Bản án số 601/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 601/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 601/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 601/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 601/2026/DS-PT Bản án số 601/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 601/2026/DS-PT Bản án số 601/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

3
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 601/2026/DS-PT
Ngày: 22 - 9 - 2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu chấm dứt hành vi cản
trở việc sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Tâm
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Bà Lê Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng.
- Đi din Vin Kim st nhân dân tnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Ông Trần Minh Công - Kim sát viên.
Trong các ngày 21, 22 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 194/2026/TLPT-
DS ngày 09 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu
cầu chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 08/12/2025 của Toà
án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 512/2026/QĐ-PT
ngày 24/7/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1947; địa chỉ: Số B (số M),
đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm: 1978; địa chỉ: C, khối A Chung cư B - N,
Phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Văn bản ủy quyền ngày 18/3/2025). Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Bích C, sinh năm: 1975; địa chỉ: số D, đường N, Khu
phố E, phường B, thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày
18/3/2025).Vắng mặt khi tuyên án.
4
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Mạnh T – Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Phòng A, tòa
A Khu Đô thị T- N, Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Vắng mặt khi tuyên án.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1953; địa chỉ: Số B (số M), đường
Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Hải Đ, sinh năm: 1970; địa chỉ:
H đường C tháng B, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng (Theo văn bản ủy quyền
ngày 20 tháng 8 năm 2026). Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng N1; địa chỉ: số B, đường L, Phường G, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: ông Phạm Toàn V, là người đại diện theo pháp
luật – Chức vụ: Tổng giám đốc.
3.2. Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh L; địa chỉ: số E, đường P,
Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T1, là người đại diện theo
pháp luật – Chức vụ: Giám đốc
3.3. Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân thành phố
Đ, tỉnh Lâm Đồng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
4. Người kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H; Viện
trưởng Viện kim sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
Bà Trần Thị Mỹ L, bà Nguyễn Thị Bích C, ông Nguyễn Mạnh T và ông
Huỳnh Hải Đ có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 11/5/2023 và đơn khởi kiện bổ sung
ghi ngày 29/10/2025 của bà Nguyễn Thị H1 quyền cho bà Nguyễn Thị Bích C,
bà Trần Thị Mỹ L trình bày:
Diện tích đất 273m
2
, thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57, tọa lạc tại số
C, đường Đ, phường D, thành phố Đ (nay là phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng có
nguồn gốc do bà Nguyễn Thị H được nhận thừa kế của bố mẹ là ông Nguyễn
Văn T2 (chết năm 1978), bà Nguyễn Thị M (chết năm 1976). Năm 1996, bà H
kê khai đăng ký thừa kế nhà đất trên tại Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố
Đ và đã được Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố Đ ghi tên là chủ sử dụng
đối với diện tích đất trên vào sổ mục kê đất. Năm 2002, bà H được Ủy ban nhân
dân thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4201040318 đối
với diện tích đất 131.22m
2
, thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57. Phần diện
tích đất còn lại là 141.78m
2
bà H chưa hoàn tất thủ tục cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nhưng bà H vẫn quản lý, sử dụng diện tích đất này, trên đất
5
có 01 ngôi nhà gạch diện tích khoảng 20m
2
được xây dựng từ năm 1968 và 01
ngôi nhà lợp tôn có diện tích khoảng 18m
2
được xây dựng từ năm 1989.
Năm 2006, căn nhà xuống cấp nên bà H có xin phép đập ra xây lại 01 trệt,
01 lầu đúc trên diện tích đất 131,22m
2
. Ngày 17/6/2009, bà H có ký hợp đồng
vay vốn với Ngân hàng N1. Đđảm bảo cho khoản vay trên thì bà H có thế
chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4201040318 đối với diện tích đất
131.22m
2
, thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57 với Ngân hàng N1. Trong quá
trình làm ăn, bà H làm ăn thua lỗ nên không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân
hàng, bà H đã đồng ý bàn giao tài sản thế chấp trên cho Ngân hàng phát mãi đ
thu hồi nợ. Ngân hàng đã đưa diện tích nhà, đất trên qua Trung tâm dịch vụ đấu
giá tài sản tỉnh L tổ chức bán đấu giá và bà Nguyễn Thị N đã là người trúng
đấu giá mua diện tích đất nói trên. Khi bà H bàn giao tài sản bán đấu giá bà H
chỉ bàn giao nhà, diện tích đất 131.22m
2
, thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57.
Ngoài ra bà H không bàn giao diện tích đất nào khác. Diện tích đất 141,78m
2
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà H vẫn quản lý sử dụng
ổn định từ đó cho đến nay.
Năm 2011, bà Nguyễn Thị N nhận chuyn nhượng diện tích đất 131.22m
2
,
thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57 thông qua hình thức mua đấu giá quyền
sử dụng đất theo Hợp đồng bán đấu giá tài sản số 398/2011/HĐBĐG ngày
07/11/2011 tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh L.
Theo biên bản giao nhận tài sản cho người trúng đấu giá thì bà N được
giao tài sản là nhà và diện tích đất 131,22m
2
, thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số
57, tọa lạc tại số B, đường Đ, phường D, thành phố Đ.
Do bà Nguyễn Thị N có có hành vi lấn chiếm đất của bà H. Vì vậy, bà H
đề nghị Tòa án xem xét buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho bà H phần diện tích
đất đã lấn chiếm theo họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH
A thực hiện đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L thẩm định bản vẽ là
59,5m
2
thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57, tọa lạc tại số B, đường Đ, phường
D, thành phố Đ (nay là phường X - Đ), cụ thnhư sau: Diện tích đất 0,1m
2
(
phần ký hiệu số 4); diện tích đất 41,3m
2
(phần ký hiệu số 3) và diện tích đất
18,1m
2
(một phần ký hiệu số 2); buộc bà N phải tháo dỡ các công trình xây
dựng trên phần đất đã lấn chiếm tại (phần ký hiệu số 3) và (một phần ký hiệu
số 2) theo họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất ; công nhận bà H là người sử
dụng hợp pháp đối với phần diện tích đất ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 4201040318 là 124,7m
2
, thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57, tọa lạc
tại phường D, thành phố Đ (nay là phường X - Đ), cụ th như sau, diện tích đất
65,2m
2
phần ký hiệu số 1 (sau khi đã trừ 6,5m
2
đất nền nhà bà N đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H đã xác định ranh giới, rào chắn trả
lại cho bà N), diện tích đất 18,1m
2
phần ký hiệu số 2; diện tích 0,1m
2
phần ký
hiệu số 4 và diện tích đất 41,3m
2
phần ký hiệu số 3 và yêu cầu bà N chấm dứt
hành vi cản cản trở quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên của bà H. Bà
6
H đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị N diện tích đất 6,5m
2
tại một phần ký hiệu số
1 bà H đang sử dụng.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị N thì bà H không đồng
ý vì căn cứ hồ sơ vay vốn và thế chấp tài sản, hồ sơ xử lý tài sản thế chấp, bán
đấu giá tài sản của bà H, Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá giữa Trung tâm
dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh L và người mua là bà Nguyễn Thị N thì thấy
rằng bà N chỉ được sử dụng hợp pháp diện tích đất 131,22 m
2
được công nhận
theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 4201040318
do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 13/05/2002. Ngoài diện tích đất trên
bà N không còn bất cứ phần đất nào tại vị trí này (thửa đất số 21). Không có
văn bản nào chứng minh bà N được cơ quan nhà nước giao, cho phép quản lý,
sử dụng phần đất này từ năm 2012 đến nay như bà N trình bày. Theo các tài
liệu có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh, bà H là người kê khai sử dụng đất từ
năm 1963, là người duy nhất được thừa kế toàn bộ thửa đất số 21, tờ bản đồ số
57 từ cha mẹ ruột là ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị M. Bà H có hồ sơ
quản lý đất, nộp thuế liên tục, có đầy đủ hợp đồng điện nước liên tục và được
Ủy ban nhân dân phường D; Ủy ban nhân dân tỉnh xác nhận rõ ràng việc sử
dụng thực tế phần đất này qua các thời kỳ, bao gồm cả phần trong và ngoài lộ
giới.
Theo lời trình bày của bị đơn bà Nguyễn Thị N: Ngày 07/12/2011, bà
Nguyễn Thị N mua trúng đấu giá ngôi nhà và đất tại địa chỉ số B Đ, phường D,
thành phố Đ (nay là phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng với giá là 1.490.956.000đ.
Bao gồm phần diện tích đất 131,22m
2
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở
hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4201040318 thuộc thửa đất số 21, tờ bản
đồ số 57 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 13/5/2002 và phần diện
tích thuộc lộ giới. Ngày 13/01/2012, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh
L và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát trin nông thôn thành phố Đ, tỉnh Lâm
Đồng bàn giao nhà và đất tại số B Đ, phường D, thành phố Đ (nay là phường
X - Đ) cho bà N. Tại thời đim bàn giao, do bà H không có chỗ ở nào khác nên
Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh L và Ngân hàng đã cho bà H ở nhờ
phần đất bên cạnh (phần đất thuộc lộ giới) cho đến khi có chỗ ở mới. Tuy nhiên,
sau khi bà H tìm được nơi ở mới, bà H không hoàn trả lại phần diện tích trên
mà còn tiến hành xây dựng công trình trái phép trên phần đất thuộc lộ giới. Nay
bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu bà N phải trả cho bà Nguyễn Thị H phần
diện tích đất đã lấn, buộc bà N phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần
đất đã lấn chiếm và đề nghị Toà án công nhận quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất và yêu cầu bà N chấm dứt hành vi cản cản trở quyền sử dụng đất đối
với diện tích đất trên của bà Nguyễn Thị H thì bà N không đồng ý với toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của bà H.
Theo Họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất, th hiện tổng diện tích là
265,4m
2
, trong đó: Phần đất tại vị trí ký hiệu số (1) là 71,7m
2
; tại vị trí ký hiệu
số (2) là 152,3m
2
; tại vị trí ký hiệu số (3) và (4) là 41,4m
2
. Tại buổi làm việc
7
ngày 22/4/2025, bà Trần Thị Mỹ L (đại diện của bà H) chỉ tranh chấp phần đất
tại vị trí ký hiệu số (3) và số (4), không tranh chấp phần đất tại vị trí ký hiệu số
(1). Đồng thời, bà L đồng ý trả lại cho bà N phần diện tích đất bà N đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại vị trí ký hiệu số (1) bà H đang sử
dụng. Tuy nhiên, sau khi bàn giao nhà thì bà H không còn đất tại vị trí này,
phần đất bà H tranh chấp là phần đất thuộc lộ giới của đường T và đường Đ, bà
H đã cho người tự ý rào lại từ khi phát sinh tranh chấp cho đến nay, gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi và việc quản lý, sử dụng hợp pháp của bà
N. Do vậy, bà N đã có đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án xem xét buộc bà H
phải trả cho bà N toàn bộ diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà N
tại vị trí ký hiệu số (1), (3) và (4) theo Họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất
mà bà H đang chiếm dụng và đề nghị Tòa án tạm giao cho bà Nguyễn Thị N
được quyền quản lý, sử dụng phần đất thuộc lộ giới của đường T và đường Đ
tại vị trí ký hiệu số (1), (3) và (4) theo Họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất
cho đến khi nhà nước có chủ trương thu hồi phần đất này theo quy định pháp
luật.
Theo họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH A thực hiện
thì tại vị trí ký hiệu số (1) phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đồng ý trả lại cho
bà N phần diện tích đất bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
6,5m
2
thì bà N đề nghị Tòa án ghi nhận việc bà H đồng ý trả cho bà N diện tích
đất trên. Vì vậy, tại vị trí ký hiệu số (1) bị đơn bà N chỉ yêu cầu bà H phải trả
cho bà N diện tích đất 65,2m
2
. Tạm giao cho bà Nguyễn Thị N được quyền
quản lý, sử dụng phần đất thuộc lộ giới của đường T và đường Đ tại vị trí ký
hiệu số (1) là 65,2m
2
(sau khi đã trừ 6,5m
2
phía bà H đồng ý trả cho bà N), vị
trí ký hiệu số (3) là 41,3m
2
và vị trí ký hiệu số (4) là 0,1m
2
theo họa đồ đo đạc
hiện trạng sử dụng đất cho đến khi nhà nước có chủ trương thu hồi phần đất
này theo quy định pháp luật.
Ngân hàng N1 trình bày: Bà Nguyễn Thị H có ký Hợp đồng tín dụng số
5406-LAV-2009002252 ngày 18/06/2009 đ vay số tiền 1.200.000.000đ, tài
sản được bảo đảm cho khoản vay trên là diện tích đất 131,22 m
2
đất ở thuộc
thửa 21, tờ bản đồ số 57, phường D, thành phố Đ (nay là phường X - Đ) theo
giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4201040318
do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 13/5/2002. Việc thế chấp được ký
kết tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 247 ngày 17/06/2009, chứng thực số 614,
quyn số 03/09TP/CC/HĐGD do Ủy ban nhân dân phường D chứng thực ngày
18/06/2009, được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Trung tâm tích hợp thông tin
địa lý và đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Đ ngày 18/6/2009. Do khách
hàng gặp khó khăn không trả được nợ nên tài sản bảo đảm đã được bán đấu giá
đ thu hồi nợ theo hợp đồng bán đấu giá tài sản số 398/2011/HĐBĐG ngày
07/11/2011 của Trung tâm dịch vụ đấu giá tỉnh L. Ngân hàng đã tất toán nợ vào
ngày 03/01/2012 và đã bàn giao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền
8
sử dụng đất ở số 4201040318 đ người trúng đấu giá làm thủ tục sang tên theo
quy định của pháp luật.
Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh L trình bày: Ngày 07/11/2011,
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh L tổ chức ký Hợp đồng bán đấu giá tài
sản số 398/2011/HĐBĐG với Ngân hàng NN&PT nông thôn tỉnh L - Chi nhánh
Đ1 đ tổ chức bán đấu giá tài sản thế chấp của bà Nguyễn Thị H là Quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số B, đường Đ, phường D, thành phố Đ
(nay là phường X - Đ) kèm theo toàn bộ các giấy tờ pháp lý có liên quan đến
tài sản theo quy định. Sau khi ký hợp đồng bán đấu giá đối với tài sản, đ tổ
chức đấu giá tài sản trên, Trung tâm đã thực hiện theo đúng các quy trình, trình
tự, thủ tục về đấu giá tài sản pháp luật quy định. Ngày 07/12/2011 Trung tâm
Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh L đã tổ chức đấu giá thành tài sản nói trên theo
Biên bản bán đấu giá tài sản và Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số
105/2011/HĐMB ngày 07/12/2011 đã được công chứng.
Người mua được tài sản trên là bà Nguyễn Thị N. Tại Hợp đồng bán đấu
giá tài sản số 398/2011/HĐBĐG ngày 07/11/2011 và các Biên bản bán đấu giá
tài sản, theo Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 103/2011/HĐMB ngày
07/12/2011 đều th hiện rõ, Trung tâm tổ chức bán tài sản là quyền sử dụng đất
có diện tích 131,22m
2
đất ở, thuộc thửa đất 21, tờ bản đồ số 57 (tài sản gắn liền
là nhà ở có diện tích xây dựng tầng trệt là 48,77m
2
, tổng diện tích sàn là
103,437m
2
, số tầng 02 (1 trệ), nhà cấp 4, hạng 2. Trung tâm dịch vụ đấu giá tài
sản tỉnh L đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết các tranh chấp theo quy định của
pháp luật.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân thành phố Đ,
tỉnh Lâm Đồng là Ủy ban nhân dân phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng trình bày,
tại phần diện tích đất tọa lạc tại số B Đ, phường D, thành phố Đ thuộc một phần
thửa đất số 21, phường D, thành phố Đ (nay là phường X - Đ). Căn cứ bản đồ
địa chính và sổ mục kê năm 1996 được lưu trữ tại phường D: Thửa đất số 21,
phường D thành phố Đ có diện tích 273,3m
2
trong đó thế hiện là đất thổ (T) do
bà Nguyễn Thị H đăng ký kê khai. Đối với phần diện tích đất 131,22m
2
tọa lạc
tại số B Đ, phường D, thành phố Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 4201040318 do Ủy ban nhâ dân thành phố Đ cấp ngày 13/5/2002 do bà
Nguyễn Thị H nộp thuế năm 1997 (theo Thông báo số 300/TB-UB ngày
27/11/1997 của Ủy ban nhân dân phường D v/v Truy thu thuế đất ở và đất nông
nghiệp do kê khai đóng thuế không đúng với diện tích đo đạc). Đối với phần
diện tích đất 141,78m
2
tọa lạc tại số B Đ, thuộc thửa B, phường D cũ, nay là
phường X - Đ do bà Nguyễn Thị H đăng ký kê khai. Thuộc đất lộ giới đường
T và đường Đ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 08/12/2025 của Toà
án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng xử:
9
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất” của bà Nguyễn
Thị H đối với bà Nguyễn Thị N.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu
Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 124,7m
2
thuộc một
phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57, tọa lạc tại số B (số mới 39), đường Đ,
Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị N về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Nguyễn Thị H.
1.1. Tạm giao cho bà Nguyễn Thị H quản lý, sử dụng lô đất có diện tích
60,8m
2
thuộc lộ giới thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57, tọa lạc tại
số B (số mới 39), đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng (một phần ký hiệu
tại vị trí số 1 và số 4 theo họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất) theo quy định
của pháp luật, khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực hiện theo quy định
của Luật Đất đai.
Tạm giao cho bà Nguyễn Thị N quản lý, sử dụng lô đất có diện tích 44,3m
2
thuộc lộ giới thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57, tọa lạc tại số B
(số mới 39), đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng (phần ký hiệu tại vị trí số
3 và một phần tại vị trí ký hiệu số 2 theo họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất)
theo quy định của pháp luật, khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực hiện
theo quy định của Luật Đất đai.
Phần đất giao thông gắn liền phần ký hiệu tại vị trí số 1 là 4,5m
2
do nguyên
đơn bà H đang quản lý; phần đất ký hiệu tại vị trí số 3 là 15,1m
2
do bị đơn bà
N đang quản lý thì các đương sự tạm thời quản lý cho đến khi có quyết định xử
lý của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H về việc trả lại cho bà
Nguyễn Thị N diện tích đất 6,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số
57, toạ lạc tại số B (số mới 39), đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng (một
phần thuộc vị trí ký hiệu số 1 theo hoạ đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất).
3. Buộc bà Nguyễn Thị N có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị
H số tiền 434.140.000đ (Bốn trăm ba mươi bốn triệu một trăm bốn mươi nghìn
đồng).
4. Bà Nguyễn Thị N không được có hiện hành vi cản trở bà Nguyễn Thị
H sử dụng diện tích đất 60,8m
2
thuộc lộ giới thuộc một phần thửa đất số 21, tờ
bản đồ số 57, tọa lạc tại số B (số mới 39), đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm
Đồng (một phần ký hiệu tại vị trí số 1 và số 4 theo hoạ đồ đo đạc hiện trạng,
sau khi đã trừ 6,5m
2
đất thuộc một phần thửa số 21, tờ bản đồ số 57 bà H tự
nguyện trả lại cho bà N).
(có họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH A thực hiện
ngày 27/11/2024 đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L thẩm định xác nhận
10
ngày 06/3/2025; họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH A
thực hiện ngày 20/3/2024 và họa đồ chú thích phần diện tích đất khởi kiện bổ
sung kèm theo).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi
hành án của các bên đương sự.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, Viện trưởng Viện kim sát nhân dân khu vực
1 - Lâm Đồng kháng nghị yêu cầu sửa bản án sơ thẩm: Đình chi yêu cầu khởi
kiện của bà Nguyễn Thị H và yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N về việc
tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 124,7m² đất
thuộc lộ giới; tạm giao cho bà N quản lý, sử dụng phần tài sản trên đất tại vị trí
số 2, 3 theo họa đồ đo đạc hiện trạng ngày 20-3-2024 cho đến khi có quyết định
xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, bà Nguyễn Thị H kháng cáo yêu cầu sửa
hoặc hủy một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn về việc tiếp tục tạm giao quản lý, sử dụng 59,4m² đất tranh
chấp thuộc một phần vị trí số 2, 3 theo họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất, là
phần diện tích đất Tòa án cấp sơ thẩm tạm giao cho bị đơn. Buộc bị đơn chấm
dứt hành vi chiếm đất và phá dỡ các công trình xây dựng trên diện tích 59,4m²
đất tranh châp thuộc một phần vị trí sô 2, 3 theo họa đô đo đạc. Bàn giao, trả
cho nguyên đơn 59,4m² đất tranh châp thuộc một phần vị trí số 2, 3 theo họa
đồ đo đạc đ nguyên đơn tiếp tục quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa,
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ L và bà Nguyễn
Thị Bích C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày phần
diện tích đất đang có tranh chấp nguyên đơn đồng ý trả lại cho bị đơn 6,5m².
Bản án chưa có hiệu lực nhưng bị đơn đã làm thủ tục tặng cho toàn bộ phần
diện tích đất này cho bà Nguyễn Thị Thúy H2 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ
thẩm giải quyết lại và xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn theo quy
định của pháp luật.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Huỳnh Hải Đ không đồng ý với
kháng cáo của nguyên đơn và đồng ý với kháng nghị của Viện trưởng Viện
kim sát nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng.
Đại diện Viện kim sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát
biu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã
thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Rút một phần kháng nghị đối với yêu cầu đình chỉ yêu cầu
khởi kiện của bà Nguyễn Thị H và yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N về
việc tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 124,7m²
11
đất thuộc lộ giới và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
nguyên đơn bà H, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kim
sát nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng tạm giao cho bà N quản lý, sử dụng phần
tài sản trên đất tại vị trí số 2, 3 theo họa đồ đo đạc hiện trạng ngày 20-3-2024
cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do bản
án chưa có hiêu lực, bị đơn đã làm thủ tục tặng diện tích đất cho bà H2 nên việc
không đưa bà H2 vào tham gia tố tụng là ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên
đương sự. Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; hủy
toàn bộ bản án giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa
án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt và không có kháng cáo nên căn
cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ
pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt
hành vi cản trở việc sử dụng đất” là có căn cứ. Đơn kháng cáo của nguyên đơn
bà Nguyễn Thị H và kháng nghị của Viện trưởng Viện kim sát nhân dân khu
vực 1- Lâm Đồng được thực hiện trong thời hạn luật định, thủ tục thực hiện
đúng quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đủ điều
kiện đ Hồi đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[1.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kim sát nhân dân tỉnh
Lâm Đồng rút một phần kháng nghị đối với yêu cầu đình chỉ yêu cầu khởi kiện
của bà Nguyễn Thị H và yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N về việc tranh
chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 124,7m² đất thuộc lộ
giới. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần kháng nghị này.
[2].Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H và một phần kháng nghị của
Viện trưởng Viện kim sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng về phần diện tích
đất tạm giao cho bà N quản lý, sử dụng đất tại vị trí số 2, 3 theo họa đồ đo đạc
hiện trạng ngày 20-3-2024 cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thấy rằng:
[2.1]. Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp:
Theo hồ sơ quản lý đất đai năm 1996, bà Nguyễn Thị H kê khai, đăng ký
diện tích đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57 tại Ủy ban nhân dân phường
D, thành phố Đ, nay là phường X - Đ và được ghi nhận là người đăng ký, kê
khai sử dụng đất. Đến năm 2002, bà H được Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4201040318 đối với diện tích 131,22m²
thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57. Phần diện tích còn lại 141,78m² chưa
12
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà H vẫn quản lý, sử dụng
và trên đất có các công trình được hình thành, sử dụng từ trước.
Đối với diện tích đất 131,22m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, bà Nguyễn Thị H đã thế chấp tại Ngân hàng N1 đ bảo đảm khoản
vay. Do không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà H đồng ý giao tài sản thế chấp cho
Ngân hàng xử lý, phát mãi đ thu hồi nợ. Tài sản được đưa ra bán đấu giá và
bà Nguyễn Thị N là người trúng đấu giá. Xét phạm vi tài sản bà N nhận thông
qua việc bán đấu giá, Hợp đồng bán đấu giá tài sản số 398/2011/HĐBĐG ngày
07/11/2011, các biên bản bán đấu giá và Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá
số 105/2011/HĐMB ngày 07/12/2011 đều th hiện tài sản đưa ra bán đấu giá
là quyền sử dụng đất diện tích 131,22m² đất ở thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ
số 57 cùng tài sản gắn liền với đất. Biên bản giao nhận tài sản cho người trúng
đấu giá th hiện bà N nhận nhà và diện tích đất 131,22m² thuộc thửa đất trên.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định tài sản bà N mua và được giao nhận thông qua
việc bán đấu giá gồm nhà và diện tích 131,22m² đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; đối với phần diện tích đất còn lại, hồ sơ bán đấu giá không
th hiện bà N được nhận chuyn quyền sử dụng hoặc được giao quản lý, sử
dụng. Bà Nguyễn Thị H trình bày bà vẫn quản lý, sử dụng từ trước đến nay đối
với diện tích còn lại 141,78m² chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và trên đất có các công trình được hình thành, sử dụng từ trước. Còn bà
Nguyễn Thị N cho rằng khi nhận bàn giao tài sản trúng đấu giá, bà được giao
toàn bộ diện tích đất có trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất
thuộc lộ giới nên các bên phát sinh tranh chấp.
[2.2] Diện tích 131,22m² đất ở thuộc thửa đất số 21, bà H đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác định đây là phần đất đã được bán
đấu giá và thuộc quyền sử dụng của bà N các bên không tranh chấp. Quá trình
giải quyết vụ án, bà H đồng ý trả lại cho bà N diện tích 6,5m² thuộc phần đất
bà H đang quản lý, sử dụng trong phần diện tích được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất 131,22 m² nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện
này là có căn cứ.
[2.3] Diện tích đất còn lại 141,78m² thuộc thửa đất số 21 chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua xem xét hồ sơ quản lý đất đai, hồ sơ
đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ kê khai tại sổ mục
kê, th hiện diện tích đất còn lại 141,78m² thuộc thửa đất số 21 chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn do bà Nguyễn Thị H đăng ký, kê khai
và quản lý, sử dụng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà H không bị tác động bởi
các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với diện tích này.
Theo Công văn số 1146/UBND-KTHT ngày 25/9/2025 của Ủy ban nhân dân
phường X - Đ, phần diện tích này do bà Nguyễn Thị H kê khai, đăng ký nhưng
thuộc lộ giới đường T và đường Đ. Bà H đã quản lý, sử dụng thực tế trong thời
gian dài và trên đất có một số công trình được hình thành từ trước. Do diện tích
đất này thuộc lộ giới, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên
13
chưa có cơ sở pháp lý đ công nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho bà
H. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà H được quyền quản lý, sử dụng nhưng không
công nhận quyền sử dụng đất mà chỉ xem xét, giải quyết việc quản lý, sử dụng
thực tế đối với từng phần diện tích là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bà H và luật sư bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà H cho rằng phần diện tích đất nêu trên đang
có tranh chấp nhưng bà N đã làm thủ tục tặng cho toàn bộ phần diện tích đất
nguyên đơn trả lại 6.5m
2
với điều kiện bị đơn bà N phải trả lại phần diện tích
thuộc lộ giới chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Tòa án
cấp sơ thẩm không xem xét dẫn đến vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đề
nghị hủy án. Xét thấy diện tích 131,22m² đã được bán đấu giá, được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền công nhận và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho bà N, việc bà N thực hiện thủ tục tặng cho phần đất này cho bà Nguyễn Thị
Thúy H2 không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà H đối với
phần diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác,
bà Nguyễn Thị Thúy H2 không trực tiếp tham gia vào quan hệ tranh chấp đang
được giải quyết nên không cần thiết phải đưa bà H2 tham gia tố tụng với tư
cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên không có căn cứ chấp nhận lời
trình bày này.
Xét kháng cáo của bà H yêu cầu bà N trả lại phần diện tích đất tại vị trí
số 2 và số C, tháo dỡ công trình trên đất và chấm dứt hành vi cản trở việc quản
lý, sử dụng đất. Theo kết quả đo đạc hiện trạng, vị trí số 3 có diện tích 40,3m²,
trong đó 26,2m² thuộc lộ giới và 15,1m² thuộc đường; vị trí số 2 có diện tích
18,1m² bà N đang quản lý, sử dụng phần diện tích này và trên đất có công trình
xây dựng. Trên cơ sở xem xét nguồn gốc đất, hồ sơ địa chính, phạm vi tài sản
được bán đấu giá, hiện trạng và quá trình quản lý, sử dụng thực tế của các bên,
Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần diện tích 44,3m² thuộc lộ giới tại vị trí số 3
và một phần vị trí số 2 vẫn thuộc quyền quản lý sử dụng của bà H, nhưng do
phần diện tích đất này nối liền với phần diện tích đất bà N đã mua trúng đấu
giá và có xây dựng công trình trên đất nên đ đảm bảo tính công năng sử dụng
và quyền sử dụng đất, cần tạm giao cho bà N quản lý, sử dụng theo họa đồ đo
đạc hiện trạng sử dụng đất khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực hiện
theo quy định của Luật Đất đai; đồng thời buộc bà N thanh toán cho bà H giá
trị quyền sử dụng đất 434.140.000 đồng theo kết quả thẩm định giá là đảm bảo
quyền của bà H đối với diện tích này.
Diện tích 60,8m² tại vị trí số 1 và số 4 còn lại, như phân tích trên thuộc
quyền sử dụng của bà H, Tòa án cấp sơ thẩm tạm giao cho bà H quản lý, sử
dụng theo họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất khi nhà nước có chủ trương thu
hồi thì thực hiện theo quy định của Luật Đất đai là phù hợp.
[2.4] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của
bà H, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kim sát nhân dân
14
khu vực 1- Lâm Đồng về diện tích đất tạm giao; giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm.
[3]. Về chi phí tố tụng:
Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị H số
tiền là 37.408.469 đồng (làm tròn 37.408.000 đồng).
Bà Nguyễn Thị H phải chịu 1.500.000 đồng chi phí thẩm định tại chỗ tại
giai đoạn phúc thẩm (đã nộp và thanh toán xong).
[4] Về án phí:
Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị H không được chấp nhận nên bà H
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Bà H là người cao tuổi và có
đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thj H3.
Chấp nhận môt phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kim sát nhân
dân khu vực 1- Lâm Đồng.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 08/12/2025
của Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng.
Xử:
1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn
Thị H và yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp yêu cầu công
nhận quyền sử dụng đối với diện tích 124,7m² đất thuộc lộ giới.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc sử
dụng đất” đối với bà Nguyễn Thị N.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc yêu
cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 124,7m
2
thuộc
một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57, tọa lạc tại số B (số mới 39), đường
Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị N về
việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Nguyễn Thị H.
15
2.1. Tạm giao cho bà Nguyễn Thị H quản lý, sử dụng lô đất có diện tích
60,8m
2
thuộc lộ giới thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57, tọa lạc tại
số B (số mới 39), đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng (một phần ký hiệu
tại vị trí số 1 và số 4 theo họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất) theo quy định
của pháp luật, khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực hiện theo quy định
của Luật Đất đai.
2.2 Tạm giao cho bà Nguyễn Thị N quản lý, sử dụng lô đất có diện tích
44,3m
2
thuộc lộ giới thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 57, tọa lạc tại
số B (số mới 39), đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng (phần ký hiệu tại vị
trí số 3 và một phần tại vị trí ký hiệu số 2 theo họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng
đất) theo quy định của pháp luật, khi nhà nước có chủ trương thu hồi thì thực
hiện theo quy định của Luật Đất đai.
Phần đất giao thông gắn liền phần ký hiệu tại vị trí số 1 là 4,5m
2
do bà
Nguyễn Thị H đang quản lý; phần đất ký hiệu tại vị trí số 3 là 15,1m
2
do bà
Nguyễn Thị N đang quản lý thì các đương sự tạm thời quản lý cho đến khi có
quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2.3 Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H về việc trả lại cho bà
Nguyễn Thị N diện tích đất 6,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số
57, toạ lạc tại số B (số mới 39), đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng (một
phần thuộc vị trí ký hiệu số 1 theo hoạ đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất).
2.4 Buộc bà Nguyễn Thị N có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị
H số tiền 434.140.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành
án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.5 Bà Nguyễn Thị N không được có hiện hành vi cản trở bà Nguyễn Thị
H sử dụng diện tích đất 60,8m
2
thuộc lộ giới thuộc một phần thửa đất số 21, tờ
bản đồ số 57, tọa lạc tại số B (số mới 39), đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm
Đồng (một phần ký hiệu tại vị trí số 1 và số 4 theo hoạ đồ đo đạc hiện trạng,
sau khi đã trừ 6,5m
2
đất thuộc một phần thửa số 21, tờ bản đồ số 57 bà H tự
nguyện trả lại cho bà N).
(có họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH A thực hiện
ngày 27/11/2024 đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L thẩm định xác nhận
ngày 06/3/2025; họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH A
thực hiện ngày 20/3/2024 và họa đồ chú thích phần diện tích đất khởi kiện bổ
sung kèm theo).
3. Về chi phí tố tụng:
16
Bà Nguyễn Thị N có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị H số
tiền chi phí tố tụng là 37.408.000 đồng.
4. Về án phí:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn
Thị N.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 36, 72 của Luật Thi
hành án dân sự số 106/2025/QH15. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng GĐKT;TTr&THA;
- TAND Khu vực 1 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 1 - Lâm Đồng;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Tâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 601/2026/DS-PT Bản án số 601/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 601/2026/DS-PT Bản án số 601/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất