Bản án số 63/2026/DS-PT ngày 02/04/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 63/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 63/2026/DS-PT ngày 02/04/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 63/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế và tài sản chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 63/2026/DS-PT
Ngày: 02/4/2026
V/v “Tranh chấp thừa kế về tài sản và
chia tài sản chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Giang.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Diễnông Nguyễn Hành
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong Thư Tòa án nhân n
tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà:
Phan Thị Tứ Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 148/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng
12 năm 2025, về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản chia tài sản chung”.
Do bản án dân sự thẩm số: 13/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 6 - Quảng Ngãi bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm số: 36/2026/QĐXX-PT ngày 06 tháng 02 m 2026; Quyết định hoãn
phiên toà số: 53/2026/QĐ-PT ngày 06 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Nguyễn Thị L - sinh năm 1976; cư trú tại tổ dân phố A,
phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại din theo u quyn của nguyên đơn: Ông Hunh Ngc , sinh
năm 1975; địa ch: S 80 H, phường N, tnh Qung Ngãi; có mt.
- B đơn: Ông Nguyn Hu L - sinh năm 1968; trú ti t dân ph A,
phường Đ, tỉnh Qung Ngãi; có mt.
- Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyn Th H- sinh năm 1970; trú ti t dân ph X, phường Đ,
tnh Qung Ngãi; vng mt.
2/ Nguyn Th B- sinh năm 1974; trú tại t dân ph A, phường Đ,
2
tnh Qung Ngãi; vng mt.
3/ Đoàn Thị Kim A - sinh năm 1971; trú ti t dân ph A, phường
Đ, tỉnh Qung Ngãi; có mt.
4/Hunh Th Ngc B- sinh năm 1974; cư trú tại t dân ph A, phường
T, tnh Qung Ngãi; vng mt.
Người kháng cáo: Nguyễn Thị L là nguyên đơn, ông Nguyễn Hữu L
bị đơn Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 17/3/2022, đơn khởi kiện bổ sung ghi ngày
20/5/2022, c văn bản trình bày khác trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ của Nguyễn Thị L là cụ Nguyễn Hữu G và cụ Thị L. Cụ G
cụ L 04 người con là: Nguyễn Hữu L, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B
Nguyễn Thị L. Ngoài 04 người con nêu trên thì cụ G cụ L không người
con nào khác.
Khi còn sống, cụ G và cụ L có tạo lập 01 mảnh vườn tọa lạc tại tổ dân phố
An Thường, phường Phổ Hòa, thị Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, cụ G cụ L
đã xây dựng nhà trên mảnh vườn nêu trên từ trước năm 1975 các con của
cụ G và cụ L đều được sinh ra trên mảnh vườn này.
Ngày 30/01/1999 cụ Gchết, đến ngày 09/8/2006 cụ Lchết. Trước khi chết
thì cụ G và cụ L đều không để lại di chúc.
Sau khi cụ G cụ L chết thì đến ngày 08/11/2006 mảnh vườn của cụ G
cụ L được Ủy ban nhân dân huyện Đcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(Sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) đứng tên cụ Lê Thị L, thuộc thửa đất số 317, tờ
bản đồ 4, diện tích 677,7m
2
, tại P, huyện Đ (nay phường Đ), tỉnh Quảng
Ngãi (Sau đây được viết tắt thửa 317) theo GCNQSDĐ số phát hành: AL
xxxxxx, số vào sổ: Hxxxxx. Đến năm 2017 ông L bảo L các chị của L
đến Ủy ban nhân dân P để ký vào giấy thỏa thuận giao cho ông L phần đất
di sản của cụ Lđể lại, còn phần đất di sản của cụ Gđể làm nơi thờ cúng để
cho Lchỗ ổn định về sau. Tuy nhiên, ông L lại khai toàn bộ thửa đất
của cha mẹ để lại được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Ngãi cấp
GCNQSDĐ cho ông L vào ngày 25/5/2021, thuộc thửa đất số 601, tờ bản đồ 4,
diện tích 677,7m
2
tại P, huyện Đ (nay phường Đ), tỉnh Quảng Ngãi. Hiện
nay, thửa đất nêu trên được biến động thành 02 thửa đất là: Thửa đất số 602, tờ
bản đồ số 4, diện tích 166,5m
2
thửa đất số 603, tờ bản đồ số 4, diện tích
511,2m
2
.
3
Năm 2021 ông L tháo dỡ nhà ở của cha mẹ để xây dựng lại nhà mới, từ đó
gây khó khăn về chỗ ở của bà L, kể cả gây khó khăn cho các chị, em của bà L về
đốt nhang, hương khói cho ông bà, cha mẹ.
Theo đơn khởi kiện, Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết: Chia di
sản thừa kế của cụ Nguyễn Hữu G ½ diện tích thửa 317 cho bà L các đồng
thừa kế ông Nguyễn Hữu L, Nguyễn Thị H Nguyễn Thị B. Tuy
nhiên, theo thông tin do UBND phường P cung cấp thì nguồn gốc thửa 317 được
cân đối theo Nghị định 64-CP cho hộ gia đình ông Nguyễn Hữu G, riêng đất
không cân đối. vậy, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án
giải quyết:
- Chia tài sản chung đối với 476,5m
2
đất BHK đã được cân đối theo Nghị
định 64-CP của Chính phủ, thuộc thửa 317 (nay thuộc thửa đất số 603, tờ bản đồ
số 4, tại phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) cho cụ Nguyễn Hữu G, cụ Thị L, ông
Nguyễn Hữu L, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị L
Huỳnh Thị Ngọc B, mỗi người được nhận diện tích đất là 68,07m
2
. L đồng ý
nhận phần tài sản mà bà Huỳnh Thị Ngọc B được chia nhưng bà B giao cho bà L
được toàn quyền sử dụng.
Chia thừa kế phần di sản của cụ G để lại 100m
2
đất 68,07m
2
đất
BHK, thuộc thửa 317 cho cụ Lê Thị L, ông Nguyễn Hữu L, Nguyễn Thị H,
Nguyễn Thị B Nguyễn Thị L, mỗi người được nhận 20m
2
đất
13,61m
2
đất BHK.
Giao kỷ phần thừa kế L, B và H được chia phần tài sản
trong khối tài sản chung L, B, H B được chia cho Nguyễn
Thị L nhận, tổng cộng là 373,11m
2
đất, trong đó có: 313,11m
2
đất BHK và 60m
2
đất ở. Bà L đồng ý thanh toán lại cho bà B và bà H giá trị kỷ phần thừa kế mà
B H được chia phần tài sản trong khối tài sản chung B H
được chia.
Đối với phần di sản thừa kế của cụ L đlại thì L đã ký văn bản thoả
thuận đồng ý để cho ông Nguyễn Hữu L nên L không yêu cầu chia. Đối vi
thửa đất số 602, tờ bản đồ số 4, diện tích 166,5m
2
(đo đạc thực tế là 165,2m
2
) đã
được ông L chuyển nhượng cho Dương Văn T thì L không yêu cầu Toà án
giải quyết vì: Phần diện tích đất này thuộc di sản thừa kế của cụ Thị L
anh, chị, em của L đã thỏa thuận giao cho ông L.
Tại đơn phản hồi đề ngày 29/6/2022, bản trình bày ý kiến đề ngày
08/7/2022, c văn bản trình bày khác trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Hữu L trình bày:
Về quan hệ huyết thng thì ông thống nhất với trình của Nguyễn Thị
L.
Khi còn sống, cha mẹ của ông có diện tích đất làm nhà ở tại thửa 317. Sau
khi cha của ông chết (ngày 30/01/1999) thì mẹ của ông tiếp tục sử dụng thửa đất
này, do mẹ của ông già yếu nên ông người nộp thuế sử dụng đất cho Nhà
nước từ trước đến nay.
4
Ngày 08/11/2006 Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp GCNQSDĐ số vào sổ:
H01474 đối với thửa đất nêu trên cho mẹ của ông là cụ Lê Thị L. Ngày
08/9/2007 (âm lịch) mẹ của ông chết nhưng khi đi đăng khai tử vào năm
2017, ông khai nhầm mẹ ông chết vào ngày 09/8/2006. Sau khi mẹ của ông
chết thì ông tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên đến nay.
Ngày 26/5/2017 các anh, ch, em của ông đến Ủy ban nhân dân P để
lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, trong đó anh, chị, em của ông là
Nguyễn Hữu L, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị L Nguyễn Thị H xác định: Anh,
chị, em của ông những người thừa kế theo pháp luật của cụ Thị L, chết
ngày 09/8/2006, trước khi chết cụ L không để lại di chúc hoặc bất kỳ nghĩa vụ
tài sản nào, di sản thừa kế của cụ Thị L chết để lại quyền sử dụng đất của
thửa 317. Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị L Nguyễn Thị H thống nhất
nhường quyền hưởng di sản thừa kế của mình và tặng cho toàn bộ di sản thừa kế
nói trên cho ông; ông xin nhận thừa kế di sản nói trên của cụ L để lại trọn
quyền làm thủ tục cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật. Văn bản phân
chia di sản thừa kế nêu trên được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận ngày
26/5/2017.
Theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nêu trên thì các bà
Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị LNguyễn Thị H đều xác định thửa 317 là di sản
thừa kế của cụ Thị L chết để lại thống nhất giao toàn bộ thửa đất trên cho
ông ông con trai duy nhất, đã chăm lo, phụng dưỡng mẹ suốt thời gian đau
ốm cho đến khi mẹ chết, lo mồ mả, cúng giỗ ông bà, cha mẹ. Sau khi được các
em thỏa thuận giao cho ông toàn bộ thửa 317 tông đã làm thủ tục tách thửa
đất thành 02 thửa là: Thửa đất số 602, tờ bản đồ số 4, diện tích 166,5m
2
thửa
đất số 603, tờ bản đồ số 4, diện tích 511,2m
2
. Sau đó, ông đã chuyển nhượng
thửa đất số 602, tờ bản đồ số 4 cho ông Dương Văn T để lấy tiền làm nhà, cũng
như làm nơi thờ cúng ông bà, cha mẹ căn nhà trước đây mỗi lần mưa ngập
nước không ở được.
Nay Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần
di sản thừa kế của cha cụ Nguyễn Hữu G để lại và yêu cầu chia tài sản chung
đối phần diện tích đất được cân đối theo Nghị định 64-CP của Chính phủ, thuộc
thửa 317 thì ông không đồng ý các em của ông đã xác định toàn bộ thửa 317
là di sản thừa kế của mẹ Lê Thị L để lại và đã thống nhất để lại toàn bộ thửa đất
trên cho ông trọn quyền sử dụng; thửa đất nêu trên không được cân đối theo
Nghị định 64-CP của Chính phủ. Trường hợp phải chia thừa kế, chia tài sản
chung thì ông yêu cầu Toà án xem xét ng sức, phi phí mà ông đã đổ đất, nâng
nền, làm tăng giá trị của thửa đất.
Tại văn bản tnh y ý kiến ngày 11/7/2022, văn bản trình y ngày
18/5/2023 tại phn a thẩm, người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị B trình bày:
c thống nht với tất cả c ý kiến trình bày của ngun đơn. Các
đồng ý giao kỷ phần thừa kế các được chia phần tài sản trong khối tài
sản chung các được chia cho Nguyễn Thị L nhận. L nghĩa vụ
5
thanh toán lại cho các bà giá trị kỷ phần thừa kế mà các được chia và phần tài
sản trong khối tài sản chung mà các bà được chia.
Đối với phần di sản thừa kế của cụ Lđể lại thì các bà đã thoả thuận đồng ý
để cho ông Nguyễn Hữu L nên các không yêu cầu chia. Đối với thửa đất số
602, tờ bản đồ số 4, diện tích 166,5m
2
(đo đạc thực tế 165,2m
2
) đã được ông
Lchuyển nhượng cho Dương Văn Tthì các không yêu cầu Toà án giải quyết
phần diện tích đất này thuộc phần đất của cụ Thị L mà anh chị em của các
bà đã thỏa thuận giao cho ông L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Kim A: Thống nhất với
toàn bộ ý kiến trình y của bđơn ông Nguyễn Hữu L.
Tại bản tự khai đề ngày 06/6/2025, người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan
Huỳnh Thị Ngọc B trình y:
kết n với ông Nguyễn Hữu L o tháng 3/1992. Sau khi kết hôn
nhập khẩu o hộ của cha mẹ ông Llà cNguyễn Hữu G, Th L. m 1993
ông L có 01 con chung là Nguyễn Hữu P. Năm 1994 1995 Nhà ớc có giao
đất cho hộ gia đình theo Nghị định 64-CP của Chính phủ. Khi N ớc giao đất
vi con đều nhân khẩu thuộc hộ cG, cL.
Khi Nhà nưc giao đất, bà kng biết hcụ G, cụ Lđược Nhà ớc n đối
giao bao nhiêu thửa đất nhưng qua biên bn làm vic của T án với UBND
phường P thì thửa đất s317, tờ bản đồ số 4, diện tích 677,7m
2
, tại phường Phổ
Hòa, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đã cân đối cho hộ cụ Thị L theo Nghị
định 64-CP của Chính phủ (trđất ở). Lúc y, trong hộ cụ L nhân khẩu .
Nay Nguyễn Thị L yêu cầu chia thừa kế đối vi thửa đất nêu trên t bà ý
kiến n sau: Phần diện tích đất thuộc nhân khu của bà được Nhàớcn đối và
giao theo Nghị định 64-CP tại thửa 317 bà đồng ý giao cho bà Nguyễn Thị L toàn
quyền quản lý, sử dụng.
Bản án thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của Toà án nhân dân
khu vực 6 Quảng Ngãi:
Căn cứ khoản 2 khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản
1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 147, 157, 158, 165, 166,
235, 244, 266, 271 273 của Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015; các Điều 207,
212, 219, 609, 610, 611, 612, 613, 649, 650 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
các Điều 167, 188 của Luật Đất đai năm 2013; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị L vthừa kế tài
sản.
2. Chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị L về chia tài sản
chung.
Chia cho Huỳnh Thị Ngọc Bđược nhận 68,07m
2
đất BHK, thuộc thửa đất
số 603, tờ bản đồ số 4, tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay phường Đ,
6
tỉnh Quảng Ngãi) và ghi nhận sự tự nguyện của bà Huỳnh Thị Ngọc B về việc đồng
ý giao 68,07m
2
đất BHK nêu trên cho bà Nguyễn Thị L nhận.
Giao toàn bộ 68,07m
2
đất BHK, thuộc thửa đất 603, tờ bản đồ số 4, tại
phường P, thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi)
Nguyễn Thị L được nhận cho ông Nguyễn Hữu L quản lý, sử dụng.
Buộc ông Nguyễn Hữu L phải có nghĩa vụ thanh toán lại choNguyễn Thị
L giá trị 68,07m
2
đất BHK Lđược nhận nhưng giao cho ông Nguyễn Hữu L
quản lý, sử dụng là 121.579.200đồng.
Ngoài ra bản án còn giải quyết về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo.
- Ngày 22/9/2025, nguyên đơn Nguyễn Thị L kháng cáo với nội dung
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Sửa bản án dân sự thẩm
theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.
- Ngày 24/9/2025 ngày 03/10/2025, bị đơn ông Nguyễn Hữu L kháng
cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Nguyễn Thị L về chia tài sản chung; không đồng ý với mục 4 phần Quyết định
tại Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 10/09/2025 của Tán nhân dân khu vực 6
Quảng Ngãi; công nhận quyền sử dụng diện tích đất 68,07m
2
loại đất BHK
thuộc thửa đất 603, tờ bản đồ số 4, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là
phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) cho ông theo các Giấy chứng nhận đã được UBND
các cấp ban hành từ trước đến nay.
- Ngày 22, 23/9/2025 Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B kháng cáo đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày
10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi theo hướng
chia tài sản chung của hộ gia đình chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hữu G
đối với thửa 317, diện tích 677,7m
2
cho chị, em các bà được hưởng.
Tại phiên toà phúc thẩm người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn
ông Huỳnh Ngọc bị đơn ông Nguyễn Hu L vẫn giữ nguyên nội dung
kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm
giải quyết vụ án:
- Vic tuân theo pháp lut ca Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
toà đã tuân thủ đúng các quy đnh ca B lut T tng dân sự. Đối vi nhng
ngưi tham gia t tng, đã chấp hành đầy đ các quy định ca pháp lut.
Nguyn Th H, Nguyn Th B người kháng cáo đã được triu tp
hp l đến ln th hai mà vn vng mặt không có lý do, đề ngh Hội đồng xét x
căn cứ khoản 3 Điều 296 B lut T tng dân sự, đình chỉ xét x phúc thẩm đối
vi yêu cu kháng cáo ca bà H, bà B.
- V ni dung kháng cáo: Tòa án cấp thẩm đã xem xét, đánh giá đy
đủ tài liu, chng c trong h vụ án, gii quyết v án đúng quy định ca
pháp lut. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
7
dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Hữu L,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi giải quyết vụ án đúng
thẩm quyền quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Điều 35
Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng
cáo trong thời hạn đúng thủ tục theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.3] Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị
B, Huỳnh Thị Ngọc B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt.
H, Bngười kháng cáo nên Hội đồng xét xđình chỉ xét xử phúc thẩm
đối với yêu cầu kháng cáo của H, B; xét xử vắng mặt B phù hợp với
quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Ttụng dân sự năm 2015. Tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm của bà H, bà B đã nộp được sung công quỹ Nhà nước theo quy
định tại khoản 2 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[1.4] Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự mặt đều trình bày tất cả
các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Toà án cấp sơ thẩm; các đương sự đều
không tài liệu, chứng cứ để cung cấp thêm tại cấp phúc thẩm. vậy, Toà
án cấp phúc thẩm xét xử trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ
vụ án.
[2] Xét nội dung kháng cáo của Nguyễn Thị L:
[2.1] Cấp thẩm xác định những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ
nhất của cụ Nguyễn Hữu G (chết ngày 30/01/1999) cụ Thị L (trên giấy
khai tử ghi chết ngày 09/8/2006; theo trình bày của ông Nguyễn Hữu L ảnh
chụp bia mộ thì cụ Lchết ngày 08/9/2007) gồm ông Nguyễn Hữu L, Nguyễn
Thị H, Nguyễn Thị B Nguyễn Thị L; nguồn gốc diễn biến của q
trình sdụng thửa 317 đúng như các đương sự trình bày và các tài liệu, chứng
cứ tại hồ vụ án. Các nội dung này các đương sự đều thống nhất, không
tranh chấp.
[2.2] Ông Nguyễn Hữu L cung cấp bản sao công chứng Biên bản họp
gia đình xác nhận của UBND P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi ngày
05/10/2006 (bút lục 93-94) và trình bày bản gốc đã bị mất, nội dung biên bản cụ
8
Thị L, ông Nguyễn Hữu L, bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B
Nguyễn Thị L thống nhất giao 50% diện tích thửa đất số 317 di sản thừa kế
của cụ Nguyễn Hữu G cho cụ L định đoạt, ngày 08/11/2006 cụ L đã được cấp
đổi GCNQSDĐ đối với thửa 317 từ hộ cụ L sang cá nhân cụ L.
Sau khi cụ Thị L chết, ngày 26/5/2017 những người trong hàng thừa
kế thứ nhất của cụ Lgồm: Ông Nguyễn Hữu L, Nguyễn Thị H, bà Nguyễn
Thị B Nguyễn Thị L lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế,
trong đó xác định di sản thừa kế của cụ L để lại là quyền sử dụng đất của thửa
317 (theo GCNQSDĐ số phát hành AL 341680, số vào sổ cấp giấy chứng nhận
H.01474 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/11/2006); bà Nguyễn Thị H, bà
Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị L thống nhất nhường quyền hưởng di sản thừa
kế của mình và tặng cho toàn bộ phần di sản thừa kế nói trên của các bà cho anh
trai là ông Nguyễn Hữu L, nội dung văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
cũng xác định toàn bộ thửa 317 di sản thừa kế của cụ L, hoàn toàn phù hợp
với nội dung Biên bản họp gia đình (bút lục 93-94) và việc cấp đổi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho cụ Lvào ngày 08/11/2006.
Căn cứ văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nêu trên đã được
UBND xã P chứng thực ngày 26/5/2017, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng
Ngãi chi nhánh Đ đã chỉnh trang 4 sang tên ông Nguyễn Hữu L ngày
13/6/2017.
Sau đó, ông L đã đổ đất nâng nền, xây dựng nhà ở, tường rào xung quanh
thửa đất, thực hiện các thủ tục tách thửa đất thành thửa đất số 602, tờ bản đồ số
4, diện tích 166,5m
2
thửa đất số 603, tờ bản đồ số 4, diện tích 511,2m
2
; ông
Lđã chuyển nhượng thửa đất số 602 cho ông Dương Văn T, nhưng cũng không
có ai tranh chấp, khiếu nại gì.
Theo nhận định trên căn cứ xác định ông Nguyễn Hữu L quyền sử
dụng hợp pháp đối với thửa 317 trên sở thoả thuận phân chia di sản thừa kế
của ông L các L, H, B. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của Nguyễn Thị L.
[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hữu L: Huỳnh Thị Ngọc B (là
thành viên trong hcụ L tại thời điểm cân đối đất theo Nghị định 64-CP của
Chính phủ), phần tài sản của B 68,07m
2
đất BHK trong thửa 317. Những
người trong hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Hữu G thoả thuận phân chia
di sản thừa kế đối với toàn bộ thửa 317 là vi phạm quy định về định đoạt tài sản
chung theo phần được quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Dân sự năm 2005,
nên thoả thuận đối với diện tích đất thuộc quyền sdụng của B không
hiệu lực. Quá trình giải quyết vụ án, bà B đồng ý giao cho bà L toàn quyền quản
lý, sử dụng phần diện tích đất B được chia theo Nghị định 64-CP của Chính
phủ. Cấp thẩm giải quyết về nội dung này đúng pháp luật. Do đó, không
chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu L.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp
với nhận định ca Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
9
[5] Về án phí dân sự:
Các bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Hữu L phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 296, Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
khoản 2 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị B.
Tiền tạm ứng án phí phúc thẩm các Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B đã
nộp mỗi người 300.000 đồng theo các biên lai số 0001543, 0001544 cùng ngày
16/10/2025 được sung vào công quỹ Nhà nước.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị L ông Nguyễn Hữu
L
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm 13/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi.
3. V án phí dân s phúc thm: Bà Nguyn Th L và ông Nguyn Hu L,
mỗi người phi chu 300.000 đng án phí dân s phúc thm; khu tr 300.000
đồng tin tm ng án phí dân s phúc thm Nguyn Th L đã nộp theo biên
lai s 0001541 ngày 16/10/2025 ông Nguyn Hu L đã nộp theo biên lai s
0001739 ngày 23/10/2025 ca Thi hành án dân s tnh Qung Ngãi.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
10
Nguyễn Công Diễn Nguyễn Hành Lê Thị Mỹ Giang
11
Tải về
Bản án số 63/2026/DS-PT Bản án số 63/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 63/2026/DS-PT Bản án số 63/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất