Bản án số 613/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 613/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 613/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 613/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn do rút yêu cầu kháng cáo và đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của bị đơn do bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 613/2026/DS-PT Bản án số 613/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 613/2026/DS-PT Bản án số 613/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 613/2026/DS-PT
Ngày: 14-8-2026
V/v: Tranh chấp đòi quyền sở hữu nhà,
quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Nguyễn Thị Tâm
Các Thẩm phán:
Đặng Mai Hoa
Trần Thị Diệp Linh
- Thư phiên tòa: Phạm Thùy Trang Thư viên Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nội tham gia phiên toà:
Trần Thị Luyến - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ s84/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng
01 năm 2026, về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.
Do bản án Dân sự thẩm số 162/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 336/2026/QĐ-PT ngày
26/05/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm s 441/2026/QĐ-PT ngày
19/6/2026 Thông báo mở lại phiên toà phúc thẩm số 991/2026/TB-MLPT ngày
21/7/2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:Thúy L, sinh năm 1971; Có mặt.
Địa chỉ: Số B, Dãy F, Tập thể B, phường B, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo y quyền của L: Công ty L1; Người đại diện theo pháp luật:
Hà Thị S, sinh năm 1991; Địa chỉ trụ sở: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hà Nội. Theo
Hợp đồng ủy quyền số 3365/2024/HĐUQ ngày 04/11/2024. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976; Vắng mặt.
HKTT: Số G Đ, Khu A, phường T, thành phố Hải Phòng.
Địa chỉ: Số E ngõ B H, phường N, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Cụ Nguyễn Thị T, sinh năm 1939; Vắng mặt.
2
2. Bà Nguyễn Việt N, sinh năm, 1957; Có mặt.
3. Ông Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1958; Có mặt.
4. Chị Nguyễn Thị Phương T2, sinh năm 1997; Vắng mặt.
5. Chị Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1993; Vắng mặt.
6. Anh Nguyễn Việt T3, sinh năm 2003; Vắng mặt.
7. Anh Nguyễn Bá A, sinh năm 2006. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số F ngách A T, phường B, Hà Nội.
8. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970; Vắng mặt.
Địa chỉ: Số E ngõ F H, phường N, thành phố Hà Nội.
9. Văn phòng C. Xin vắng mặt.
Địa chỉ: Số D phố V, phường N, thành phố Hà Nội.
10. Văn phòng C1. Xin vắng mặt.
Địa chỉ: T đất số 37, tờ bản đồ số 04, xã T, thành phố Hà Nội.
Do kháng cáo của nguyên đơn Thúy L, bị đơn ông Nguyễn Văn H
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Việt N, ông Nguyễn Hồng T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:
1. Theo đơn khởi kiện và tại các bản tự khai, nguyên đơn Thúy L
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Hà Thị S thống nhất trình bày:
Ngày 30/6/2022, Thúy L ông Nguyễn Văn H đã hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà. Tài sản là nhà đất tại địa chỉ số F
ngách A T, phường T, quận T, thành phố Nội (Nay số F ngách A T, phường
B, thành phố Hà Nội). Hợp đồng có công chứng tại Văn phòng C1.
Trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng bà L có đến xem nhà 02 lần. Lần thứ
nhất bà L đến được một người phụ ntên N mở cửa cho vào xem nhà. Lần thứ
hai vào khoảng 3 – 4 ngày sau bà L đến xem nhà lần 2 thì có một người đàn ông tên
T1 mở cửa cho vào xem nhà. Sau hai lần xem nhà thì L đồng ý mua, bên bán
đồng ý bán và L quyết định đặt cọc.
L đã thanh toán hết số tiền mua nhà cho ông H với tổng số tiền
2.180.000.000 đồng (Bằng hình thức chuyển khoản và tiền mặt) và hoàn tất thủ tục
mua bán. Ngày 18/7/2022, L được Văn phòng Đ chi nhánh quận T cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với
đất đứng tên Thúy L. Căn nhà trên hiện thuộc quyền sử dụng sở hữu của
L. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, L và ông H thỏa thuận bằng miệng
đến ngày 01/9/2022, ông H phải bàn giao toàn bộ nhà đất cho L. Tuy nhiên ông
H đã không thực hiện đúng cam kết, không bàn giao nhà, bà L có gọi điện thì ông H
3
cắt liên lạc, không bàn giao nhà cho bà L từ đó đến nay bà L cũng không gặp được
ông H.
Vũ Thúy L đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
1. Buộc ông Nguyễn Văn H những người đang sử dụng chiếm giữ trái phép
nhà đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà L (Gồm cụ Nguyễn Thị T, bà Nguyễn
Việt N, ông Nguyễn Hồng T1, chị Nguyễn Thị Phương T2, chị Nguyễn Thị Thanh
P, anh Nguyễn Việt T3, anh Nguyễn Bá A) phải thu dọn toàn bộ đồ đạc, trả nhà, đất
nêu trên cho Vũ Thúy L.
2. Buộc ông Nguyễn Văn H những người đang sử dụng chiếm giữ trái phép
nhà đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà L (Gồm cụ Nguyễn Thị T, bà Nguyễn
Việt N, ông Nguyễn Hồng T1, chị Nguyễn Thị Phương T2, chị Nguyễn Thị Thanh
P, anh Nguyễn Việt T3, anh Nguyễn Bá A) phải bồi thường cho bà Vũ Thúy L toàn
bộ thiệt hại phát sinh do chiếm giữ trái phép nhà, đất u trên tính từ ngày 01/9/2022
đến tháng 11/2024 135.000.000 đồng từ tháng 09/2022 đến nay, bà L phải đi
thuê nhà tại Tập thể B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
Ngoài ra bà L không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2.1. Nguyễn Việt N trình bày: Nhà đất tại địa chỉ số F ngách A T, phường
T, quận T, thành phố Nội (Nay là số F ngách A T, phường B, thành phố Hà Nội)
nguồn gốc do và ông T1 mua. (Tuy nhiên bà không nhớ thông tin của chủ sở
hữu cũ). Ngày 01/6/2011, bà và ông T1 được UBND quận T cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BĐ676015
tại thửa đất số 61 (1 phần), tờ bản đồ số 8G-III-42, diện tích 34,0 m
2
.
Năm 2019, do cần tiền để làm ăn nên bà Nguyễn Thị H1 (là vợ của ông T1)
nói với ông T1 rằng hiện nay H1 đang nợ xấu tại Ngân hàng nên
không thể đứng ra làm thủ tục vay Ngân hàng được. Bà Nguyễn Thị H1 có nhờ ông
Nguyễn Văn H (là em ruột của H1) đứng ra vay Ngân hàng hộ bà H1 hỏi
với ông T1 cho mượn sổ đỏ để làm tài sản bảo đảm cho khoản vay, sau này làm ăn
được thì H1 sẽ giải chấp để trả sổ cho bà, ông T1. H1 nói với ông T1
làm thủ tục ủy quyền cho ông H để ông H làm thủ tục vay tiền Ngân hàng. Do thiếu
hiểu biết mà bà đã vào một số giấy tờ không được đọc nội dung do H1 cùng
ông H và một số người khác đưa cho tại Văn phòng công chứng (Bà không nhớ
Văn phòng công chứng nào), mãi sau này ông T1 mới biết đó hợp đồng
chuyển nhượng nhà đất cho ông H.
Tháng 03/2022, ông T1 H1 được Tòa án nhân dân quận Tây Hồ giải
quyết ly hôn. Đến tháng 05/2022, bà Thúy L đến gia đình đòi nhà và nói đã
4
mua nhà này của ông Nguyễn Văn H và yêu cầu chuyển ra khỏi nhà để trả lại nhà
cho bà L. Khi đó bà mới biết mình bị lừa, nhà đất trên đã được ông Nguyễn Văn H
chuyển nhượng cho bà Vũ Thúy L.
Đầu năm 2023, ông T1 đã đơn tố cáo Nguyễn Thị H1 ông
Nguyễn Văn H đến Công an quận T vtội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Công an quận T gọi cho bà đến và giải thích rằng đây tranh chấp về dân sự, các
bên tự hòa giải. Khi nộp đơn tố cáo H1, ông H thì bà không được nhận giấy biên
nhận và Công an quận T ng không có thông báo gì từ đó đến nay. Bà cũng không
cung cấp được cho Tòa án tài liệu chứng cứ chứng minh việc ông T1 đã nộp
đơn tố cáo bà H1, ông H tại Công an quận T.
Nay Thúy L khởi kiện ông Nguyễn Văn H những người đang sinh
sống trên nhà đất tranh chấp phải trả lại nhà đất cho L. không đồng ý
nhà đất này cả gia đình gồm 03 thế hệ đang sinh sống ổn định tại đây không
có nơi ở nào khác.
Do thiếu hiểu biết đã vào giấy tờ không được đọc nội dung, khẳng
định không chuyển nhượng nhà đất cho ai, không có sự bàn giao nhà cho ai.
Đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình bà. Bà không
thiện chí hòa giải với L không biết L ai. Ông H phải trách nhiệm
làm việc với bà L để trả lại sổ đỏ cho gia đình bà.
2.2. Ông Nguyễn Hồng T1 trình bày: Ông hoàn toàn nhất trí với trình bày của
bà N và không bổ sung gì thêm.
Ông và N đã được giải thích về yêu cầu độc lập, ông bà đã hiểu và không
có yêu cầu độc lập. Ngoài ra, ông bà không có trình bày gì khác.
2.3. Văn phòng C1, thành phố Hà Nội trình bày:
Ngày 30/6/2022, Văn phòng C1 nhận được yêu cầu công chứng hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở giữa bên chuyển nhượng
ông Nguyễn Văn H với bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Thúy L. Tài sản chuyển
nhượng là nhà đất tại số F ngách A T, phường T, quận T, thành phố Nội (Theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất số 676015, số vào sổ cấp GCN: H0214; Hồ gốc số 1769/QĐ-UB do
Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Hà nội cấp ngày 01/6/2011).
Tại thời điểm yêu cầu công chứng, các bên/những người tham gia ký kết hợp
đồng đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Việc kết
hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, không bị ép buộc. Mục đích của
giao dịch không trái đạo đức hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Tại thời
điểm hai bên ký kết hợp đồng, tài sản chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền
5
sở hữu nvà tài sản gắn liền với đất không bị hạn chế giao dịch bởi các quan hệ
dân skhác, cũng không bị ngăn chặn giao dịch bởi quan Nhà nước thẩm
quyền. Trình tự, thủ tục công chứng đã được công chứng viên thực hiện đúng, đủ
theo quy định. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Văn phòng C1 xin vắng mặt tại các phiên họp hgiải, công khai
chứng cứ và các phiên toà có liên quan trong phạm vi vụ việc.
2.4. Văn phòng C trình bày:
Ngày 09/12/2019, công chứng viên Nguyễn Thị H2 thuộc văn phòng C đã tiếp
nhận yêu cầu công chứng và thực hiện chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sở hu nhà quyền sử dụng đất số công chứng: 7154.2019, quyển số 03 TP/CC-
SCC/HĐGD theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Về việc cung cấp hồ sơ, tài liệu, căn cứ vào khoản 3 Điều 68 Luật Công chứng
số 46/2024/QH15 "Trong trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có yêu cầu
bằng văn bản về việc cung cấp hồ công chứng phục vụ cho việc giám sát, kiểm
trạ, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã công chứng
thì tổ chức hành nghề công chứng trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công
chứng các giấy tờ khác có liên quan. Việc đối chiếu bản sao văn bản công chứng
với bản chính chỉ được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng nơi đang lưu
trữ hồ sơ công chứng". Vì vậy, Văn phòng C cung cấp tới Tòa án 01 bản sao hồ sơ:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà quyền sdụng đất số công
chứng: 7154.2019, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD.
Văn phòng C xin được vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án đến khi vụ
án kết thúc theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1-Nội
xem xét giải quyết vụ án đđảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham
gia giao dịch.
3. Tại cấp sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn H người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan Nguyễn Thị H1: không đến Tòa án làm việc, khôngbản tự khai. Tòa
án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông
báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng
cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên bị đơn ông Nguyễn Văn H, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt không do. Do đó,
Toà án không hòa giải được cho các đương sự. vậy, Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự thẩm số 162/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội đã xử:
6
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thúy L đối
với bị đơn là ông Nguyễn Văn H về việc “Tranh chấp đòi tài sản là nhà đất”.
- Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả lại cho bà Vũ Thúy L nhà đất tại thửa đất
số 61 (1 phần), tờ bản đồ số 8G-III-42 tại địa chỉ số F ngách A T, phường T, quận
T, thành phố Nội (Nay phường B, thành phố Nội) theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất s
676015, số vào sổ cấp GCN: H0214; Hồ gốc số 1769/QĐ-UB do Ủy ban nhân
dân quận T, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/6/2011. Ngày 19/12/2019, Văn phòng Đ
- Chi nhánh quận T xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H theo Hợp đồng
số 7154.2019 do Văn phòng C lập ngày 09/12/2019. Ngày 18/7/2022 đăng
chuyển nhượng cho bà Thúy L theo Hợp đồng số 6664 do Văn phòng C2 ngày
30/6/2022.
- Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cNguyễn Thị T,
Nguyễn Việt N, ông Nguyễn Hồng T1, chị Nguyễn Thị Phương T2, chị Nguyễn Thị
Thanh P, anh Nguyễn Việt T3, anh Nguyễn Bá A phải di dời tài sản và các vật dụng
khác tại nhà đất số F ngách A T, phường T, quận T, thành phố Nội (Nay là
phường B, thành phố Hà Nội) để trả lại nhà cho bà Vũ Thúy L.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Thúy L đối với
yêu cầu: Buộc ông Nguyễn Văn H cụ Nguyễn Thị T, Nguyễn Việt N, ông
Nguyễn Hồng T1, chị Nguyễn Thị Phương T2, chNguyễn Thị Thanh P, anh Nguyễn
Việt T3, anh Nguyễn A phải bồi thường cho bà Vũ Thúy L toàn bthiệt hại phát
sinh do chiếm giữ trái phép nhà, đất nêu trên tính từ ngày 01/9/2022 đến tháng
11/2024 là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng.)
3. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan không yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng
vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan kháng cáo Bản án dân sự thẩm số 162/2025/DS-ST ngày
25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hà Nội:
Nguyên đơn bà Vũ Thúy L: kháng cáo mt phần bản án sơ thẩm và đề nghị sửa
một phần bản án sơ thẩm theo hướng: Bác bỏ hoàn toàn các yêu cầu của bị đơn
người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong ván nêu trên; Chấp nhận yêu cầu
của nguyên đơn.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H: kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm đề
nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
7
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Việt N, ông Nguyễn Hồng
T1: kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét
lại toàn bộ bản chất sự thật của vụ việc dẫn đến phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án (v
án cần phải xét xử lại); Xem xét lại quá trình xét xử của Tòa án thẩm; Xem xét
lại kết luận bản tuyên án của cấp thẩm; Đề nghị Tòa án phúc thẩm xử lại vụ án
khi có mặt đầy đủ của các đương sự (cụ thể là thân chủ bên nguyên đơn và bị cáo bị
khởi kiện) về luật sư của nguyên đơn được ủy quyền không nắm rõ vụ việc.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Nguyên đơn Thúy L rút toàn bộ đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng
xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
2. Bị đơn ông Nguyễn Văn H kháng cáo, đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai,
vắng mặt không có lý do.
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Việt N ông Nguyễn
Hồng T1 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử cấp
phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án, bản chất việc mua bán là giả cách,
bản thân người trong gia đình lợi dụng tín nhiệm của gia đình bà H1 đã đem bán tài
sản, người mua không tìm hiểu, mua không ngay tình, người trong nhà lừa gạt các
thành viên gia đình, trái với đạo đức xã hội. Sự việc này quan Công an đã giải
quyết theo tố cáo, nhưng lại chuyển sang giải quyết bằng vụ án dân sự. Giữa L,
H1ông H đã làm việc với cơ quan Công an về việc vay nợ và chuyển nhượng
nhà đất, theo hướng hgiải bà H1 trả nợ cho L, và bà L trả lại nhà đất cho gia
đình ông bà, hàng năm gia đình bà vẫn đóng thuế sử dụng đất đầy đủ với Nhà nước,
nay L khởi kiện ra Toà án yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải trả lại nhà đất, gia
đình ông không còn chỗ nào khác, đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà L, đảm bảo quyền lợi của gia đình bà.
Các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới không thoả
thuận được với nhau về cách giải quyết vụ án.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tphát
biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán - Chủ tọa phiên
tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng
theo quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp
hành đúng quyền nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng
cáo của bị đơn trong thời hạn luật định nộp tạm ứng án phí đầy đnên về hình
thức là hợp lệ.
8
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật
tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan, đình chỉ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Thúy L bđơn ông
Nguyễn Văn H, giữ nguyên bản án dân s thẩm số 162/2025/DS-ST ngày
25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Hà Nội. (Có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn Thúy L, bị đơn ông Nguyễn Văn H người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Việt N ông Nguyễn Hồng T1 đã nộp
đơn kháng cáo tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm (bà N ông T1 thuộc
trường hợp miễn án phí) trong thời hạn quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có mặt,
bị đơn vắng mặt, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T1 N mặt.
Vắng mặt một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác.
Tại phiên toà nguyên đơn Thúy L t toàn bộ nội dung kháng cáo; Bị
đơn ông Nguyễn Văn H kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt
không có lý do. Toà án căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sxét xử theo quy định
pháp luật, và đình chỉ xét xử phúc thẩm với phần kháng cáo của nguyên đơn
Thúy L và bị đơn ông Nguyễn Văn H.
[1.2]. Thúy L căn cứ tài liệu: Giấy chứng nhận quyền sdụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số 676015, số vào scấp
GCN: H0214; Hồ gốc số 1769/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân quận T, thành phố
nội cấp ngày 01/6/2011. Ngày 19/12/2019, n phòng Đ - Chi nhánh quận T xác
nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H theo Hợp đồng số 7154.2019 do Văn
phòng C lập ngày 09/12/2019. Ngày 18/7/2022 đăng ký chuyển nhượng cho Vũ
Thúy L theo Hợp đồng số 6664 do Văn phòng C2 ngày 30/6/2022; khởi kiện yêu
cầu ông Nguyễn Văn H ang sinh sống thường xuyên tại địa chỉ số E nB H,
phường N, thành phố Nội), phải dọn đi nơi khác trả lại quyền shữu nhà đất cho
bà L. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp đòi tài sản là nhà đất” là
có căn cứ, đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35 Bộ luật
tố tụng dân sự.
9
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Hồng T1Nguyễn Việt N:
[2.1]. Theo Văn phòng Đ Chi nhánh T cung cấp: quyền sở hữu nhà quyền
sử dụng đất nhà số E ngõ B H, phường N, thành phố Hà Nội:
[2.1.1]. Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu n
tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 676015, số vào sổ cấp GCN: H0214; Hồ sơ gốc
số 1769/QĐ-UB do y ban nhân dân quận T, thành phố nội cấp ngày 01/6/2011:
vào thời điểm m 2011, ông Nguyễn Hồng T1 Nguyễn Việt N người s
hữu sử dụng hợp pháp nhà đất tại thửa đất số 61(1 phần), tờ bản đồ số 8G-III-42, số
F ngách A T, phường T, quận T, thành phố Nội (Nay là phường B, thành phố Hà
Nội).
[2.1.2]. n cứ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà quyền sử dụng
đất số công chứng 7154/2019 quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/12/2019
giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Hồng T1, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Việt
N với bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Văn H, đối với nhà đất tại thửa đất số
61 (1 phần), tờ bản đồ số 8G-III-42 tại địa chỉ số F ngách A Thụy Khuê phường T,
quận T, thành phố Hà Nội (nay là phường B, thành phố Hà Nội).
Xét thấy, vào thời điểm chuyển nhượng, ông Nguyễn Hồng T1 và bà Nguyễn
Việt N người sở hữu sử dụng hợp pháp nhà đất, nên quyền chuyển nhượng n
đất cho ông Nguyễn Văn H. Hai bên ký kết hợp đồng hoàn toàn tnguyện, Hợp
đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng. Ngày 19/12/2019, Chi nhánh Văn
phòng Đ Chi nhánh quận T đăng ký sang tên cho ông Nguyễn Văn H.
Theo quy định tại Điều 122 Luật nhà ở 2014: “Điều 122. Công chứng, chứng
thực hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về nhà ở
1. Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà , chuyển
nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng
thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Đối với c giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm hiệu lực của
hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng.”
Theo quy định trên, kể từ thời điểm công chứng, Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sở hữu nhà đã có hiệu lực.
Căn cứ khoản 3 Điều 167, khoản 1 Điều 168 Luật đất đai 2013: kể từ thời
điểm đăng biến động (ngày 19/12/2019), quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng
đất đã được chuyển cho ông Nguyễn Văn H. Ông Nguyễn Văn H quyền shữu
10
nhà quyền sử dụng đất hợp pháp đối với nhà đất số F ngách A Thụy Khuê phường
T, quận T, thành phố Hà Nội (nay là phường B, thành phố Hà Nội).
[2.1.3]. Do ông Nguyễn Văn H quyền sở hữu sử dụng đất hợp pháp đối
với nhà đất số F ngách A T phường B, thành phố Nội, nên việc ông H chuyển
nhượng cho Thúy L theo Hợp đồng số 6664 do Văn phòng C2 ngày 30/6/2022
là hợp pháp. Ngày 18/7/2022, Văn phòng Đ Chi nhánh quận T đăng ký biến động
sang tên cho Thúy L là đúng quy định. Kể từ thời điểm được đăng sang
tên, bà Vũ Thúy L là người sở hữu nhà quyền sử dụng đất hợp pháp đối với nhà đất
số F ngách A Thụy Khuê phường T, quận T, thành phố Nội (nay phường B,
thành phố Hà Nội).
L khởi kiện yêu cầu ông H những người đang sinh sống tại nhà đất số
F ngách A T phải trả lại nhà đất là có căn cứ chấp nhận. Cấp sơ thẩm chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ.
Nhận thấy, việc nguyên đơn Thúy L kháng cáo đề nghị Hội đồng xét
xử cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, sửa bản án dân sự
thẩm. Yêu cầu ông H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đang sử dụng, chiếm
giữ trái phép nhà của bà phải bồi thường thiệt hại cho bà số tiền 135.000.000 đồng.
Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn cũng như đại diện theo u quyền
của nguyên đơn rút yêu cầu kháng cáo nên HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm
không xem xét.
[2.2]. Xét kháng cáo của bà N và ông T1: Đầu năm 2023, bà N và ông T1 đã
đơn tố cáo bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn H đến Công an quận T về tội
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Công an quận T có gọi cho bà N đến
giải thích rằng đây là tranh chấp về dân sự, các bên tự hòa giải. Khi nộp đơn tố cáo
H1, ông H thì N không được nhận giấy biên nhận Công an quận T cũng
không thông báo từ đó đến nay. Tuy nhiên, N cũng không cung cấp được
cho Tòa án tài liệu chứng cứ chứng minh việc ông T1 đã nộp đơn tố cáo
H1, ông H tại Công an quận T.
Bà N, ông T1 trình bày cho rằng bản chất việc mua bán là giả cách, bản thân
người trong gia đình lợi dụng tín nhiệm của gia đình H1 đã đem bán tài sản, người
mua không tìm hiểu, mua không ngay tình, người trong nhà lừa gạt ông bà, trái với
đạo đức hội. Sự việc này quan Công an đã giải quyết theo tố cáo, nhưng lại
chuyển sang giải quyết bằng vụ án dân sự. Giữa L, bà H1 anh H đã làm việc
với quan Công an về việc vay nợ và chuyển nhượng nđất, theo hướng hoà giải
H1 trả nợ cho L, và bà L trả lại nhà đất cho gia đình bà, hàng năm gia đình ông
11
vẫn đóng thuế sử dụng đất đầy đvới Nhà nước, nay bà L khởi kiện ra Toà án
yêu cầu Nguyễn Văn H phải trả lại nhà đất, gia đình ông không còn chỗ nào
khác, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L, đảm
bảo quyền lợi của gia đình ông bà.
Ngoài các lời trình bày của ông T1 bà N, ông T1 bà N đều không xuất trình
được tài liệu, chứng cứ khác xác định việc mua bán nhà, đất là giả tạo, che giấu cho
việc H1 nhờ ông Nguyễn Văn H (là em ruột của H1) đứng ra vay Ngân
hàng hộ bà H1 và hỏi bà N với ông T1 cho mượn sổ đỏ để làm tài sản bảo đảm cho
khoản vay, sau này làm ăn được thì bà H1 sẽ giải chấp đtrả sổ cho bà N. H1 nói
với bà N và ông T1 m thủ tục ủy quyền cho ông H để ông H làm thủ tục vay tiền
Ngân hàng. Ông T1 N thừa nhận do thiếu hiểu biết nên đã vào hợp đồng
chuyển nhượng cho ông H nhưng với mục đích không phải chuyển nhượng mà ký
để ông H làm thtục giải chấp với Ngân hàng để ông T1N lấy sổ đỏ về và không
bị mất nhà. Lời trình bày của ông T1 N không tài liệu chứng cứ chứng minh
nên không có căn cứ chấp nhận.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 308; khoản 3, Điều
296 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Nguyễn Việt N, ông Nguyễn Hồng T1; Đình chỉ xét xử phúc
thẩm phần kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thúy L bị đơn ông Nguyễn Văn H.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 162/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Hà Nội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nội phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3]. Về dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn Thúy L, bị đơn ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Việt N ông Nguyễn
Hồng T1 là người cao tuổi, được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Khon 2 Điu 26; Điều 39; Điều 148; Khoản 2, khoản 3, Điều 296; khoản 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 99; Điều 100; Khoản 3 Điều 167; khoản 1 Điều 168 Luật đất đai 2013;
Điều 122 Luật nhà ở 2014;
12
- Điều 155, Điều 164; khoản 2 Điều 165, Điều 166; Điều 502 Bộ luật dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án;
Xử:
[1]. Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thúy
L.
[2]. Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn
Văn H.
[3]. Không chấp nhận kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Việt N và ông Nguyễn Hồng T1.
[4]. Giữ nguyên bản án dân ssơ thẩm số 162/2025/DSST ngày 25 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội.
[5]. Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn Thúy L phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0008416 ngày 19
tháng 9 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0008208 ngày 18
tháng 9 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng T1 Nguyễn
Việt N không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự, quyền thothuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều
9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sđược thực hiện theo quy
định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
13
Nơi nhận:
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND khu vực 1-HN;
- THADS TP Hà Nội;
- Các đương sự;
- Lưu văn phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 613/2026/DS-PT Bản án số 613/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 613/2026/DS-PT Bản án số 613/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất