Bản án số 523/2026/DS-PT ngày 23/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 523/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 523/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 523/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 523/2026/DS-PT ngày 23/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 523/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 523/2026/DS-PT
Ngày: 23 - 3 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ
Bà Bùi Thị Thương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Vy - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Thái
Quốc Bảo - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh (cơ sở A) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
95/2026/TLPT-DS ngày 08 tháng 01 năm 2026 về việc: “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 50/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực X, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 593/2026/QĐ-PT ngày
27/01/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2103/2026/QĐ-PT ngày
09/02/2026, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 2776/2026/QĐ-PT ngày
04/3/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn P, sinh năm 1972 và bà Bùi Thị T, sinh năm
1976; Địa chỉ: 5 C, tổ A, khu phố B P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông P vắng mặt, bà T có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Ấp F, xã L, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960; Địa chỉ: 5 C, tổ A, khu phố
B P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Tuyết T2, sinh năm 1959; Địa
chỉ: D C, tổ B, khu phố A P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
3. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Chu Thị Mỹ A, sinh năm 1999; Địa chỉ: 5 C, Tổ A, khu phố B P,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
2
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Tuyết T2, sinh năm 1959; Địa
chỉ: D C, tổ B, khu phố A P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
3.2. Ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1959; Địa chỉ: Khu phố P, phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.3. Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1961; Địa chỉ: B L, khu phố C L, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.4. Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khu phố D P, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.5.Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1967; Địa chỉ: 5 ấp C, xã B, Thành phố
Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.6. Ông Đỗ Minh K, sinh năm 1995; Địa chỉ: 5 ấp C xã B, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Vắng mặt).
3.7. Ông Đỗ Duy T4, sinh năm 1980; Địa chỉ: khu phố C, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.8. Ông Đỗ Duy S, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu phố C, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.9. Ông Đỗ Duy H2, sinh năm 1988; Địa chỉ: khu phố C, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.10. Ông Đỗ Duy B, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu phố C, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.11. Bà Phạm Thị S1, sinh năm 1956 (Vắng mặt); Địa chỉ: khu phố C,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.12. Bà Trần Thị Thu T5, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ A, khu phố B P,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T là nguyên đơn trong
vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn và
người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ ông Đỗ Văn P là ông Đỗ Văn T6 (mất năm 1993) và bà Lê Thị X
(mất ngày 08/06/2005). Ngày 04/10/1997, bà X được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất với tổng diện tích đất 645m
2
thuộc thửa 137, tờ bản đồ số 27
phường phước Nguyên, thị xã B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 2004 bà X chuyển nhượng cho ông Chu Văn
H3, bà Nguyễn Thị T1 một phần đất với giá 50.000.000 đồng. Theo đơn xin
sang nhượng đất không đề ngày tháng năm, diện tích đất chuyển nhượng chiều
ngang đầu đuôi là 5m, chiều dài hết đất, còn diện tích, số thửa, tờ bản đồ cụ thể
thì không có, vì chỉ mua bán bằng giấy tay với nhau. Đơn do gia đình bà T1 viết
rồi đưa qua cho 6 người con của bà X, ông T6 ký. Bà X thời điểm đó đã già và
không biết chữ nên các con đồng ý ký tên vào tờ giấy tay “đơn xin sang nhượng
đất”. Ông H3, bà T1 đã trả hết tiền cho bà X.
3
Ngày 09/11/2017, ông P được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 418475. Khi tiến hành làm thủ tục
sang tên thì phát hiện ra diện tích đất thổ cư của gia đình chỉ có 150m² trong khi
trước đó hai bên thỏa thuận bà T1 chỉ được 60m² thổ cư nên có hỏi bà T1 nhưng
bà T1 trả lời đất thổ cư là bà Thu M1 của nhà nước. Đến năm 2023 ông P đi xin
sao lục hồ sơ thì phát hiện gia đình bà T1 đã được cấp giấy diện tích đất không
đúng so với thỏa thuận mua bán từ ban đầu. Ông P, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa
án giải quyết như sau:
- Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác
nhận của Ủy ban nhân dân phường P ngày 02/8/2004 giữa bà Lê Thị X và bà
Nguyễn Thị T1.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giấy tay theo tờ “Đơn xin sang
nhượng đất” chiều ngang (phần đầu và đuôi) 5m x chiều dài 20m, diện tích theo
đo vẽ tại sơ đồ vị trí ngày 04/12/2023 ký hiệu 166/90,4m
2
.
- Buộc bà Nguyễn Thị T1 trả lại phần đất diện tích 17,4m² + 39,9m² +
36,4m² thuộc một phần thửa 166, tờ bản đồ số 24 địa chỉ thửa đất tại phường P,
thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí
Minh). Ký hiệu trên sơ đồ vị trí là khu A, s, B.
Đối với khu A đề nghị trả lại đất vì bà T1 chỉ xây dựng một nhà vệ sinh.
Do diện tích khu A có 0,4m
2
thuộc thửa 75, diên tích 0,1m
2
thuộc thửa 163
không rõ của ai nên không yêu cầu trả; đối với khu B, bà T1 đã xây nhà, yêu cầu
trả lại bằng tiền theo giá thị trường 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng/m
2
.
Trong khu B có diện tích 1,3m
2
thuộc thửa 54 tờ bản đồ 25 không yêu cầu bà T1
giao trả. Do đó diện tích còn lại 35,1m
2
quy thành tiền và yêu cầu trả
900.000.000 (chín trăm triệu) đồng.
* Theo đơn yêu cầu phản tố và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn
và người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:
Ngày 02/8/2004, vợ chồng bà Nguyễn Thị T1, ông Chu Văn H3 nhận
chuyển nhượng của bà Lê Thị X 166,5m
2
đất, trong đó có 150m
2
đất ở thuộc
một phần thửa đất số 137 tờ bản đồ 27 phường P, thành phố B (nay là phường B,
thành phố Hồ Chí Minh). Giá chuyển nhượng 25 lượng vàng nhưng trên hợp
đồng ghi giá tiền là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Bà T1 và ông H3 đã trả
đủ tiền cho bà X. Do hai bên thỏa thuận giao nhận đất theo đúng ranh mốc nên
khi đo thực tế là 183,3m
2
, bà X và mọi người trong gia đình đều đồng ý và đã
tách thửa đất và chuyển tên cho bà T1, ông H3.
Sau khi nhận đất, gia đình bà T1 xây dựng nhà và sử dụng đất liên tục, ổn
định. Nay ông P và bà T khởi kiện yêu cầu giao trả đất, bà T1 không đồng ý.
Bà T1 yêu cầu phản tố: Công nhận cho bà T1 quyền sử dụng đất bà T1 sử
dụng từ năm 2004 thuộc thửa 164 tờ bản đồ 24 tại phường P, thành phố B (nay
là phường B, thành phố Hồ Chí Minh) gồm: diện tích 4,3m
2
(phần 164a), diện
tích 0,8m
2
(phần 164b), diện tích 1,3m
2
(phần 164c) trên sơ đồ vị trí ngày
04/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi trường tỉnh B. Trên diện
4
tích đất 4,3m
2
(phần 164a) có ô văng nhà ông P từ lâu, bà T1 đồng ý để ông P và
bà T ổn định sử dụng.
Đối với diện tích đất 21,6m
2
(phần 166c) trên sơ đồ vị trí ngày 04/12/2023
của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc
thửa 166 của bà T1, tuy nhiên từ lâu phía gia đình ông P sử dụng, bà T1 đề nghị
công nhận cho ông P, bà T sử dụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị Mỹ A và người đại
diện hợp pháp trình bày: Bà Chu Thị Mỹ A là con của ông Chu Văn H3 và bà
Nguyễn Thị T1. Ngoài ra bà T1 và ông H3 còn có 01 người con tên Chu Mộng
L nhưng bà L đã tặng cho bà A và bà T1 quyền sử dụng đất do được hưởng thừa
kế từ ông Chu Văn H3. Bà A thống nhất với ý kiến của bà Nguyễn Thị T1 trong
vụ việc này, bà A không có yêu cầu độc lập. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T7 trình
bày: Ngày 07/7/2023, bà T7 và bà Nguyễn Thị T1, bà Chu Thị Mỹ A ký hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1. Theo đó, bà T1 và bà
A chuyển nhượng cho bà T7 quyền sử dụng đất 183,3m
2
thửa 166 tờ bản đồ 24
tại phường P, thành phố B (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). Giá
chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 500.000.000 đồng nhưng thỏa thuận bên
ngoài là 1.700.000.000 đồng. Bà T7 đã giao tiền cho bà T1 và chờ làm thủ tục
sang tên. Ngày 22/11/2023, bà T7 nhận được văn bản của Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai về việc bà Bùi Thị T là người sử dụng đất liền ranh có đơn khởi
kiện tranh chấp với bà Nguyễn Thị T1. Hồ sơ sang tên bị trả lại cho đến nay vẫn
chưa có kết quả.
Nay bà T7 chờ kết quả giải quyết tranh chấp của Tòa án, khi nào có kết
quả giữa bà T7 và bà T1 tự giải quyết với nhau. Bà T7 không yêu cầu gì trong
vụ kiện giữa ông Đỗ Văn P, bà Bùi Thị T với bà T1.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, ông Đỗ Văn T3 trình bày:
Ông T3 là con ruột của bà Lê Thị X và ông Đỗ Văn T6. Cha mẹ ông có 6
người con: ông Đỗ Văn T8 (chết năm 2023), ông Đỗ Văn T3, bà Đỗ Thị M, ông
Đỗ Văn T9, ông Đỗ Văn P và bà Đỗ Thị H1. Năm 2004, mẹ ông có bán cho bà
Nguyễn Thị T1 (chồng bà T1 là ông Chu Văn H3) một phần đất sau căn nhà cấp
4 của cha mẹ ông đã xây từ năm 1970, chiều ngang 5m (tính từ phía sân của căn
nhà cấp 4 gia đình ông), chiều dài khoảng 20m thì hết đất. Do lúc đó vợ chồng
bà Thu M1 để nối liền với thửa đất nhà bà T1, không có phần lối đi, gia đình
ông cho bà T1 đi nhờ lối đi 2m thuộc chủ quyền của gia đình ông, giấy tờ mua
bán viết tay (mẹ ông không biết chữ), các con trong nhà có ký vào tờ giấy tay
“đơn xin sang nhượng đất”.
Sau khi ký tờ giấy tay đó thì ông không ở chung với mẹ, việc mẹ ông đưa
giấy đất bản chính cho bà T1 tự ý đi làm các thủ tục cắt đất, ông không biết,
không có ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không ký
tên và Biên bản họp gia tộc, bà T1 giả mạo chữ ký của các anh em ông hợp thức
5
hóa giấy tờ. Từ đó, ông P, bà T yêu cầu vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng do
bà T1 giả mạo chữ ký.
Sau khi mẹ ông chết, gia đình ký các thủ tục giấy tờ để cho ông P đứng
tên phần đất còn lại của mẹ. Sau này ông P và vợ ông P mới phát hiện việc bà
T1 giả mạo chữ ký, lấn chiếm đất sử dụng không đúng phần đất mà gia đình ông
đã bán nên khởi kiện bà T1. Ông thống nhất với ý kiến của ông P và bà T, đề
nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, bà T.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, bà Đỗ Thị M trình bày:
Bà M là con ruột của bà Lê Thị X, (chết năm 2005) và ông Đỗ Văn T6
(chết năm 1993). Cha mẹ bà có 6 người con: Đỗ Văn T8 (chết năm 2023), ông
Đỗ Văn T3, bà Đỗ Thị M, ông Đỗ Văn T9, ông Đỗ Văn P và bà Đỗ Thị H1.
Năm 2004, mẹ bà có bán cho bà Nguyễn Thị T1 (chồng bà T1 là ông Chu Văn
H3) một phần đất sau căn nhà cấp 4 của cha mẹ bà đã xây từ năm 1970, chiều
ngang 5m (tính từ phía sân của căn nhà cấp 4 gia đình bà), chiều dài khoảng
20m thì hết đất. Do lúc đó vợ chồng bà Thu M1 để nối liền với thửa đất nhà bà
T1, không có phần lối đi, gia đình bà cho bà T1 đi nhờ lối đi 2m thuộc chủ
quyền gốc đất của gia đình bà, giấy tờ mua bán viết tay (mẹ bà không biết chữ),
các con trong nhà có ký vào tờ giấy tay “đơn xin sang nhượng đất”.
Sau khi ký tờ giấy tay đó thì bà không có ở chung với mẹ, việc mẹ bà đưa
giấy đất bản chính cho bà T1 tự ý đi làm các thủ tục cắt đất, bà hoàn toàn không
biết, không ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không có
ký tên vào Biên bản họp gia tộc, bà T1 giả mạo chữ ký của gia đình bà hợp thức
hóa giấy tờ.
Sau khi mẹ bà chết, gia đình ký các thủ tục giấy tờ để cho Đỗ Văn P đứng
tên phần đất còn lại của mẹ. Sau này ông P và vợ ông P mới phát hiện việc bà
T1 giả mạo chữ ký, lấn chiếm đất sử dụng không đúng phần đất mà gia đình bà
đã bán. Vì vậy, vợ chồng ông P đứng đơn khởi kiện bà T1, bà thống nhất với ý
kiến của ông P, bà T, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, bà
T.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, bà Đỗ Thị H1 trình bày:
Bà H1 là con ruột của bà Lê Thị X, (chết năm 2005) và ông Đỗ Văn T6
(chết năm 1993). Cha mẹ bà có 6 người con: ông Đỗ Văn T8 (chết năm 2023),
ông Đỗ Văn T3, bà Đỗ Thị M, ông Đỗ Văn T9, ông Đỗ Văn P và bà Đỗ Thị H1.
Năm 2004, mẹ bà có bán cho bà Nguyễn Thị T1 (chồng bà T1 là ông Chu Văn
H3) một phần đất sau căn nhà cấp 4 của cha mẹ bà đã xây từ năm 1970, chiều
ngang 5m (tính từ phía sân của căn nhà cấp 4 gia đình bà), chiều dài khoảng
20m thì hết đất. Do lúc đó vợ chồng bà Thu M1 để nối liền với thửa đất nhà bà
T1, không có phần lối đi, gia đình bà cho bà T1 đi nhờ lối đi 2m của gia đình bà,
giấy tờ mua bán viết tay (mẹ bà không biết chữ), các con trong nhà có ký vào tờ
giấy tay “đơn xin sang nhượng đất”.
Sau khi ký tờ giấy tay đó thì bà không ở chung với mẹ, việc mẹ bà đưa
giấy đất bản chính cho bà T1 tự ý đi làm các thủ tục cắt đất, bà hoàn toàn không
6
biết, không có ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không
ký tên và Biên bản họp gia tộc, bà T1 giả mạo chữ ký của gia đình bà hợp thức
hóa giấy tờ.
Sau khi mẹ bà chết, gia đình ký các thủ tục giấy tờ để cho Đỗ Văn P đứng
tên phần đất còn lại của mẹ. Sau này ông P và vợ ông P mới phát hiện việc bà
T1 giả mạo chữ ký, lấn chiếm đất sử dụng không đúng phần đất mà gia đình bà
đã bán. Vì vậy, vợ chồng ông P đứng đơn khởi kiện bà T1, bà thống nhất với ý
kiến của ông P, bà T, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, bà
T.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, ông Đỗ Duy T4, Đỗ Duy S, Đỗ
Duy H2, Đỗ Duy B trình bày:
Ông T4, ông S, ông H2, ông B là con của ông Đỗ Văn T8 (chết năm
2023), mẹ là bà Phạm Thị S1.
Bà nội ông T4, ông S, ông H2, ông B là Lê Thị X (chết năm 2005), ông
nội là Đỗ Văn T6 (chết năm 1993). Ông bà nội ông có sáu người con: ông Đỗ
Văn T8 (chết năm 2023), ông Đỗ Văn T3, bà Đỗ Thị M, ông Đỗ Văn T9, ông
Đỗ Văn P và bà Đỗ Thị H1.
Hiện ông P, bà T khởi kiện bà T1 đối với thửa đất 166, tờ bản đồ số 24,
ông T4, ông S, ông H2, ông B thống nhất với ý kiến của nguyên đơn, đề nghị
Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông T4, ông S, ông H2,
ông B không có yêu cầu gì trong vụ kiện này.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, bà Phạm Thị S1 trình bày: Bà S1
là vợ của ông Đỗ Văn T8 (chết năm 2023), ông T8 và bà có 04 người con: Đỗ
Duy T4, Đỗ Duy S, Đỗ Duy H2, Đỗ Duy B. Ông Đỗ Văn P, bà Bùi Thị T khởi
kiện bà Nguyễn Thị T1. Bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Bà không có yêu cầu gì trong vụ kiện này.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị G trình bày: Bà
G là vợ của ông Đỗ Văn T9 (chết năm 2021), ông T9 và bà có 01 người con: Đỗ
Minh K, sinh năm 1995. Ông Đỗ Văn P, bà Bùi Thị T khởi kiện bà Nguyễn Thị
T1. Bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà không
không có yêu cầu gì trong vụ kiện này.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, ông Đỗ Minh K trình bày: Ông
K là con của ông Đỗ Văn T9 (chết năm 2021) và bà Nguyễn Thị G. Ông T9 và
bà G chỉ có 01 con là ông. Hiện tại, ông Đỗ Văn P, bà Bùi Thị T khởi kiện bà
Nguyễn Thị T1. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ông không không có yêu cầu gì trong vụ kiện này.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 50/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực X, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định
như sau:
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T1 về việc “tranh chấp
quyền sử dụng đất” với ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T.
7
+ Công nhận cho bà Nguyễn Thị T1 được sử dụng 4,3m
2
+ 0,8m
2
+ 1,3m
2
đất thửa 164 tờ bản đồ 24 phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí đất mô tả
số 164a, 164b, 164c theo sơ đồ do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi trường
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cung cấp ngày 04/12/2023.
+ Công nhận cho ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T được sử dụng 21m
2
đất
thửa 166 tờ bản đồ 24 phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí đất mô tả số
166c theo sơ đồ do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi trường tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu cung cấp ngày 04/12/2023.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký điều
chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo.
* Ngày 19/9/2025, ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa bản án dân sự sơ
thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa phát biểu ý kiến: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã tự thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, sự thỏa thuận của các
đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo
đức xã hội, đề nghị HĐXX phúc thẩm căn cứ Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân
sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể như sau:
- Bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A được quyền sử dụng diện tích
đất sau:
+ Diện tích đất: 0,8m
2
+ 1,3m
2
thuộc thửa 164, tờ bản đồ 24, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh (vị trí mô tả số 164b và 164c theo sơ đồ vị trí ngày
04/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu ).
+ Diện tích đất: 2,4m
2
(gồm: 1,7m
2
+ 0,7m
2
) thuộc thửa 164, tờ bản đồ 24,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Mảnh trích đo địa chính ngày
20/3/2026 của Công ty TNHH Đ).
- Ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T được quyền sử dụng diện tích đất sau:
+ Diện tích đất: 21m
2
thửa 166, tờ bản đồ 24, phường B, Thành phố Hồ
Chí Minh (vị trí đất mô tả số 166c theo sơ đồ vị trí ngày 04/12/2023 của Trung
tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu).
8
+ Diện tích đất: 2,7m
2
(gồm: 0,6m
2
thuộc thửa 166 và 2,1m
2
thửa 164, tờ
bản đồ 24, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh), thể hiện theo tọa độ 1a, 2, 3, 4,
5, 6, 7, 8, 9a, 1a Mảnh trích đo địa chính ngày 20/3/2026 của Công ty TNHH Đ.
- Bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A có nghĩa vụ tháo dỡ phần mái
tôn trên diện tích đất 0,2m
2
thuộc thửa 164, tờ bản đồ 24, phường B, Thành phố
Hồ Chí Minh (thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính ngày 20/3/2026 của Công ty
TNHH Đ).
- Bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A có nghĩa vụ trả lại cho ông Đỗ
Văn P và bà Bùi Thị T diện tích đất 2,7m
2
(thể hiện theo tọa độ 1a, 2, 3, 4, 5, 6,
7, 8, 9a, 1a Mảnh trích đo địa chính ngày 20/3/2026 của Công ty TNHH Đ) mà
ông P, bà T được quyền sử dụng nêu trên.
- Bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A, ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T
có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký điều chỉnh quyền sử
dụng đất theo bản án và theo quy định của pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A, ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T
có nghĩa vụ giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền bản chính Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mình được cấp liên quan đất tranh chấp để làm thủ tục đăng
ký chỉnh lý biến động về quyền sử dụng đất theo bản án và theo quy định của
pháp luật (bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A có nghĩa vụ giao nộp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 329104 do Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 28/12/2004 đứng tên Ông (bà) Nguyễn Thị T1, xác
nhận thừa kế cho bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A ngày 18/6/2013; ông
Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T có nghĩa vụ giao nộp bản chính Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CK 418475 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu cấp ngày 09/11/2017 đứng tên ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T).
Trường hợp bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A, ông Đỗ Văn P và bà
Bùi Thị T không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu
trên thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục theo quy định để chỉnh lý về
quyền sử dụng đất theo bản án và quy định của pháp luật.
- Chi phí giám định, xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản tại
giai đoạn xét xử sơ thẩm là 22.682.903 đồng: Ông P và bà T chịu.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ tại giai đoạn xét xử phúc thẩm
là 5.000.000 đồng: Bà T1 chịu.
- Án phí: Các bên chịu theo quy định.
- Ông P, bà T rút nội dung kháng cáo khác ngoài thỏa thuận trên.
[2] Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm
điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên công nhận.
[3] Từ nhận định trên, đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần vụ án, sửa bản
án dân sự sơ thẩm. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Vì các lẽ trên,
9
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 289, 300 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 12, 26,
27, 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án.
1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 50/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực X, Thành phố Hồ Chí Minh, công nhận sự thỏa thuận
của các đương sự, như sau:
1.1. Bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A được quyền sử dụng diện tích
đất:
- Diện tích đất: 0,8m
2
+ 1,3m
2
thuộc thửa 164, tờ bản đồ 24, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh (vị trí mô tả số 164b và 164c theo sơ đồ vị trí ngày
04/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu ).
- Diện tích đất: 2,4m
2
(gồm: 1,7m
2
+ 0,7m
2
) thuộc thửa 164, tờ bản đồ 24,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Mảnh trích đo địa chính ngày 20/3/2026
của Công ty TNHH Đ).
1.2. Ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T được quyền sử dụng diện tích đất:
- Diện tích đất: 21m
2
thửa 166, tờ bản đồ 24, phường B, Thành phố Hồ Chí
Minh (vị trí đất mô tả số 166c theo sơ đồ vị trí ngày 04/12/2023 của Trung tâm Kỹ
thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu).
- Diện tích đất: 2,7m
2
(gồm: 0,6m
2
thuộc thửa 166 và 2,1m
2
thửa 164, tờ bản
đồ 24, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh), thể hiện theo tọa độ 1a, 2, 3, 4, 5, 6, 7,
8, 9a, 1a tại Mảnh trích đo địa chính ngày 20/3/2026 của Công ty TNHH Đ.
1.3. Bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A có nghĩa vụ tháo dỡ phần mái
tôn trên diện tích đất 0,2m
2
thuộc thửa 164, tờ bản đồ 24, phường B, Thành phố Hồ
Chí Minh (thể hiện theo tọa độ 4, 5, 6, 4 Mảnh trích đo địa chính ngày 20/3/2026
của Công ty TNHH Đ) mà ông P, bà T được quyền sử dụng nêu trên.
1.4. Bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A có nghĩa vụ trả lại cho ông Đỗ
Văn P và bà Bùi Thị T diện tích đất 2,7m
2
(thể hiện theo tọa độ 1a, 2, 3, 4, 5, 6, 7,
8, 9a, 1a tại Mảnh trích đo địa chính ngày 20/3/2026 của Công ty TNHH Đ) mà
ông P, bà T được quyền sử dụng nêu trên.
1.5. Bà Nguyễn Thị T1, bà Chu Thị Mỹ A, ông Đỗ Văn P, bà Bùi Thị T có
trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký điều chỉnh quyền sử dụng đất
theo bản án và theo quy định của pháp luật.
1.6. Bà Nguyễn Thị T1, bà Chu Thị Mỹ A, ông Đỗ Văn P, bà Bùi Thị T có
nghĩa vụ giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền bản chính Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mình được cấp liên quan đến diện tích đất tranh chấp để làm thủ tục
đăng ký chỉnh lý biến động về quyền sử dụng đất theo bản án và theo quy định của
pháp luật (bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A có nghĩa vụ giao nộp bản chính
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 637896 do Ủy ban nhân dân thành phố
B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 26/8/2013 cho bà Nguyễn Thị T1, “Là chủ sử
10
dụng đất và là người đại diện của bà Chu Thị Mỹ A”; ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị
T có nghĩa vụ giao nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK
418475 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày
09/11/2017 đứng tên ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T).
Trường hợp bà Nguyễn Thị T1 và bà Chu Thị Mỹ A, ông Đỗ Văn P và bà
Bùi Thị T không giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì cơ quan
có thẩm quyền tiến hành thủ tục theo quy định để chỉnh lý về quyền sử dụng đất
theo bản án và quy định của pháp luật.
1.7. Chi phí giám định, xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản tại
giai đoạn xét xử sơ thẩm là 22.682.903 đồng: Ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T chịu.
Đã nộp xong.
1.8. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ tại giai đoạn xét xử phúc thẩm
là 5.000.000 đồng: Bà Nguyễn Thị Thu phải chịu. Đã nộp xong.
2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo: Bà T1 trả lại diện
tích đất 33,7m
2
(vị trí 166b theo sơ đồ vị trí ngày 04/12/2023) và 36,7m
2
thuộc Khu
A (39,4m
2
– 2,7m
2
ông P và bà T sử dụng) theo Mảnh trích đo địa chính ngày
20/3/2026); Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
02/8/2004 giữa bà X và bà T1; Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giấy tay theo
tờ “đơn xin sang nhượng đất” chiều ngang (phần đầu và đuôi) 5m x chiều dài 20m.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T phải chịu 300.000
(ba trăm nghìn) đồng. Được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số
0010226 ngày 03/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ba (nay là
Phòng thi hành án dân sự khu vực X - Thành phố Hồ Chí Minh). Đã nộp đủ.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Văn P và bà Bùi Thị T phải chịu
300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án
phí theo Biên lai thu số 0018875 ngày 22/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố
Hồ Chí Minh. Đã nộp đủ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND TP. Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực X, TP Hồ Chí Minh;
- THADS TP. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án (39).
Trương Văn Tâm
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm