Bản án số 58/2025/DS-PT ngày 06/05/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 58/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 58/2025/DS-PT ngày 06/05/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 58/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/05/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu anh V và chị V1 trả Ngân hàng số tiền nợ gốc là 649.999.962đ, tiền lãi tính đến ngày 20/7/2023 là 17.636.984đ và tính tiền lãi phát sinh từ ngày 21/7/2023 đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất quá hạn mà các bên ký kết trong hợp đồng; đồng thời yêu cầu trả tiền nợ vay cấp thẻ tín dụng với số tiền nợ gốc là 48.642.442đ và nợ lãi tính đến ngày 20/7/2023 là 9.717.939đ, yêu cầu tính lãi phát sinh từ ngày 21/7/2023 đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất quá hạn mà các bên ký kết trong hợp đồng. Trường hợp anh V và chị V1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, Ngân hàng yêu cầu xử lý bán phát mãi tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẠC LIÊU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 58/2025/DS-PT
Ngày: 06 5 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều
Các Thẩm phán: Ông Lê Thanh Hùng
Ông Trương Thanh Dũng
- Thư phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép Thư Tòa án nhân n tỉnh
Bạc Liêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa:
Huỳnh Diễm Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng 02
năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 137/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 37/2025/QĐ-PT ngày
18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 (nay là Ngân hàng
Thương mại Cổ phần B1).
Trụ sở chính: Tầng 1, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà T, số B, đường T, phường T, quận
H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T Chức vụ:
Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm
1981 Chuyên viên xử nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 Chi nhánh
B2. Địa chỉ: Số E, đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Bị đơn: 1. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1991 (vắng mặt).
2. Chị Huỳnh Thị V1, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: p P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 (có mặt).
2
2. Bà Mai Hồng N, sinh năm 1966 (có mặt).
Cùng địa chỉ: p P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu
- Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 (nay Ngân hàng
Thương mại Cổ phần B1) là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong hồ vụ án tại phiên tòa
nguyên đơn trình bày:
Anh V chị V1 vay vốn tại Ngân hàng theo Hợp đồng hạn mức tín
dụng số HDTD22C2022/178 ngày 15/7/2022 với số tiền vay 650.000.000đ;
ngày giải ngân ngày 18/7/2022; thời hạn vay 12 tháng kể từ 15/7/2022 đến
ngày 14/7/2023, lãi suất cho vay là 9,4%/năm, lãi suất cho vay có điều chỉnh theo
thỏa thuận trong hợp đồng; lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay tại thời điểm
nợ quá hạn, lãi suất lãi chậm trả là 10%/năm, lãi trả hàng quý, gốc trả cuối kỳ.
Để đảm bảo nghĩa vụ vay nợ anh V và chị V1 đã kết với Ngân hàng Hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HDTC22C2022108 ngày 15/7/2022 để thế
chấp phần đất có diện tích 1.147,3 m
2
đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 77 tờ
bản đồ số 30, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 690528 điều chỉnh trang
3 ngày 14/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P.
Ngoài ra vào ngày 21/7/2022 anh V được cấp thẻ tín dụng vay số tiền
60.000.000đ, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 28%/năm, tính đến ngày 20/7/2023
còn nợ gốc số tiền 48.642.442đ và nợ lãi số tiền 9.717.939đ.
Kể từ ngày vay anh V chV1 đã không trả nợ đúng như thỏa thuận
đã phát sinh nợ quá, Ngân hàng nhiều lần nhắc việc thanh toán nợ, nhưng anh V
và chV1 không trả nợ, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện
Phước Long giải quyết buộc anh V chị V1 trả Ngân hàng số tiền nợ gốc
649.999.962đ, tiền lãi tính đến ngày 20/7/2023 17.636.984đ tính tiền lãi phát
sinh từ ngày 21/7/2023 đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất quá hạn mà
các bên ký kết trong hợp đồng; đồng thời yêu cầu trả tiền nợ vay cấp thẻ tín dụng
với số tiền nợ gốc 48.642.442đ nlãi tính đến ngày 20/7/2023 9.717.939đ,
yêu cầu tính lãi phát sinh từ ngày 21/7/2023 đến khi thanh toán xong nợ theo mức
lãi suất quá hạn mà các bên ký kết trong hợp đồng.
Trường hợp anh V chị V1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, Ngân
hàng yêu cầu xử lý bán phát mãi tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất số: HDTC22C2022108 ngày 15/7/2022 mà anh V chị V1 kết với
Ngân hàng đối với phần đất tại thửa 77 tờ bản đồ số 30 và các tài sản trên đất thế
chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
3
Phần đất thế chấp căn nhà ông T1 và N cùng với khu mộ phía sau nhà
N ông T1 như khi Tòa án thẩm định. Việc công trình trên đất thế chấp
không phải của anh V chị V1, nên Ngân hàng yêu cầu xử theo quy định pháp
luật.
* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không do;
không có trình bày ý kiến đối với yêu cầu ca nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Nguyễn Văn T1Mai
Hồng N trình bày:
Phần đất ông, đang cất nhà có nguồn gốc của cha ruột N ông
Mai Hồng D cho vợ chồng N ông T1 hơn 15 năm. Khi cho đất được vài năm
thì vợ chồng ông mới cất nhà ở được khoảng 5 năm. Sau đó Nhà nước thấy căn
nhà của ông, bị hỏng, nên cấp vật xây dựng tương đương số tiền
50.000.000đ để cất nhà đồng đội, khi đó vợ chồng ông hùn vô thêm 150.000.00đ,
nên giá trị căn nhà lúc cất là 200.000.000đ, căn nhà xây cách nay khoảng 10 năm.
Vị trí phần đất ông D cho ông T1 và bà N giáp với đất của anh bà N là ông
Mai Văn L (Ông L cha Mai Quốc B). Ông, bà cũng không biết về việc B
được cấp quyền sử dụng đất luôn phần đất của ông, bà được tặng cho.
Ông T1 và bà N xác định phần đất Tòa án cho xem xét, thẩm định đúng là
đất ông, bà sử dụng cất nhà, hết căn nhà là nền xi măng được trán ra tới giáp nhà
mồ. Có 01 nhà bếp nhỏ được cất kiên cố xây tường, nền gạch bông, mái lợp tol.
Trong căn nhà này hiện tại ông T1 N đang sinh sống. Phía sau căn n
có khu m lập hơn 20 năm (Trong khu mộ có mộ cha N Mai Hồng D, mẹ
N là Phan Thị S chôn hơn 20 năm, mộ ông Mai Văn L (anh bà Nlà cha anh B)
mới mất 5 năm và chôn tại đó.
Ông T1 và bà N không biết việc Mai Quốc B rồi đến Nguyễn Văn V được
cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất vợ chồng ông, sử dụng cả đất khu
mộ; không có Ngân hàng nào đến thông báo cho biết là V và V1 thế chấp quyền
sử dụng đất vay tiền tại Ngân hàng cả. Ông T1 và bà N không đồng ý việc đất vợ
chồng ông, bà mà cấp quyền sử dụng cho anh B, rồi đến anh V không đồng ý
hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với anh V chị V1. Do đó, yêu cầu Tòa án
khi xửhợp đồng thế chấp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng ông,
đối với phần đất căn nhà ra đến giáp lộ; đồng thời yêu cầu giữ hiện trạng
khu mộ gia đình, phần còn lại thì ông, bà không ý kiến.
Từ nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 137/2024/DS-ST ngày
30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu đã
tuyên xử:
4
1. Về nghĩa vụ trả nợ: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương
mại Cổ phần B1 đối với anh Nguyễn Văn V chị Huỳnh Thị V1. Buộc anh
Nguyễn Văn V chị Huỳnh ThV1 nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng
Thương mại Cổ phần B1 tổng số tiền nợ gốc 698.642.404đ (Sáu trăm chín mươi
tám triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn, bốn trăm lẻ bốn đồng), tiền lãi tính đến
ngày 20/7/2023 27.354.919đ (Hai mươi bảy triệu, ba trăm năm mươi bốn nghìn,
chín trăm mười chín đồng) tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/7/2023 đến khi
thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận, việc trả nợ
cụ thể:
1.1. Trả nợ tại Hợp đồng cấp tín dụng số: HDTD22C2022/178 ngày
15/7/2022 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ với số tiền nợ gốc là
649.999.962đ (Sáu trăm bốn mươi chín triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn,
chín trăm sáu ơi hai đồng), tiền lãi tính đến ngày 20/7/2023 17.636.984đ
(Mười bảy triệu, sáu trăm ba mươi sáu nghìn, chín trăm m mươi bốn đồng);
Đồng thời anh V và chị V1 còn phải chịu lãi suất phát sinh kể từ ngày 21/7/2023
đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã ký kết tại
Hợp đồng tín dụng: HDTD22C2022/178 ngày 15/7/2022, Giấy đề nghị giải ngân
kiêm khế ước nhận nợ.
1.2. Trả ntại Giấy đề nghị phát hành, kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
với số tiền ngốc 48.642.442đ (Bốn mươi tám triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn,
bốn trăm bốn mươi hai đồng), tiền lãi tính đến ngày 21/7/2023 9.717.939đ (Chín
triệu, bảy trăm mười bảy nghìn, chín trăm ba mươi chín đồng) tiền lãi phát sinh
kể từ ngày 21/7/2023 đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn
thể hiện tại Giấy đề nghị phát hành, kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.
2. Tuyên bố hiệu một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số:
HDTC22C2022108 ngày 15/7/2022 đối với phần đất căn nhà đồng đội của ông
T1 và bà N có diện tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
và phần đất nhà mồ diện tích 34,3m
2
thuộc một phần thửa đất s77 tờ bản đồ số 30, đất tọa lạc ấp P, P, huyện P,
tỉnh Bạc Liêu, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 690528 (được
điều chỉnh do anh V nhận chuyển nhượng vào ngày 14/7/2022), cụ thể:
2.1. Căn nhà sân sau của ông T1, N diện tích 169,8m
2
, nhà bếp của
ông T1 bà N có diện tích 2,3m
2
thuộc một phần thửa đất số 77 tờ bản đồ số 30;
2.2. Phần đất mồ mả có diện tích 34,3m
2
thuộc một phần thửa đất số 77 tờ
bản đồ số 30.
Do không có đương sự yêu cầu xem xét, giải quyết đối với việc anh B, anh
V được cấp quyền sử dụng đối với phần đất ông T1N sử dụng ổn định diện
tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
phần đất nhà mồ diện tích 34,3m
2
thuộc mt phần thửa
đất số 77 tờ bản đồ số 30, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
5
3. Về xử lý tài sản thế chấp:
3.1. Không chấp nhận một phần yêu cầu xử tài sản thế chấp của Ngân
hàng đối với phần đất phần đất diện tích tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
(Nhà, nhà bếp
và sân sau của ông T1, bà N) và đất nhà m có diện tích 34,3m
2
.
3.2. Chấp nhận một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng đối
với phần đất diện tích 940,60m
2
thuộc một phần thửa đất số 77 tbản đồ số
30.
Trường hợp anh V và chV1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ
không đầy đủ, Ngân hàng quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài
sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng đối với phần đất có diện tích 940,60m
2
thuộc một phần thửa đất số 77 tờ bản đồ số 30, đất tọa lạc ấp P, P, huyện P,
tỉnh Bạc Liêu, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 690528 (được
điều chỉnh do anh V nhận chuyển nhượng vào ngày 14/7/2022), đất có vị trí và số
đo như sau:
+ Hướng Đông giáp đất Mai Quốc B có cạnh 1,16m + 45,84m;
+ Hướng Tây giáp phần đất ông T1bà N đang xây nhà có cạnh 1,22m +
19,78m (đến giáp nhà bếp) + Phần nhà bếp (1,08m + 2,01m + 1,9m) phần tiếp
theo từ giáp nhà bếp đến hết nhà mồ (3,27m + 5,2m + 6,60m) cạnh giáp đất
ông T2 là 17,51m;
+ Hướng Nam giáp đường bê tông cạnh 20,93m (Vạch chỉ giới giao thông
là 20,79m);
+ Hướng Bắc giáp đất Mai Quốc B cạnh 20,55m.
3.3. Về nghĩa vụ giao tài sản thế chấp: Khi Ngân hàng có yêu cầu phát i
tài sản thế chấp là phần đất được nêu tại tiểu mục 3.2 của mục 3 phần Quyết định
của Bản án, buộc anh V chị V1 giao đất này để quan thẩm quyền phát
mãi thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng; án phí; quyền yêu
cầu thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp
luật.
Ngày 11 tháng 10 năm 2024, Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 (nay là
Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1) đơn kháng cáo bản án. Theo đó, Ngân
hàng kháng cáo Bản án dân sthẩm số: 137/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm
2024 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu; nội dung kháng cáo
yêu cầu cấp phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của Ngân hàng theo như đơn khởi kiện.
6
Tại phiên tòa phúc thẩm Ngân hàng thay đổi yêu cầu kháng cáo, yêu cầu
cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu xử
tài sản thế chấp của Ngân hàng đối với phần đất diện tích tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
(Nhà, nhà bếp sân sau của ông T1, bà N) Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên
hiệu. Rút lại yêu cầu xử tài sản thế chấp của Ngân hàng đối với phần đất nhà
mồ có diện tích 34,3m
2
.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý
vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư các đương schấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ
phần B1 (nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1), giữ nguyên Bản án thẩm
số: 137/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phước
Long, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ khoản 3 Điều 289 khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố
tụng Dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của
Ngân hàng đối với phần đất nhà m có diện tích 34,3m
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án
đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến
phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận,
nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1, nay là Ngân
hàng Thương mại Cổ phần B1 (gọi tắt Ngân hàng) trong thời hạn luật định, nên
được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Về xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, cho nên Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu
kháng cáo về việc yêu cầu xử i sản thế chấp đối với phần đất nhà mồ có diện
tích 34,3m
2
; xét thấy việc rút một phần yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng tự
nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận
đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo đã rút theo quy định tại
7
khoản 3 Điều 289 và khoản 3 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngoài ra tại
phiên tòa, Ngân hàng thay đổi yêu cầu kháng cáo từ hủy một phần bản án dân sự
thẩm, nay yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
xử tài sản thế chấp của Ngân hàng đối với phần đất thế chấp diện tích
169,8m
2
+ 2,3m
2
; xét thấy việc thay đổi yêu cầu kháng cáo phù hợp, không
vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên được chấp nhận xem xét theo quy định
tại khoản 2 Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần
bản án thẩm, chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng về việc xử tài sản thế
chấp đối với phần đất thế chấp diện tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
. Hội đồng xét xử
thấy rằng:
Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất số HDTC22C2022108 ngày 15/7/2022, được thực hiện tại Ủy ban nhân
dân xã P, bao gồm toàn bộ diện tích 1.147m
2
tại thửa đất số 77 tờ bản đồ số 30 và
các tài sản trên thửa đất này, trên đất căn nhà sân sau của ông T1 và N
có diện tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
đất nhà mồ có diện tích 34,3m
2
. Tuy nhiên Ngân
hàng không cung cấp được biên bản thẩm định tài sản thế chấp để chứng minh có
thẩm định phần đất thế chấp, trong đó một phần ông T1 N trực tiếp s
dụng. Tại Hợp đồng thế chấp ngày 15/7/2022 chỉ có Ngân hàng với anh V và chị
V1 ký kết, ông T1 và bà N không đồng ý với hợp đồng thế chấp đối với phần đất
vợ chồng ông sử dụng ổn định phần đất khu mộ. Ông T1 N đã sử dụng
một phần thửa đất số 77 vào việc cất nhà ở và các công trình như nhà bếp, sân sau
trên đất ổn định hơn 15 năm (Trước khi anh V được cấp quyền sử dụng đất), công
trình này là căn nhà đồng đội được Ủy ban nhân dân xã P đại diện cấp tiền và có
nguồn tiền của vợ chồng ông T1 và bà N, đây không phải là tài sản của anh V và
chị V1, nên anh V chị V1 không có quyền thỏa thuận trái ý muốn của ông T1,
bà N. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất có diện tích diện tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
, cùng với công trình trên đất không được xem là tài sản được thế chấp
phát mãi thu hồi nợ tại điểm 2.1.2 tiểu mục 2.1 và điểm 2.4.2 thuộc tiểu mục 2.4
của Điều 2 của Hợp đồng thế chấp là có căn cứ.
Ngân hàng đã không thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 94 Luật các
tổ chức tín dụng năm 2010 khi ký kết hợp đồng thế chấp tài sản, không thực hiện
thẩm định tài sản có những gì khi nhận thế chấp, nên Ngân hàng đã không biết có
căn nhà ông T1, bà N và khu mộ trên đất, trường hợp này Ngân hàng không phải
là người thứ ba ngay tình như quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự
năm 2015. Tòa án cấp thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu xử tài sản
thế chấp của Ngân hàng tuyên hiệu một phần hợp đồng thế chấp đối với
phần đất có diện tích tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
(Nhà, nhà bếp và sân sau của ông T1,
bà N) là có căn cứ.
8
Tại phiên tòa phúc thẩm Ngân hàng cũng không cung cấp thêm chứng cứ
nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên Hội đồng
xét xử không căn cứ chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng. Đối với phần nội
dung quyết định của bản án tuyên dài dòng, có nội dung không cần thiết nên cần
điều chỉnh lại cách tuyên án cho phù hợp, vấn đề này Tòa án cấp sơ thẩm cần rút
kinh nghiệm.
[5] Từ những phân tích nêu trên, không căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của Ngân hàng; Có căn cứ chấp nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, áp
dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm số: 137/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện
Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 phải chịu
300.000 đồng.
[7] Các phần khác của bản án không kháng cáo, kháng nghị nên Hội
đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 284, khoản 3 Điều 289, khoản 3 Điều 298, khoản 1
Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần kháng cáo của Ngân hàng Thương mại
Cổ phần B1 (nay Ngân ng Thương mại Cổ phần B1) về việc yêu cầu xử
tài sản thế chấp đối với phần đất nhà m diện tích 34,3m
2
. Không chấp nhận
yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1. Giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số: 137/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân
dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ vào Điều 5; khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39;
Điều 92; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều
273; Điều 280; ca Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 3, 122, 123, 131, khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 94, Điều 95; điểm a khoản 3
Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Án lệ số: 08/2016/AL ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được công bố theo Quyết định số: 698/QĐ-
9
CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về tính lãi
trong giai đoạn thi hành án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ
phầB1 (TMCP ) (nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1) đối với anh Nguyễn
Văn V và chị Huỳnh Thị V1.
1.1 Buộc anh Nguyễn Văn V và chị Huỳnh Thị V1 nghĩa vụ trả nợ vay
cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 (nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần
B1) tổng số tiền nợ gốc là 698.642.404đ (Sáu trăm chín mươi tám triệu, sáu trăm
bốn ơi hai nghìn, bốn trăm lẻ bốn đồng), tiền lãi tính đến ngày 20/7/2023
27.354.919đ (Hai mươi bảy triệu, ba trăm năm mươi bốn nghìn, chín trăm ời
chín đồng).
1.2 Kể từ ngày 21/7/2023, anh Nguyễn Văn V chị Huỳnh Thị V1 còn
phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo
mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong
khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng các bên thỏa thuận về việc điều
chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay t lãi suất
khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định
của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của
Ngân hàng cho vay.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng TMCP B1 (nay
Ngân hàng TMCP B1) về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với phần đất có
căn nhà của ông Nguyễn Văn T1 bà Mai Hồng N có diện tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
đất nhà mồ diện tích 34,3m
2
. Tuyên bố hiệu một phần hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số: HDTC22C2022108 ngày 15/7/2022 đối với phần đất
diện tích 169,8m
2
+ 2,3m
2
phần đất nhà mồ diện tích 34,3m
2
thuộc một phần
thửa đất số 77 tờ bản đồ số 30, đất tọa lạc ấp P, P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu,
thuộc Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số CP 690528 (được điều chỉnh do anh
V nhận chuyển nhượng vào ngày 14/7/2022).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng TMCP B1 (nay Ngân
hàng TMCP B1) về việc yêu cầu xử tài sản thế chấp đối với phần đất diện
tích 940,60m
2
thuộc một phần thửa đất số 77 tờ bản đồ số 30. Trường hợp anh
Nguyễn Văn V và chị Huỳnh Thị V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ
không đầy đủ, Ngân hàng quyền yêu cầu quan thi hành án có thẩm quyền
phát mãi i sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng đối với phần đất diện
tích 940,60m
2
thuộc mt phần thửa đất số 77 tờ bản đồ số 30, đất tọa lạc ấp P, xã
P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP
690528 (được điều chỉnh do anh V nhận chuyển nhượng vào ngày 14/7/2022), đất
có vị trí và số đo như sau:
+ Hướng Đông giáp đất Mai Quốc B có cạnh 1,16m + 45,84m;
10
+ Hướng Tây giáp phần đất ông T1bà N đang xây nhà có cạnh 1,22m +
19,78m (đến giáp nhà bếp) + Phần nhà bếp (1,08m + 2,01m + 1,9m) phần tiếp
theo từ giáp nhà bếp đến hết nmồ (3,27m + 5,2m + 6,60m) cạnh giáp đất
ông T2 là 17,51m;
+ Hướng Nam giáp đường bê tông cạnh 20,93m (Vạch chỉ giới giao thông
là 20,79m);
+ Hướng Bắc giáp đất Mai Quốc B cạnh 20,55m.
4. Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Văn V và chHuỳnh Thị V1 phải chịu
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 5.142.983 đồng. Ngân hàng TMCP B1
đã nộp và chi xong, buộc anh V chị V1 nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số
tiền 5.142.983 đồng.
5. Về án phí:
- Án phí dân sự thẩm giá ngạch: Buộc anh Nguyễn Văn V chị
Huỳnh Thị V1 phải chịu số tiền 33.040.000 đồng. Ngân hàng TMCP B1 không
phải chịu án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.520.000đ theo
biên lai thu số 0006450 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP B1 (nay Ngân hàng TMCP
B1) phải chịu 300.000 đồng. Ngân hàng đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại
biên lai thu số 0007113 ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Phước Long được chuyển thu án phí.
6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND tỉnh Bạc Liêu;
- TAND huyện Phước Long;
- CCTHADS huyện Phước Long;
- Đương sự;
- Lưu, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lệ Kiều
Tải về
Bản án số 58/2025/DS-PT Bản án số 58/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 58/2025/DS-PT Bản án số 58/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất