thửa đất của ông Phạm Thế V.
4
(Hiện trạng tài sản được mô tả theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 25/02/2025 của Tòa án và Biên bản định giá tài sản ngày 22/4/2025 của
Hội đồng định giá).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và
quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 04/9/2025 bị đơn là ông Phạm Kim P có đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số
11/2025/DS-ST ngày 23/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi.
Ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn là Luật sư
Đào Đức H và bị đơn Phạm Kim P tại phiên toà phúc thẩm: Bị đơn giữ nguyên
nội dung đơn kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử hủy bản án Bản án sơ thẩm số
11/2025/DS-ST ngày 23/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi,
với lý do: Toà án cấp sơ thẩm không xác định được chính xác vị trí đất tranh
chấp, cấp phúc thẩm cũng đã thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ nhưng cũng
không xác định được, thửa đất của nguyên đơn là thửa 55-5, phía bắc giáp với
thửa 55-4. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về
cấp sơ thẩm xét xử lại.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên toà phúc
thẩm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi Tòa án cấp phúc thẩm
thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện
đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Phạm Kim P làm trong hạn luật
định là hợp lệ theo các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
và diễn biến công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân
sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 23/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7-
Quảng Ngãi.
Về án phí, chi phí tố tụng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
5
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà; kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội
đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phạm Kim P đúng quy định tại Điều 272,
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, đơn kháng cáo của ông Phạm Kim
P hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, vợ ông Phạm Kim P là bà
Trần Thị C có đơn yêu cầu tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Xét thấy, bà C là vợ bị đơn, các tài sản gắn liền
trên thửa đất tranh chấp là tài sản chung của bị đơn và bà C nên Toà án cấp phúc
thẩm đã bổ sung bà C tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan.
[1.3] Tại phiên toà phúc thẩm, ông Phạm Kim P nộp bổ sung bản sao
không có công chứng, chứng thực hồ sơ thiết kế nhà của ông tại đường D,
phường D để chứng minh thửa đất có nhà ông đang ở giáp với thửa đất số 55-4,
ngoài ra không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới; các đương sự có mặt đều
trình bày tất cả các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Toà án cấp sơ thẩm,
không cung cấp thêm tại cấp phúc thẩm. Sau khi tạm ngừng phiên toà, toà án
cấp phúc thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu của bị đơn
ông Phạm Kim P và thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ do UBND phường Đ,
tỉnh Quảng Ngãi và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực VIII lưu
giữ. Kết quả đo đạc lại, diện tích thực tế của thửa đất tranh chấp (hiện nay là
một phần thửa đất số 159, tờ bản đồ số 26, tại phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) là
151,2m
2
(tăng 8,7m
2
so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là sai số cho
phép trong đo đạc và không có tranh chấp ranh giới với các hộ liền kề), ngoài ra
không có tài liệu, chứng cứ gì mới so với tài liệu, chứng cứ do cấp sơ thẩm đã
thu thập. Vì vậy, Toà án cấp phúc thẩm xét xử trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ
đã thu thập có tại hồ sơ vụ án.
[2] Xét kháng cáo của ông Phạm Kim P:
Nguồn gốc thửa 55-5 của ông Phạm Thế V nhận chuyển nhượng của ông
Hy A đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông V đi làm thủ
tục chuyển nhượng, tại Biên bản xác minh tứ cận hộ nhận chuyển nhượng, cụ
Phan Thị Đ (mẹ của bị đơn Phạm Kim P) đã ký giáp ranh với ông V, sau đó ông
V đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
Ông Phạm Kim P có nhà trên thửa đất số 158, tờ bản đồ số 26, tại phường
Đ, tỉnh Quảng Ngãi và rào chắn, trồng cây trên diện tích đất tranh chấp, ông P
cho rằng diện tích đất tranh chấp là thửa đất số 55-4, tờ bản đồ số 24, tại phường
D, thị xã K, tỉnh Kon Tum trước đây. Tuy nhiên, tại Biên bản xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 16/4/2025 (bút lục 143) có sự tham gia của nguyên đơn, bị
đơn và Ủy ban nhân dân phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay là phường
Đ, tỉnh Quảng Ngãi) đều xác định thửa đất liền kề phía bắc thửa đất tranh chấp
6
là thửa đất số 55-4 đang có nhà của ông Phạm Kim P, ngoài ra ông P không có
tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh mình có quyền sử dụng hợp pháp đối với
thửa đất tranh chấp. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là có căn cứ.
Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Kim P. Tuy
nhiên, cần sửa lại cách tuyên án cho phù hợp với việc bổ sung người tham gia tố
tụng tại cấp phúc thẩm và kết quả xem xét, thẩm định ngày 13/11/2025.
[3] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2025 là 21.388.000
đồng, ông Phạm Kim P phải chịu là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 157
Bộ luật Tố tụng dân sự, ông P đã nộp đủ và đã chi xong.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Phạm Kim P không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp.
[5] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm
Kim P không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với nhận
định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bộ luật
Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Phạm Kim P.
2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 23/8/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 7- Quảng Ngãi.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 166, Điều 174, khoản 1 Điều 176 Bộ luật Dân
sự năm 2015; khoản 5 và khoản 8 Điều 26 Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật
Tố tụng dân sự;
3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thế V, buộc ông Phạm
Kim P và bà Trần Thị C chặt 01 cây bạch đàn tái sinh, 01 cây mít tố nữ và thu
dọn các cây hoa màu khác trên đất; tháo dỡ một trang thờ bằng gỗ đóng trên
vách phía nam nhà ông Phạm Kim P; tháo dỡ 04 trụ bê tông và 7,4m lưới B40
trên ranh giới phía Bắc của thửa đất số 55-5, tờ bản đồ số 4, địa chỉ đường Đ,
phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay là một phần thửa đất số 159, tờ bản
7
đồ số 26, tại phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) để trả lại thửa đất này cho ông Phạm
Thế V và bà Lê Thị T, diện tích đo đạc thực tế là 151,2m
2
(được ký hiệu là
trong sơ đồ kèm theo bản án) có độ dài các cạnh và giới cận như sơ đồ kèm theo
bản án.
(Sơ đồ là một bộ phận không tách rời bản án)
3.2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Kim P phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; ông Phạm Thế V không phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Phạm Thế V 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000072 ngày
16/4/2024 của Chi cục Thi hành án thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Quảng Ngãi).
3.3. Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Buộc ông Phạm Kim P phải chịu
toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại cấp sơ
thẩm, tổng cộng 7.900.000 đồng (Bảy triệu chín trăm nghìn đồng). Số tiền này
ông Phạm Thế V đã nộp tạm ứng nên buộc ông Phạm Kim P phải hoàn trả lại
cho ông Phạm Thế V số tiền 7.900.000 đồng (Bảy triệu chín trăm nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Kim P không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho ông P 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số
0001034, ngày 09/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
5. Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Ông Phạm Kim P phải chịu
21.388.000 đồng (hai mươi mốt triệu ba trăm tám mươi tám nghìn đồng) chi phí
đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2025. Ông P đã nộp tạm ứng đủ
và đã chi xong.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
- TAND khu vực 7 – Quảng Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 7 – Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, Toà Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(đã ký)
Lê Thị Mỹ Giang
8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm