Bản án số 314A/2025/DS-PT ngày 15/08/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 314A/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 314A/2025/DS-PT ngày 15/08/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 314A/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông Trần Văn L yêu cầu ông Nguyễn Văn P và bà Vũ Thị C trả cho ông L số tiền gốc là 600.000.000 đ (Sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 20/5/2022 dương lịch đến ngày Tòa án ra bản án, quyết định (tính theo dương lịch) theo mức lãi suất là 3%/tháng (18.000.000 đồng/tháng) đối trừ đi 04 tháng tiền lãi ông P, bà C đã trả cho ông L là 72.000.000 đồng (Bảy mươi hai triệu đồng)
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 314A/2025/DS-PT
Ngày: 15 8 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều
Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí
Ông Trương Thanh Dũng
- Thư phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Trần Thị Ngọc Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại tr sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau (Cơ sở B)
xét xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số: 61/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng
4 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 ca
Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay Tòa án nhân dân Khu vực
7 - Cà Mau) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 59/2025/QĐ-PT ngày 07
tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1975. Nơi đăng ký thường trú: Ấp
T, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp T, V, tỉnh Mau). Chỗ ở hiện nay:
Ấp C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau).
- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1972
2. Bà Vũ Thị C, sinh năm 1977
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nayấp A, xã V, tỉnh Cà
Mau).
Người đại diện theo ủy quyền của ông P: Ông Lữ Văn T, sinh năm 1984; Địa
chỉ: Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay Khóm A, phường B,
tỉnh Cà Mau).
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị L1, sinh năm 1951. Địa chỉ: Ấp V, V, huyện H, tỉnh Bạc
Liêu (nay là ấp V, xã V, tỉnh Cà Mau).
2. Phạm Kim H, sinh năm 1976. Nơi đăng ký thường trú: p T, V,
huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau). Chỗ ở hiện nay: Ấp C, thị
trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn P là bị đơn.
(Ông L và ông T đơn xin xét xử vắng mặt; bà C bà L1, bà H vắng mặt
không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 11 năm 2024 và các lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án– nguyên đơn ông Trn Văn L trình bày: Vào ngày
20/05/2022 (dương lịch), ông Nguyễn Văn P vợ ông P là Vũ ThC nhờ ông
đi vay tiền của Nguyễn Thị L1 - Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu số tiền vốn
gốc là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 3%/tháng. Sau
khi vay tiền của L1 xong, cũng trong ngày 20/05/2022 (dương lịch), ông Trần
Văn L đưa cho vchồng ông Nguyễn Văn P, Thị C toàn bộ số tiền vốn gốc
ông Trần n L đã vay của L1 số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu
đồng). Khi đưa cho vợ chồng ông P số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng),
vợ chồng ông P hứa s trả lãi suất hàng tháng cho bà L1 với lãi suất là 3%/tháng.
Việc ông Trần Văn L đưa số tiền 600.000.000 đ (Sáu trăm triệu đng) cho vợ
chồng ông P thì giữa hai bên có làm giấy tay với nhau, do chính ông Nguyễn Văn P
là người viết tờ giấy tay nhận nợ cho ông Trần Văn L.
Từ khi vay tiền đến nay, ông P C gửi đóng lãi cho L1 được 04
(bốn) tháng tiền lãi, cụ thể:
+ Ngày 20/6/2022 (dương lịch), ông P và bà C gửi đóng lãi choL1 số tiền
18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
+ Ngày 24/10/2022 (dương lịch), ông P bà C gửi đóng lãi cho L1 số tiền
18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
+ Ngày 25/11/2022 (dương lịch), ông P bà C gửi đóng lãi cho L1 số tiền
18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
+ Ngày 20/5/2024 (dương lịch), ông P và bà C gửi đóng lãi choL1 số tiền
18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
3
Những lần đóng lãi này thì ông P, bà C đưa tiền lãi trên cho ông L, sau đó t
ông L trực tiếp đưa lại cho L1 toàn bộ số lãi mà ông P và bà C đã đưa cho ông L.
Ngoài ra, ông P, bà C chưa trả cho ông L số tiền nào khác.
Nay ông Trần Văn L yêu cầu ông Nguyễn Văn P và bà Vũ Thị C trả cho ông
L số tiền gốc 600.000.000 đ (Sáu trăm triệu đồng) tiền lãi tính từ ngày
20/5/2022 dương lịch đến ngày Tòa án ra bản án, quyết định (tính theo dương lịch)
theo mức lãi suất 3%/tháng (18.000.000 đồng/tháng) đối trừ đi 04 tháng tiền lãi
ông P, bà C đã trả cho ông L là 72.000.000 đồng (Bảy mươi hai triệu đồng), còn nợ
lại tiền gốc và tiền lãi bao nhiêu ông P, C phải trả đủ cho ông L, đồng thời, ông
L yêu cầu ông P và C trả lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án. Ngoài ra, ông
L không còn có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, theo bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày: Việc ông P nợ
ông Trầnn L số tiền vốn gốc là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) như ông
L trình bày là đúng sự thật. Tuy nhiên, số tiền vốn gốc 600.000.000 đồng (Sáu trăm
triệu đồng) ông P nợ ông L do ông L cho ông P mượn chông P không vay
tiền của ông L, khi ông L cho ông P mượn tiền thì giữa hai bên không có thỏa thuận
lãi suất với nhau số tiền vốn gốc 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) ông P
nợ ông L nợ riêng nhân ông P, không liên quan đến vông là bà Thị C.
Việc ông Trần Văn L đưa số tiền 600.000.000 đ (Sáu trăm triệu đồng) cho ông P
mượn thì giữa hai bên làm giấy tay với nhau, do chính ông Nguyễn Văn P
người viết tờ giấy tay nhận nợ cho ông Trần Văn L.
Mục đích ông Nguyn Văn P ợn tiền của ông L là một phần dùng làm vốn
nuôi tôm để tạo ra thu nhập nuôi sống gia đình và một phần dùng để đóng lãi Ngân
hàng. Từ khi ông P mượn ông L stiền vốn gốc 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu
đồng) thì ông P trả cho ông L nhiều lần (các lần trả thì ông P không nhớ do lâu
quá) với tổng số tiền khoảng 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) đến 80.000.000
đồng (Tám mươi triệu đồng), khi ông P trả cho ông L nhiều lần với tổng số tiền
khoảng 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) đến 80.000.000 đồng (Tám mươi
triệu đồng) thì giữa hai bên không có làm giấy tờ và cũng không có ai chứng kiến.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L thì ông Nguyễn Văn P đồng
ý trả cho ông L stiền vốn gốc 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), còn phần
lãi suất theo yêu cầu khởi kiện của ông L thì ông P không đồng ý trả lãi vì ông L cho
ông P mượn tiền và khi mượn tiền hai bên không thỏa thuận lãi suất. Ngoài ra, ông
Nguyễn Văn P không còn ý kiến trình bày gì thêm.
Đối với bị đơn – Vũ Thị C:Vũ Thị C không có lời trình bày tại Toà án,
đồng thời, bà C cũng không cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu
của ông Trần Văn L theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt
giấy triệu tập, thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
4
cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn
phiên tòa theo đúng quy định của thủ tục tố tụng dân sự cho bà C, nhưng C không
đến Tòa án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà C.
Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan- Nguyễn Thị L1 trình bày: Vào ngày 20/05/2022 (dương
lịch), ông Trần Văn L vay của bà số tiền vốn gốc là 600.000.000 đồng (Sáu trăm
triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 3%/tháng. Việc ông L vay tiền của thì giữa hai
bên có làm giấy tay với nhau, chính ông L là người viết tờ giấy tay vay tiền cho bà,
hiện giấy tay này bà đang giữ bản chính. Khi vay tiền thì ông L nói với bà là ông L
vay tiền giùm cho ông Nguyễn Văn P, Vũ Thị C cùng địa chỉ: Ấp A, V, huyện
H, tỉnh Bạc Liêu. Từ khi vay tiền đến nay, ông L gửi đóng lãi cho được 04
(bốn) tháng tiền lãi, cụ thể:
+ Ngày 20/6/2022 (dương lịch), ông L trả tiền lãi cho bà số tiền 18.000.000
đồng (Mười tám triệu đồng).
+ Ngày 24/10/2022 (dương lịch), ông L trả tiền lãi cho bà số tiền 18.000.000
đồng (Mười tám triệu đồng).
+ Ngày 25/11/2022 (dương lịch), ông L trả tiền lãi cho bà số tiền 18.000.000
đồng (Mười tám triệu đồng).
+ Ngày 20/5/2024 (dương lịch), ông L trả tiền lãi cho số tiền 18.000.000
đồng (Mười tám triệu đồng).
Ngoài ra, ông L chưa trả cho bà số tiền nào khác.
Nay không ý kiến hay yêu cầu trong vụ án này chính ông Trần n
L người trực tiếp vay và nhận của bà số tiền vốn gốc là 600.000.000 đ (Sáu trăm
triệu đồng), không cho ông P C vay tiền. Nếu sau này bà ông L
phát sinh tranh chấp thì bà sẽ khởi kiện ông L trong mt vụ án dân sự độc lập khác.
Ngoài ra, bà L1 không còn ý kiến trình bày gì thêm.
Tại bản tự khai đề ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan- Phạm Kim H trình bày: vợ của ông Trần Văn L, bà thống
nhất theo yêu cầu khởi kiện ca ông Trần Văn L đã khởi kiện ông P, bà C tại Tòa án
nhân dân huyện Hòa Bình, ngoài ra, bà không còn ý kiến trình bày gì thêm.
Từ nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 11
tháng 3 năm 2025 của a án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay là Tòa
án nhân dân Khu vực 7 - Cà Mau) đã tuyên xử:
1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L đối với ông
Nguyễn Văn P và bà Vũ Thị C về việc tranh chấp vay tài sản.
5
Buộc ông Nguyễn n P Vũ Thị C nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần
Văn L số tiền tổng cộng 695.494.000 đồng (Sáu trăm chín mươi lăm triệu bốn
trăm chín mươi bốn nghìn đồng), trong đó: Số tiền vốn gốc 600.000.000 đồng
(Sáu trăm triệu đồng), lãi suất 95.494.000 đồng (Chín mươi lăm triệu bốn trăm
chín mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bản do
Ngân hàng N công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2/. Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn L đòi ông Nguyễn
Văn P bà Thị C trả số tiền lãi 437.906.000 đồng (Bốn trăm ba mươi bảy
triệu chín trăm lẻ sáu nghìn đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí; quyền yêu cầu thi hành án
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sở thẩm: Ngày 25 tháng 3 năm 2025, ông Nguyễn Văn P có
đơn kháng cáo bản án yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án thẩm về thời
gian tính lãi, không tính lãi từ ngày 20/5/2022 chtính lãi từ ngày 25/11/2024
đến ngày 11/3/2025.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 13/6/2025 đại diện theo y quyền của bđơn
giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ
án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp kháng cáo của ông Nguyễn Văn P, giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân
huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Cà Mau).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến phát
biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận, nghị án,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn P trong thời hạn luật
định, nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
6
[2] Nguyên đơn ông Trần Văn L đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Nguyễn Văn P là ông Lữ Văn T có đơn xin vắng mặt; bị đơn bà Vũ Thị C và người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1, Phạm Kim H đã được triệu
tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không do, cho nên Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật T tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn P yêu cầu cấp phúc thẩm sửa
một phần bản án sơ thẩm về thời gian tính lãi, không tính lãi từ ngày 20/5/2022 mà
chỉ tính lãi từ ngày 25/11/2024 đến ngày 11/3/2025.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn xác định Vào ngày 20/05/2022 (dương
lịch), ông Nguyễn Văn P vợ ông P Thị C vay số tiền vn gốc
600.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, vợ chồng ông P hứa sẽ trả lãi suất
hàng tháng với lãi suất là 3%/tháng, hai bên làm giấy tay với nhau do ông Nguyễn
Văn P người viết tờ giấy tay nhận nợ cho ông Trần Văn L. Ông P thừa nhận nợ
của ông L số tiền vay gốc 600.000.000đ cho nên đây là tình tiết skiện không cần
phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của B luật Tó tụng Dân sự.
Ông L yêu cầu ông P bà C cùng trả nợ, ông P cho rằng đây nợ riêng,
không phải nợ chung của vợ chồng ông với bà C, xét thấy giữa ông Nguyễn Văn P
Thị C là vợ chồng, đang trong thời kỳ n nhân hợp pháp, khoản nợ
ông L yêu cầu ông P C phải trả phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, ông P xác
định mục đích ông mượn tiền của ông L là một phần dùng làm vốn nuôi tôm để tạo
ra thu nhập nuôi sống gia đình và mt phần dùng để đóng lãi Ngân hàng, bà C cũng
biết điều này, trong quá trình giải quyết vụ án bà C không ý kiến phản đối yêu
cầu của nguyên đơn, ông P cũng không có chứng cứ chứng minh số nợ ông nợ ông
L là nợ riêng của ông. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông P và bà C cùng có nghĩa vụ trả
nợ cho ông L là có căn cứ.
Ông P yêu cầu không tính lãi từ ngày 20/5/2022 chỉ tính lãi từ ngày
25/11/2024 đến ngày 11/3/2025, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ biên nhận vào
ngày 20/05/2022 (dương lịch), thể hiện ông P ợn của ông L số tiền 600.000.000
đồng, ngoài ra không thể hiện lãi suất và thời hạn trả nợ.
Ông L xác định vchồng ông P hứa sẽ trả lãi suất hàng tháng với lãi suất là
3%/tháng. Từ khi vay tiền đến nay, ông P và bà C có gửi đóng lãi cho ông được 04
(bốn) tháng tiền lãi, cụ thể:
+ Ngày 20/6/2022 (dương lịch), đóng lãi số tiền 18.000.000 đồng.
+ Ngày 24/10/2022 (dương lịch), đóng lãi số tiền 18.000.000 đồng.
+ Ngày 15/11/2022 (dương lịch), đóng lãi số tiền 18.000.000 đồng.
+ Ngày 20/5/2024 (dương lịch), đóng lãi số tiền 18.000.000 đồng.
7
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện bị đơn cho rằng ông P mượn tiền của ông L,
không có lãi suất, không có thỏa thuận thời hạn nên tiền lãi chỉ tính khi yêu cầu
từ ngày khởi kiện đồng ý số tiền đã trả cho ông L 72.000.000 đồng nhưng
đây là trả tiền nợ gốc, không phải trả lãi yêu cầu đối trừ vào ngốc còn nợ ông
L.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ do ông L cung cấp giai đoạn phúc thẩm tin nhắn
zalo “Vo a phao” có nội dung thể hiện “Gui tk c gui lãi nhe”, và 04 sao kê giao dịch
chuyển khoản cho người thhưởng ông Trần Văn L vào các ngày 20/6/2022, ngày
24/10/2022, ngày 15/11/2022 và ngày 20/5/2024 với mỗi lần chuyển số tiền
18.000.000đ qua số tài khoản 7203215004588. Tại văn bản số 195A/NHNo.BL-TH
ngày 16/7/2025 về việc cung cấp thông tin của Ngân hàng N1 Chi nhánh B xác định
số tài khoản 7203215004588 mang tên khách hàng Trần Văn L; đối với Thị
C, sinh năm 1977; Địa chỉ ấp A, V, huyện H tỉnh Bạc Liêu mở tài khoản số
7201222368368 tại A Chi nhánh thành phố B, số tài khoản 7203215004588 nhận
tiền vào các ngày 20/6/2022, ngày 24/10/2022, ngày 15/11/2022 và ngày 20/5/2024
từ số tài khoản 7201222368368 của bà Vũ Thị C với số tiền mỗi lần chuyển khoản
18.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng công văn số 195A ngày 16/7/2025
của Ngân hàng phù hợp với lời khai của ông L về việc bị đơn trả lãi cho số tiền
nợ gốc 600.000.000đ với mức lãi suất 3%/tháng. Người đại diện theo ủy quyền của
ông P cho rằng số tiền trả cho ông L trả tiền vay gốc nhưng mỗi lần đều trả
18.000.000 đồng trùng hợp giao dịch vay tiền diễn ra giữa ông L ông P,
không C tham gia nên việc C chuyển tiền cho ông L hay không cũng
không thể kết luận đó là việc chuyển trả lãi thay ông P, xét thấy lời khai này không
có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ ông P cũng thừa nhận khi ông vay tiền của ông L thì bà
C biết việc này mục đích vay là để về nuôi tôm tạo ra thu nhập cho gia đình
một phần trả nợ Ngân hàng cho nên việc C chuyển tiền cho ông L với số số tiền
thời gian theo như văn bản xác nhận của Ngân hàng xảy ra trên thực tế
phù hợp với lời khai của ông L.
Ngoài ra căn cứ tài liệu, chứng cứ do ông L cung cấp tin nhắn giữa ông L
với ông P cũng thể hiện nội dung giao dịch giữa hai bên vay mượn, ông L yêu cầu
ông P thanh toán lãi ông P cũng đồng ý và hẹn thời gian thanh toán. Từ đó cho thấy
mặc biên nhận vào ngày 20/05/2022 (dương lịch) nội dung mượn tiền nhưng
ông P biết được việc ông L vay tiền của người khác giùm cho ông P nên ông P
bà C thực tế có thanh toán lãi cho ông L, nên bản chất giao dịch giữa các bên là giao
dịch vay lãi suất, không phải giao dịch ợn (vay không lãi suất) như phía bị đơn
đã trình bày. Về lãi suất, nguyên đơn cho rằng lãi suất 3%/tháng, bị đơn cho rằng
vay không có lãi nên thuộc trường hợp có tranh chấp vlãi suất, tuy nhiên căn cứ
xác đnh mức lãi suất thỏa thuận giữa hai bên là 3%/tháng như đã nhận định và mức
lãi suất này đã vượt quá quy định, khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã điều chỉnh lại
8
lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 với mức lãi suất 0,83%/tháng phù hợp.
Bị đơn cũng có yêu cầu đối trừ số tiền 72.000.000 đồng đã trả cho nguyên đơn,
nguyên đơn cũng thống nhất số tiền bị đơn trả do đó Tòa án cấp thẩm đối trừ số
tiền 72.000.000 đồng vào tiền lãi là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông P cũng không cung cấp thêm chứng cứ nào khác
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình căn cứ nên Hội đồng xét xử không
có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông P.
[4] Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của ông Nguyễn Văn P; có căn cứ chấp nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên
Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau, áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sthẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 11 tháng
3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay là Tòa án
nhân dân Khu vực 7 - Cà Mau).
[5] Án phí dân sự phúc thẩm, ông Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng theo quy
định của pháp luật.
[7] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng
xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 ca Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn P. Giữ nguyên Bản
án dân sự thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân
dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Cà Mau).
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466,
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 và khoản 2 Điều 37 của Luật
Hôn nhân Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L đối với ông
Nguyễn Văn P và bà Vũ Thị C về việc tranh chấp vay tài sản.
Buộc ông Nguyễn n P Vũ Thị C nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần
Văn L số tiền tổng cộng 695.494.000 đồng (Sáu trăm chín mươi lăm triệu bốn
trăm chín mươi bốn nghìn đồng), trong đó: Số tiền vốn gốc 600.000.000 đồng
9
(Sáu trăm triệu đồng), tiền lãi 95.494.000 đồng (Chín mươi lăm triệu bốn trăm
chín mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do
Ngân hàng N công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2/. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L đòi ông
Nguyễn Văn P Thị C trả số tiền lãi 437.906.000 đồng (Bốn trăm ba ơi
bảy triệu chín trăm lẻ sáu nghìn đồng).
3/. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Buộc ông Trần Văn L phải nộp số tiền 21.516.240 đồng (Hai mươi mốt triệu
năm trăm mười sáu nghìn hai trăm bốn mươi đồng). Ông Trần Văn L đã dự nộp tạm
ứng án phí thẩm dân sự số tiền 21.750.000 đồng (Hai ơi mốt triệu bảy trăm
năm mươi nghìn đồng) tại biên lai thu số 0005765 ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phòng Thi hành
án dân sự Khu vực 7 - Cà Mau) được đối trừ, ông Trần Văn L được nhận lại số tiền
là 233.760 đng (Hai trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).
- Buộc ông Nguyễn Văn P và bà Thị C phải nộp số tiền 31.819.760 đồng
(Ba mươi mốt triệu tám trăm mười chín nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn P phải nộp số tiền 300.000
đồng. Ông P đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006063
ngày 03/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay
là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 - Cà Mau) được chuyển thu án phí.
5/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Điều 26 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND tỉnh Cà Mau;
- TAND Khu vực 7 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 7 - Cà Mau;
- Đương sự;
- Lưu, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC
THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
10
Nguyễn Lệ Kiều
Tải về
Bản án số 314A/2025/DS-PT Bản án số 314A/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 314A/2025/DS-PT Bản án số 314A/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất