Bản án số 517/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 517/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 517/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 517/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nay bà Nguyễn Thị Hồng P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 517/2026/DS-PT Bản án số 517/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 517/2026/DS-PT Bản án số 517/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 517/2026/DS-PT
Ngày: 16-6-2026
V/v “Tranh chấp chia tài sản
chung, thừa kế, đòi lại tài sản
thực hiện nghĩa vụ do
người chết để lại”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Bà Phạm Thị Liên Hiệp.
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Hà Ngọc Thư Trúc - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19/5/2026 ngày 16/6/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp t xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
207/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2026, về việc “Tranh chấp chia tài
sản chung, thừa kế, đòi lại tài sản và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.
Do Bản án dân sự thẩm s05/2025/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực B - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 877/2026/QĐ-PT
ngày 07 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1961;
Địa chỉ: 4 P, Khóm C, phường S, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi trú: 2 Lô A, đường B, khu dân cư T, phường P, quận C, thành phố
Cần Thơ (nay là 28-30, Lô I, đường B, K mới Công ty T3, phường H, thành phố
Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị Hồng P: Ông Huỳnh
Thanh T, sinh năm 1960 (có mặt); Địa chỉ: Khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh
Đồng Tháp (nay Ấp D, H, tỉnh Đồng Tháp) theo Hợp đồng ủy quyền ngày
10/11/2023.
2. Bị đơn: Võ Văn L, sinh năm 1927;
2
Địa chỉ: Số C, Quốc lộ E, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là số
C, Quốc lộ E, ấp A, xã L, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của cụ Võ Văn L: Anh Trần Văn S, sinh
năm 1982 (có mặt ngày 19/5/2026, vắng mặt ngày 16/6/2026 đơn xin xét xử
vắng mặt); Địa chỉ: A KDC tổ F, Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ
(nay Số A, KDC Tổ 6, KV D, phường A, thành phố Cần Thơ); Địa chỉ liên
hệ: Số B C, đường số D, khu dân C - H, Khu V, phường A, quận N, thành
phố Cần Thơ (nay Số 253A C2, đường số D, KDC C - H, KV B, phường A,
thành phố Cần Thơ) theo Hợp đồng ủy quyền ngày 18/5/2021.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Võ Hồng Vân P1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Địa chỉ: 4 P, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (nay
405/14 Phạm Hữu L1, Khóm C, Phường S, tỉnh Đồng Tháp).
3.2. Võ Thị Hạnh P2, sinh năm 2010;
Người đại diện theo pháp luật của Thị Hạnh P2: Đặng Thị Thu C,
sinh năm 1984 (mẹ ruột của Võ Thị Hạnh P2);
Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp E, L, huyện N, tỉnh Đồng Nai (nay Tổ D, ấp
E, xã P, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền của Đặng Thị Thu C: Ông Nguyễn Văn
H, sinh năm 1975 (có mặt); Địa chỉ: Khu phố E, phường M, thành phố P - T,
tỉnh Ninh Thuận; Địa chỉ liên hệ: Số E Quốc lộ E, ấp C, thành phố M, tỉnh Tiền
Giang (nay là Số E Quốc lộ E, ấp C, Phường Đ, tỉnh Đồng Tháp) theo Hợp đồng
ủy quyền ngày 27/10/2023.
3.3. Võ Nhã H1, sinh năm 2003;
Địa chỉ: G L, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay G L,
phường Đ, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của chị Võ Nhã H1: Chị Huỳnh Thị Mỹ H2,
sinh năm 1999 (có mặt ngày 19/5/2026, vắng mặt ngày 16/6/2026 có đơn xin xét
xử vắng mặt); Địa chỉ: Ấp A, M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Địa chỉ liên hệ:
Số B C, đường số D, khu dân C - H, Khu V, phường A, quận N, thành phố
Cần Thơ (nay là Số 253A C2, đường số D, khu dân cư C - H, Khu V, phường A,
thành phố Cần Thơ) theo Hợp đồng ủy quyền ngày 11/5/2022.
3.4. Công ty trách nhiệm hữu hạn T3.
Người đại diện theo pháp luật: Chị Thị Hồng G, sinh năm 1975 (vắng
mặt);
Cùng địa chỉ: 2 A, đường B, khu dân T, phường P, quận C, thành
phố Cần Thơ (nay là 28-30, Lô I, đường B, K mới Công ty T3, phường H, thành
phố Cần Thơ).
3.5. Phạm Thị Kim L2, sinh năm 1982;
Địa chỉ: C L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ (nay C, đường L,
3
phường B, thành phố Cần Thơ).
3.6. Thái Thanh T1, sinh năm 1961;
Địa chỉ: 9 đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ (nay 9/159
đường C, phường N, thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo y quyền của Phạm Thị Kim L2 ông Thái
Thanh T1: Ông Cao Hữu S1, sinh năm 1987 (vắng mặt đơn xin xét xử vắng
mặt, bút lục 604-605); Địa chỉ: C, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần
Thơ (nay là 33 Khu V, phường H, thành phố Cần Thơ); Địa chỉ liên hệ: Số B C,
đường số D, khu dân C - H, Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ
(nay là Số 253A C2, đường số D, KDC C - H, KV B, phường A, thành phố Cần
Thơ) theo các Hợp đồng ủy quyền ngày 30/6/2023 và 01/7/2023.
3.7. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
Địa chỉ: Quốc lộ H, Khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ ttụng: Ủy ban nhân n H (vắng
mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã H, tỉnh Đồng Tháp.
3.8. Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất huyện L;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ban Q;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành Đ, chức vụ: Giám đốc
(vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay Ấp A,
H, tỉnh Đồng Tháp).
4. Người kháng cáo: Bị đơn cụ Văn L; người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Thái Thanh T1, Phạm Thị Kim L2, chị Nhã H1, Thị
Hạnh P2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng
P ông Huỳnh Thanh T trnh bày: Bà Hồng P vợ hợp pháp của ông
Thành V (sinh năm 1957, đã chết ngày 09/8/2015). Hồng P ông V một
con chung Hồng Vân P1, sinh năm 1988; ông V và Hồng P1 chung
sống khoảng năm 1986 nhưng đến năm 2005 mới đăng ký kết hôn ngày
20/5/2005 (đăng ký trễ hạn). Lúc Hồng P1 ông V sống chung với nhau
tạo lập được tài sản chung là quyền sử dụng (QSD) đất, diện tích 7.473m
2
gồm:
Thửa 1094, tờ bản đồ 01, diện tích 3.473m
2
loại đất vườn (LNK) (viết tắt là thửa
1094) thửa 1095, tờ bản đồ 01, diện tích 4.000m
2
loại đất vườn (LNK) (viết
tắt thửa 1095) được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện L cấp Giấy chứng nhận
QSD đất số vào sổ 00897 ngày 15/02/2002 do ông Võ Thành V đại diện hộ gia
đình đứng tên giấy chứng nhận. Nhưng theo đo đạc thực tế từ thửa 1094 và thửa
4
1095, tờ bản đồ 01 diện tích là 7.331,2m
2
(theo đồ đo đạc đất tranh chấp
ngày 10/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L).
Trước đây 02 thửa đất này nằm trong một dự án mở rộng khu dân sân
vận động huyện L, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nên
chồng Hồng P1 ông Võ Thành V nhận tiền bồi thường 625.299.600
đồng giao Giấy chứng nhận QSD đất cho Ban quản dự án, số tiền ông V
nhận Hồng P1 không biết ông V sdụng vào mục đích gì. Dự án chủ
trương của T2 không thực hiện cho dừng lại từ năm 2015, nên ngày 04/3/2020
Hồng P1 đã nộp lại số tiền 625.299.600 đồng cho Ban Quản lý dự án Phát
triển quỹ đất huyện L để nhận lại QSD đất làm thủ tục thừa kế, nhưng đến nay
chưa nhận lại được Giấy chứng nhận QSD đất, bà Hồng P1 được biết Ban Quản
dự án Phát triển quỹ đất huyện L đã chi trả số tiền trên cho đại diện bên
chủ đầu là Công ty TNHH T3 theo phiếu chi ngày 20/4/2020 do bà Thị
Hồng G nhận, nhưng Công ty TNHH T3 chưa giao lại Giấy chứng nhận QSD
đất cho Hồng P1. UBND huyện L mời đại diện Công ty TNHH T3 và các
thành viên được hưởng di sản thừa kế của ông Thành V để thỏa thuận việc
phân chia di sản thừa kế QSD đất nêu trên, nhưng các thành viên khác không
đến, nên không thỏa thuận được.
Nay Nguyễn ThHồng P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những
vấn đề sau:
- Phân chia tài sản chung của hộ gia đình thừa kế QSD đất diện tích
một phần thửa 1095, tờ bản đồ 01 diện tích là 1.286,3m
2
được thể hiện từ mốc
M1, M4, M24, M25, M26, M27 về mốc M1.
- Yêu cầu chia: một phần thửa 1094, tờ bản đồ 01 diện tích 1.157,3m
2
được thể hiện từ mốc M1, M2, M3, M4 về mốc M1.
- Yêu cầu chia: một phần thửa 1094, tờ bản đồ 01 diện tích 217,9m
2
được thể hiện từ mốc M9, M8, M7, M6 về mốc M9.
- Yêu cầu chia: một phần thửa 1095, tờ bản đồ 01 diện tích 270,9m
2
được thể hiện từ mốc M6, M7, M16, M17, M20, M21 về mốc M6.
(Theo đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 10/7/2024 của Chi nhánh n
phòng đăng ký đất đai huyện L).
Trường hợp các thừa kế không nhận diện tích đất thì bà Nguyễn Thị Hồng
P đồng ý trả giá trị trên số diện tích được hưởng là 18.178.400 đồng.
Nguyễn Thị Hồng P thống nhất diện tích đất và y trồng vật kiến trúc
trên đất theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ; đồ đo đạc phần đất
tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L Biên bản định
giá của Hội đồng định giá tài sản huyện L. Thời điểm Tòa án tiến hành xem xét,
thẩm định tại chỗ kiểm tra hiện trạng phần đất đến nay tphần đất tranh
chấp không có thay đổi gì về hiện trạng, kiến trúc và các cây trồng. Ngoài ra, bà
Hồng P khẳng định ngoài các chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án thì không cung
cấp thêm chứng cứ, người làm chứng nào khác yêu cầu Tòa án giải quyết
5
theo quy định pháp luật.
- Phân chia số nợ chung 625.299.600 đồng (vì Nguyễn Thị Hồng P
đã trả) nên Nguyễn Thị Hồng P chịu 312.649.800 đồng, còn lại 312.649.800
đồng chia thừa kế cho hàng thừa kế thứ nhất cho Nguyễn Thị Hồng P, cụ
Văn L, chị Hồng Vân P1, chị Nhã H1 Thị Hạnh P2 mỗi phần
62.529.960 đồng. Buộc cụ L, chị Vân P1, chị H1, chị P2 trả lại cho Hồng P1
62.529.960 đồng trả lãi 1%/tháng kể từ ngày 04/3/2020 đến khi xét xử
thẩm.
- Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạT3 (TNHH ) hoàn trả lại cho
Nguyễn Thị Hồng P bản chính Giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 00897 ngày
15/02/2002.
Đối với yêu cầu của Phạm Thị Kim L2 ông Thái Thanh T1 thì
Hồng P không đồng ý vì phần nợ Công ty T3 đã trả cho L2 và ông T1 đây
nợ của Công ty T3 không phải nợ của nhân ông V. Hồng P yêu cầu
được tính thời hiệu của 02 biên nhận này.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cụ Văn L anh Trần
Văn S trình bày: Cụ L cha ruột của ông Võ Thành V đã chết ngày 09/8/2015
theo giấy chứng tử số: 59/2015, quyển số: 01/2015 của UBND phường P, quận
C, thành phố Cần Thơ. Khi còn sống ông V tạo lập được khối tài sản QSD
đất thửa 1094 thửa 1095. Đây là tài sản riêng của ông V tạo lập trước thời kỳ
hôn nhân với bà Nguyễn Thị Hồng P và các thửa đất được sử dụng vào mục đích
kinh doanh của ông V, không liên quan đến đất hộ gia đình. Cụ L một trong
những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V nên đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, cụ L không đồng ý, QSD đất diện tích 7.473m
2
,
thuộc các thửa đất số 1094 và số 1095 căn cứ theo Giấy chứng nhận QSD đất số
00897.QSDĐ/H72/QĐUB do UBND huyện L cấp ngày 15/02/2002, tài sản
riêng của ông Thành V. Nay, ông V chết, mặc dù có phát sinh quyền thừa kế
đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng hiện tại các
khoản nợ của ông V để lại sau khi chết rất nhiều, n không thể lấy tài sản
này chia thừa kế mà không giải quyết các khoản nợ của ông V để lại.
Cụ L yêu cầu chia phần di sản của ông V để lại thành 05 phần, cụ L được
hưởng một phần thửa 1095, tờ bản đ01, diện tích 782m
2
được thể hiện t
mốc M14, M7, M12, M13 về mốc M14 một phần thửa 1094, tờ bản đồ 01,
diện tích 684,5m
2
được thể hiện tmốc M5, M6, M7, M14 về mốc M5 theo
đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 10/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện L (còn viết tắt là Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 10/7/2024) yêu
cầu được nhận giá trị di sảnhiện vật. Do đó, đồ đo đạc xác định vị trí theo
yêu cầu của Hồng P không đúng quy định pháp luật cụ L không đồng ý
việc xác định vị trí này trên đồ. Cụ L đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Cụ Văn L thống nhất diện ch đất cây trồng vật kiến trúc trên
đất theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ; đđo đạc phần đất tranh chấp
6
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L và Biên bản định giá của Hội
đồng định giá tài sản huyện L. Thời điểm Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định
tại chỗ và kiểm tra hiện trạng phần đất đến nay thì phần đất tranh chấp không có
thay đổi gì về hiện trạng, kiến trúc các cây trồng. Ngoài ra, cụ L khẳng định
ngoài các chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án thì không cung cấp thêm chứng cứ,
người làm chứng nào khác và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với số tiền 625.299.600 đồng là do bà Nguyễn Thị Hồng P tự ý đi nộp
cho Ban Quản lý dự án Phát triển quỹ đất huyện L, không thông qua các ý
kiến của các đồng thừa kế, do vậy bđơn không đồng ý trả lại tiền cho nguyên
đơn.
Đối với yêu cầu của Phạm Thị Kim L2 ông Thái Thanh T1 thì cụ
Văn L đồng ý trả vốn lãi cho bà L2 ông T1 vì phần nợ do ông V chết
để lại tương đương với kỷ phần mà cụ L được nhận di sản từ ông V. Cụ L không
yêu cầu tính thời hiệu của 02 biên nhận này.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồng Vân P1 trình
bày: Yêu cầu chia di sản của ông Võ Thành V thành 03 phần, chị Vân P1 yêu
cầu được hưởng 1/3 khối tài sản gồm một phần của thửa 1094 có diện tích đất là
1.163m
2
từ mốc M3, M10, M5, M4 về mốc M3 một phần thửa 1095 diện
tích đất 1.280,6m
2
từ mốc M4, M5, M22, M23, M24 về mốc M4 yêu cầu
được hưởng phần di sản ông V diện tích đất 488,8m
2
trong tổng diện tích
đất 7.473m
2
thuộc thửa số 1094 thửa số 1095, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại
thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận
ngày 15/02/2002 cho ông Thành V. Về nợ của L2 ông T1 đồng ý trả
theo kphần thừa kế. Chị Hồng V1 P1 đồng ý giao cho Nguyễn Thị
Hồng P quản sử dụng phần thừa kế chị Vân P1 được hưởng thừa kế từ
ông V.
- Đặng Thị Thu C đại diện theo pháp luật của người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thị Hạnh P2, đại diện theo ủy quyền của
C là ông Nguyễn Văn H trình bày: Chị Võ Thị Hạnh P2 là con của ông Võ
Thành V và bà Đặng Thị Thu C. Ông Võ Thành V đã chết ngày 09/8/2015. Sinh
thời ông V tạo lập được khối tài sản QSD đất thuộc thửa 1094 thửa
1095. Đây tài sản riêng của ông Thành V tạo lập trước thời kỳ hôn nhân
với Nguyễn Thị Hồng P, không phải tài sản của hộ gia đình. Chị Hạnh P2
một trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V, nên qua yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, C người đại diện theo pháp luật của chị P2
không đồng ý. C yêu cầu chia di sản của ông V để lại thành 05 phần cho chị
P2 được hưởng một phần thửa 1095 có diện tích đất là 768,3m
2
được thể hiện từ
mốc M17, M14, M13, M15, M16 về mốc M17 một phần thửa 1094 diện
tích đất 697,7m
2
được thể hiện từ mốc M4, M5, M14, M17 về mốc M4 (theo
đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 10/7/2024) yêu cầu được nhận giá trị di sản là
hiện vật.
Đặng Thị Thu C thống nhất diện tích đất và cây trồng vật kiến trúc
7
trên đất theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ; đồ đo đạc phần đất tranh
chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L Biên bản định giá
của Hội đồng định giá tài sản huyện L. Thời điểm Tòa án tiến hành xem xét,
thẩm định tại chỗ kiểm tra hiện trạng phần đất đến nay tphần đất tranh
chấp không có thay đổi gì về hiện trạng, kiến trúc và các cây trồng. Ngoài ra, bà
C khẳng định ngoài các chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án thì không cung cấp
thêm chứng cứ, người làm chứng nào khác u cầu Tòa án giải quyết theo
quy định pháp luật.
Đối với số tiền 625.299.600 đồng là do bà Nguyễn Thị Hồng P tự ý đi nộp
cho Ban Quản lý dự án Phát triển quỹ đất huyện L, không thông qua các ý
kiến của các đồng thừa kế, do vậy bà C không đồng ý trả lại tiền cho nguyên
đơn.
Đối với yêu cầu của Phạm Thị Kim L2 ông Thái Thanh T1 thì C
không đồng ý, phần nợ Công ty T3 đã trả cho L2 ông T1 đây là nợ
của Công ty T3 không phải nợ của nhân ông V. C yêu cầu được tính thời
hiệu của 02 biên nhận này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Nhã H1 trình bày: Chị
H1 con ruột của ông Võ Thành V. Sinh thời, ông V tạo lập được khối tài
sản QSD đất thửa 1094 thửa 1095. Đây là tài sản riêng của cha chị H1 tạo
lập trước thời kỳ hôn nhân với Nguyễn Thị Hồng P các thửa đất được s
dụng vào mục đích kinh doanh của ông V, không liên quan đến đất hộ gia đình.
Chị H1 là một trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V. Do
đó, chị H1 yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật đối với di sản QSD đất
nêu trên của ông Thành V để lại thành 05 phần bằng nhau, mỗi phần tương
ứng diện tích đất 1.494,6m
2
trong tổng diện tích đất 7.473m
2
thuộc thửa 1094 và
thửa 1095. ChH1 yêu cầu được nhận giá trị di sản giao phần hiện vật cho
ông nội chị cụ Võ Văn L từ mốc M7, M8, M9, M10, M11, M12 về mốc M7
(theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 10/7/2024).
Chị Nhã H1 thống nhất diện tích đất và cây trồng vật kiến trúc trên
đất theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ; đđo đạc phần đất tranh chấp
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L và Biên bản định giá của Hội
đồng định giá tài sản huyện L. Thời điểm Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định
tại chỗ và kiểm tra hiện trạng phần đất đến nay thì phần đất tranh chấp không có
thay đổi về hiện trạng, kiến trúc các cây trồng. Ngoài ra, chị H1 khẳng
định ngoài các chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án thì không cung cấp thêm chứng
cứ, người làm chứng nào khác yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp
luật.
Đối với số tiền 625.299.600 đồng là do bà Nguyễn Thị Hồng P tự ý đi nộp
cho Ban Quản lý dự án Phát triển quỹ đất huyện L, không thông qua các ý
kiến của các đồng thừa kế, do vậy chH1 không đồng ý trả lại tiền cho nguyên
đơn.
8
Đối với yêu cầu của Phạm Thị Kim L2 ông Thái Thanh T1 thì chị
H1 đồng ý trả vốn lãi cho bà L2 ông T1. khi hưởng tài sản của ông V
chết để lại thì chị H1 đồng ý trả phần nợ của ông V theo kỷ phần được hưởng.
Chị H1 không yêu cầu nh thời hiệu của 02 biên nhận nợ ngày 24/11/2012 và
Biên nhận ngày 11/6/2011 của L2 ông T1. Do tài sản được nhận thừa kế
đã giao cho cL sử dụng thì cụ L có nghĩa vụ trả nợ cho bà L2 và ông T1.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Kim L2 trình
bày: Nguyên trước đây, do mối quan hệ quen biết ông Thành V mượn bà
số tiền 100.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 24/11/2012. Nhưng từ lúc vay
tiền đến nay, ông V chưa thanh toán cho chị bất kỳ khoản tiền nợ gốc nào. Mặc
dù, L2 đã nhiều lần liên hệ, nhắc nhở yêu cầu thanh toán. Đến ngày
09/8/2015, ông V chết chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền vay nợ của
bà. Nhận thấy, quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, do đó L2 yêu cầu
Tòa án giải quyết buộc những người thừa kế của ông V trách nhiệm liên đới
thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ mà ông V đã mượn của bà như sau:
+ Về số tiền gốc: Trả số tiền vay nợ gốc là 100.000.000 đồng.
+ Về lãi suất chậm trả, được tính theo quy định pháp luật dân sự từ thời
điểm ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, tạm tính từ ngày 09/8/2015 (ngày ông
V chết) đến thời điểm khởi kiện, cụ thể: Từ ngày 09/8/2015 đến ngày
09/01/2017 áp dụng lãi suất chậm trả theo lãi suất Ngân hàng N công bố
0,75%/tháng (09%/năm) tương đương 17 tháng, số tiền lãi tạm nh
12.750.000 đồng (100.000.000 đồng × 17 tháng × 0,75%/tháng). Từ ngày
09/01/2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 hiệu lực) đến thời điểm hiện ti
áp dụng lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật hiện hành 0,83%/tháng
(10%/năm) tương đương 68 tháng, số tiền tạm tính 56.440.000 đồng
(100.000.000 đồng × 68 tháng × 0,83%/tháng). Tổng số tiền lãi chậm trả là:
69.190.000 đồng.
Vì vậy, bà L2 yêu cầu những người thừa kế của ông Thành V có trách
nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ mà ông V còn nợ bà L2,
với số tiền vay nợ gốc là 100.000.000 đồng và lãi suất chậm trả tạmnh từ ngày
09/8/2015 đến thời điểm khởi kiện 69.190.000 đồng. Tổng cộng số tiền nợ
gốc và lãi là: 169.190.000 đồng và tiếp tục tính lãi trên số tiền chậm trả với mức
lãi suất là 10%/năm cho đến khi trả dứt nợ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thái Thanh T1 trình
bày: Nguyên trước đây do có quen biết với nhau, ông Võ Thành V mượn ông
số tiền 410.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 11/6/2011. Thế nhưng, từ thời
điểm mượn tiền đến nay, ông V không thanh toán cho ông bất kỳ khoản tiền nợ
gốc nào, mặc ông đã nhiều lần liên hệ, nhắc nhở yêu cầu thanh toán. Đến
năm 2015, ông V chết vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền vay nợ
của ông. Nhận thấy, quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, do đó ông T1 yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc những người thừa kế của ông Võ Thành V trách
9
nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ mà ông V đã mượn của
ông T1 như sau:
+ Về số tiền gốc: Trả số tiền vay nợ gốc là 410.000.000 đồng.
+ Về tiền lãi: Trả tiền lãi từ ngày 09/8/2015 đến ngày 09/01/2017 áp dụng
lãi suất chậm trả theo lãi suất Ngân hàng N công bố 0,75%/tháng (09%/năm)
tương đương 17 tháng, số tiền lãi tạm tính 52.275.000 đồng (410.000.000
đồng × 17 tháng × 0,75%/tháng). Từ ngày 09/01/2017 (ngày Bộ luật Dân sự
năm 2015 hiệu lực) đến thời điểm hiện tại áp dụng lãi suất chậm trả theo quy
định pháp luật hiện hành 0,83%/tháng (10%/năm) tương đương 68 tháng, số tiền
tạm tính 231.404.000 đồng (410.000.000 đồng × 68 tháng × 0,83%/tháng).
Tổng cộng tiền lãi là 283.679.000 đồng.
vậy, ông Thái Thanh T1 yêu cầu những người thừa kế của ông
Thành V phải thanh toán số tiền vốn, lãi tổng cộng 693.679.000 đồng (trong
đó vốn 410.000.000 đồng + lãi 283.679.000 đồng) tiếp tục tính lãi trên
số tiền chậm trả với mức lãi suất là 10%/năm cho đến khi trả dứt nợ.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện L trình bày:
Trình tự cấp Giấy chứng nhận QSD đất của các thửa đất: tha 1094, 1095, cùng
t bản đ s 1, các thửa đất trên tọa lạc tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp
nay là ấp B, xã H, tỉnh Đồng Tháp là đúng theo trình tự quy định pháp luật.
Tại Bản án dân s thẩm s 05/2025/DS-ST ngày 21 tháng 7 m
2025 của Tòa án nhân dân khu vực B - Đồng Tháp (viết tắt bản án
thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Hồng P.
Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V được hưởng kỷ phần
thừa kế của ông V theo quy định cụ thể như sau:
1.1. Bà Nguyễn Thị Hồng P được quyền sử dụng:
- Diện tích 1.738m
2
thuộc thửa 1094 tờ bản đồ số 1 từ các mốc M1-M2-
M24-M23 về M1.
- Diện tích 1.927,7m
2
thuộc thửa 1095 tờ bản đồ số 1 từ các mốc M23-
M22-M21-M20-M19-M24 về M23.
- Diện ch 383,9m
2
thuộc thửa 1095 tờ bản đồ s 1 bao gồm các mốc
M24-M19-M18-M17-M25 về M24.
- Diện tích 349,2m
2
thuộc thửa 1094 tờ bản đồ số 1 bao gồm các mốc M3-
M2-M24-M25 về M3.
1.2. Chị Hồng Vân P1 được quyền sử dụng nhưng giao lại cho
Nguyễn Thị Hồng P:
- Diện ch 383,3m
2
thuộc thửa 1095 tờ bản đồ s 1 bao gồm các mốc
M17-M16-M26-M25 về M17.
10
- Diện tích 349,8m² bao gồm các mốc M4-M3-M25-M26 về M4.
1.3. Chị Thị Hạnh P2 được quyền sử dụng:
- Diện ch 398,5m
2
thuộc thửa 1095 tờ bản đồ s 1 bao gồm các mốc
M16-M15-M14-M7-M6-M26 về M16.
- Diện tích diện tích 334,6m
2
thuộc thửa 1094 tờ bản đồ số 1 bao gồm các
mốc M6-M26-M4-M5 về M6.
1.4. Cụ Văn L được quyền sử dụng: Diện tích 733,1m
2
thuộc thửa
1095 tờ bản đồ số 1 bao gồm các mốc M14-M13-M8-M7 quay về M14.
1.5. Chị Nhã H1 được quyền sử dụng nhưng giao lại cho cụ Văn
L: Diện tích 733,1m
2
thuộc thửa 1095 tờ bản đồ số 1 bao gồm các mốc M13-
M12-M11-M10-M9-M8 về M13.
(Có đồ đo đạc Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 10/7/2024 của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai huyện L, tỉnh Đồng Tháp biên bản thẩm định tại
chỗ của Tòa án kèm theo). Các đương sự quyền nghĩa vụ sử dụng đúng
ranh giới QSD đất đã được Tòa án xác định theo chiều thẳng đứng không gian
và lòng đất theo quy định pháp luật.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự phải có trách nhiệm đến cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để kê khai, đăng ký, điều chỉnh
cấp đổi Giấy chứng nhận QSD đất đối với phần thửa đất 2 thửa đất 1094, 1095
cùng tờ bản đồ 01 (có kèm theo đồ đo đạc ngày 10/7/2024 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Đồng Tháp).
2. Buộc Thị Hồng G giao trả Giấy chứng nhận QSD đất của các
tha 1094, t bản đồ 01, din tích 3.473m
2
loại đất CLN; tha 1095, t bản đồ
01, din tích 4.000m
2
loại đất CLN, được UBND huyn L cp Giy chng nhn
QSD đất s vào s 00897 ngày 15/02/2002 cho ông Thành V, đất tọa lạc tại
Thị trấn L cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Võ Thành V.
3. Đình chỉ yêu cầu phân chia số nợ chung 625.299.600 đồng (sáu trăm
hai mươi lăm triệu, hai trăm chín mươi chín nghìn, sáu trăm đồng) của
Nguyễn Thị Hồng P.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu ông Thái Thanh T1 bà Phạm Thị Kim
L2.
- Buộc bà Nguyễn Thị Hồng P, chị Võ Hồng Vân P1, chị Võ Thị Hạnh P2
có nghĩa vụ trả ông Thái Thanh T1 số tiền như sau:
+ Bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu 246.000.000 đồng (hai tm bốn mươi
sáu triệu đồng).
+ ChVõ Hồng n P1 phải chịu 41.000.000 đồng (bốn mươi mốt triệu
đồng) nhưng số tiền 41.000.000 đồng Nguyễn Thị Hồng P phải nghĩa vụ
trả thay cho chVân P1.
+ Chị Thị Hạnh P2 phải chịu 41.000.000 đồng (bốn mươi mốt triệu
đồng).
11
+ Công nhận sự tự nguyện của cụ Võ Văn L đồng ý trả số tiền cho ông T1
số tiền vốn và lãi là 138.735.800 đồng (một trăm ba mươi tám triệu, bảy trăm ba
mươi lăm nghìn, tám trăm đồng)
+ Công nhận stự nguyện của chị Nhã H1 đồng ý trả số tiền cho ông
T1 số tiền vốn và lãi là 138.735.800 đồng (một trăm ba mươi tám triệu, bảy trăm
ba mươi lăm nghìn, tám trăm đồng), nhưng số tiền 138.735.800 đồng cụ Văn
L phải có nghĩa vụ trả thay cho chị Nhã H1.
- Buộc Nguyễn Thị Hồng P, Hồng Vân P1, Thị Hạnh P2 có
nghĩa vụ trả bà Phạm Thị Kim L2 số tiền như sau:
+ Nguyễn Thị Hồng P phải chịu 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu
đồng).
+ Chị Hồng Vân P1 phải chịu 10.000.000 đồng (mười triệu đồng),
nhưng số tiền 10.000.000 đồng Nguyễn Thị Hồng P phải có nghĩa vụ trả thay
cho chị Vân P1.
+ Chị Võ Thị Hạnh P2 phải chịu 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
+ Công nhận sự tự nguyện của cụ Văn L đồng ý trả số tiền cho L2
số tiền vốn, lãi 33.838.000 đồng (ba mươi ba triệu, tám trăm ba ơi tám
nghìn đồng).
+ Công nhận tự nguyện của chị Nhã H1 đồng ý trả số tiền cho ông T1
số tiền vốn lãi 33.838.000 đồng (ba mươi ba triệu, tám trăm ba mươi tám
nghìn đồng), nhưng số tiền 33.838.000 đồng cụ Văn L phải nghĩa vụ trả
thay cho Nhã H1.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người yêu cầu thi hành án mà
người bị yêu cầu thi hành án chưa thi hành án xong số tiền trên thì hàng tháng
người bị yêu cầu thi hành án còn phải chịu lãi suất bằng 50% mức lãi suất theo
quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án,
đến khi trả xong.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng
cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
- Ngày 04/8/2025, bị đơn cụ Văn L đơn kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án thẩm theo hướng chấp nhận
toàn bộ yêu cầu của ông, chia thừa kế theo quy định pháp luật đối với di sản
QSD đất thửa số 1094, tờ bản đồ số 01 và thửa đất số 1095, tờ bản đồ số 01, các
thửa đất tọa lạc tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp của ông Thành V để
lại thành 05 phần bằng nhau, mỗi phần tương ứng diện tích 1.466,5m² đất và
ông xin nhận hiện vật.
- Ngày 04/8/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nhã H1
đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của chị, chia thừa kế
12
theo quy định pháp luật đối với di sản là QSD đất thửa số 1094, tờ bản đồ số 01
và thửa đất số 1095, tờ bản đồ số 01, các thửa đất tọa lạc tại thị trấn L, huyện L,
tỉnh Đồng Tháp của ông Thành V để lại thành 05 phần bằng nhau, mỗi phần
tương ứng diện tích 1.466,5m² đất và chị xin nhận hiện vật.
- Ngày 07/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thái Thanh
T1 đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông, buộc những
người thừa kế của ông Thành V trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ
thanh toán tiền nợ gốc là 410.000.000 đồng và lãi chậm trả với lãi suất 10%/năm
trên số tiền nợ gốc 410.000.000 đồng cho ông, tạm tính tngày 09/8/2015 đến
khi xét xử phúc thẩm.
- Ngày 07/8/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị
Kim L2 đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của chị,
buộc những người thừa kế của ông Thành V trách nhiệm liên đới thực
hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng lãi chậm trả với lãi
suất 10%/năm trên số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng cho bà, tạm tính từ ngày
09/8/2015 đến khi xét xử phúc thẩm.
- Ngày 03/9/2025, ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo ủy quyền
của Đặng Thị Thu C (bà C người đại diện theo pháp luật của người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thị Hạnh P2) có đơn kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa ánthẩm theo hướng chia thừa kế
theo quy định pháp luật đối với di sản QSD đất của ông Thành V để lại
thành 05 phần bằng nhau, mỗi phần tương ng 1.466,24m
2
; đất của các thửa
1094, tờ bản đồ số 01 và thửa đất 1095, tờ bản đồ số 01 (theo đo đạc thực tế) các
thửa đất tọa lạc tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, được UBND huyện L
cấp ngày 15/02/2002. Bà C yêu cầu được nhận giá trị di sản là đất thống nhất
theo mốc của đồ đo đạc ngày 20/9/2023 tương ứng với vị trí yêu cầu được
chia di sản cho cháu Hạnh P2. Đối với yêu cầu của bà Phạm Thị Kim L2 yêu
cầu hàng thừa kế của ông V trả số tiền 166.860.000 đồng và yêu cầu của ông
Thái Thanh T1 trả số tiền vốn lãi 714.876.000 đồng, C không đồng ý thc
hiện nghĩa vụ trả trước khi chia di sản thừa kế.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Bị đơn cụ Văn L nộp đơn xin rút đơn kháng cáo; người đại diện theo
ủy quyền của bị đơn cụ Văn L là anh Trần Văn S cung cấp văn bản xin xét
xử vắng mặt và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc rút đơn kháng cáo
của cụ L, do cụ L đã thống nhất với bản án sơ thẩm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nhã H1 nộp đơn xin rút
đơn kháng cáo; người đại diện theo ủy quyền của chị Nhã H1 chị Huỳnh
Thị Mỹ H2 cung cấp văn bản xin xét xử vắng mặt yêu cầu Tòa án cấp phúc
13
thẩm chấp nhận việc rút đơn kháng cáo của chị H1, do chị H1 đã thống nhất với
bản án sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị Thu
C (bà C đại diện theo pháp luật của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Thị Hạnh P2) trình bày: Đặng Thị Thu C đã thống nhất xin rút toàn bộ yêu
cầu kháng cáo của Thị Hạnh P2. C không đồng ý với yêu cầu kháng cáo
của Phạm Thị Kim L2 ông Thái Thanh T1. Ông H yêu cầu được sao chụp
tài liệu liên quan do Công ty TNHH T3 cung cấp cho Tòa án tại giai đoạn phúc
thẩm, sau này nếu chứng minh được việc đã trả nợ thì C sẽ khởi kiện bằng vụ
án khác.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Kim L2 và ông
Thái Thanh T1 y quyền cho ông Cao Hu S1 vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin
xét xử vắng mặt, giữ nguyên kháng cáo.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của bị đơn cụ Võ Văn L; người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ch Nhã H1, ch Thị Hạnh P2 đại din theo
pháp lut Đặng Thị Thu C, Phạm Thị Kim L2 ông Thái Thanh T1
thc hiện đúng quy định và hp l theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Thm phán, Hi đồng xét x Thư phiên tòa
kể từ khi th lý v án đến thời điểm xét x phúc thẩm đã chấp hành và thực hin
đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng
đã thc hiện đúng, đầy đủ quyền nghĩa v tố tụng theo quy định của pháp
luật.
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của cụ
Văn L, chị Nhã H1 Thị Hạnh P2 đại din theo pháp lut
Đặng Thị Thu C; không chấp nhận kháng cáo Phạm Thị Kim L2 không
chấp nhận kháng cáo ông Thái Thanh T1; giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
05/2025/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực B -
Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
883/PB-VKS-DS ngày 16/6/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên a, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp thụ giải
quyết thẩm vụ án đúng quy định tại các khoản 2, 3, 5 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35 điểm c khoản 1 Điều 39 Bluật Tố tụng dân sự về thẩm
quyền của Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm xác định quan hpháp luật
14
tranh chấp trong vụ án là tranh chấp chia tài sản chung, chia thừa kế QSD đất và
đòi lại i sản chưa đầy đủ, do trong vụ án này Tòa án còn giải quyết tranh
chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại giữa các đương
sự, vì vậy Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án
này cho đầy đủ “Tranh chấp chia tài sản chung, thừa kế, đòi lại tài sản
thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.
Ti phiên tòa phúc thm ông Cao Văn S2 vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt, còn chị Hồng Vân P1, đại diện hợp pháp của Công ty trách nhiệm
hữu hạn T3, Ủy ban nhân dân H Ban Q vắng mặt sau khi được Tòa án
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét x tiến hành xét x vng mt
theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V nội dung: Nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng P cho rằng ông
Thành V (đã chết ngày 09/8/2015) chung sống khoảng năm 1986 nhưng đến
ngày 20/5/2005 mới đăng kết hôn (đăng ký trễ hạn). Hồng P ông V
một con chung Hồng Vân P1. Vợ chồng tạo lập được tài sản chung
QSD đất, diện tích 7.473m
2
gồm: Thửa 1094, tờ bản đồ 01, diện tích 3.473m
2
loại đất vườn (LNK) (viết tắt là thửa 1094) và thửa 1095, tờ bản đồ 01, diện tích
4.000m
2
loại đất vườn (LNK) (viết tắt thửa 1095) được Ủy ban nhân n
(UBND) huyện L cấp Giấy chứng nhận QSD đất s vào sổ 00897 ngày
15/02/2002 do ông Thành V đại diện hộ gia đình đứng tên giấy chứng nhận.
Nhưng theo đo đạc thực tế từ thửa 1094 thửa 1095 diện tích 7.331,2m
2
(theo đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 10/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai huyện L). Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân
chia tài sản chung của hộ gia đình và chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông
V QSD đất thửa 1095 thửa 1094, trong đó Hồng P1 chị Vân P1 mỗi
người được nhận 1/3, còn lại 1/3 QSD đất di sản của ông V sẽ chia thừa kế
cho 05 người thuộc hàng thừa kế thnhất của ông V gồm bà Nguyễn Thị Hồng
P (vợ ông V), cụ Văn L (cha ông V), chHồng Vân P1, chNhã H1
Thị Hạnh P2 (các con ông V). Buộc Công ty TNHH T3 hoàn trả lại cho
Nguyễn Thị Hồng P bản chính Giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 00897
ngày 15/02/2002. Đối với yêu cầu của Phạm Thị Kim L2 ông Thái Thanh
T1 thì Hồng P không đồng ý phần nợ Công ty T3 đã trả cho L2 ông
T1 đây nợ của Công ty T3 không phải nợ của nhân ông V. Hồng P
rút lại yêu cầu phân chia số nợ chung của vợ chồng 625.299.600 đồng do
đã nộp lại số tiền này cho Ban Quản dự án Phát triển quỹ đất huyện L để
nhận lại QSD đất.
Bị đơn cụ Văn L cho rằng QSD đất thửa 1094 thửa 1095 tài sản
riêng của ông V tạo lập trước thời kỳ hôn nhân với Hồng P. Cụ L yêu cầu
chia phần di sản của ông V để lại theo pháp luật thành 05 phần. Đối với yêu cầu
của bà Phạm Thị Kim L2 và ông Thái Thanh T1 thì cụ L đồng ý trả vốn lãi
cho bà L2 và ông T1 phần ndo ông V chết đlại tương đương với kphần
thừa kế (còn viết tắt là kỷ phần) mà cụ L được nhận từ ông V.
15
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồng Vân P1 yêu cầu chia
di sản của ông V thành 03 phần, chị được hưởng 1/3 thửa 1094 thửa 1095
yêu cầu được hưởng phần di sản thừa kế của ông V theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ch Võ Nhã H1 cho rng QSD đất
thửa 1094 và thửa 1095 là tài sản riêng của ông V tạo lập trước thời kỳ hôn nhân
với Hồng P1. Chị H1 yêu cầu chia phần di sản của ông V để lại theo pháp
luật thành 05 phần. Đối với yêu cầu của Phạm Thị Kim L2 ông Thái
Thanh T1 thì chị H1 đồng ý trả vốn và lãi cho bà L2 và ông T1.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thị Hạnh P2 đại diện
theo pháp luật Đặng Thị Thu C cho rằng QSD đất thửa 1094 thửa 1095
tài sản riêng do ông V tạo lập trước thời kỳ hôn nhân với Nguyễn Thị
Hồng P, không phải tài sản của hộ gia đình. Chị P2 yêu cầu chia di sản của
ông V đlại thành 05 phần, trong đó chị P2 được hưởng một phần. Đối với yêu
cầu của Phạm Thị Kim L2 ông Thái Thanh T1 thì C không đồng ý, vì
phần nợ Công ty T3 đã trả cho L2 ông T1 đây là nợ của ng ty T3
không phải nợ của cá nhân ông V.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Kim L2 yêu cầu
những người thừa kế của ông Thành V trách nhiệm liên đới thực hiện
nghĩa vụ thanh toán khoản nợ mà ông V còn nợ L2, với số tiền vay nợ gốc
100.000.000 đồng và lãi suất chậm trả tạm tính từ ngày 09/8/2015 đến thời điểm
khởi kiện 69.190.000 đồng. Tổng cộng stiền nợ gốc lãi là: 169.190.000
đồng tiếp tục tính lãi trên số tiền chậm trả với mức lãi suất 10%/năm cho
đến khi trả dứt nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thái Thanh T1 yêu cầu những
người thừa kế của ông Thành V phải thanh toán số tiền vốn, lãi tổng cộng
693.679.000 đồng (trong đó vốn là 410.000.000 đồng + lãi là 283.679.000 đồng)
và tiếp tục tính lãi trên số tiền chậm trả với mức lãi suất là 10%/năm cho đến khi
trả dứt nợ.
[3] Bị đơn cụ Võ Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ch
Nhã H1 đã nộp đơn xin rút đơn kháng cáo và đng ý vi bản án sơ thẩm; Võ Thị
Hạnh P2 đại din theo pháp lut là Đặng Thị Thu C xin rút đơn kháng cáo
tại phiên tòa phúc thẩm ngày 16/6/2026. Hội đồng xét x xét thy việc rút đơn
kháng cáo ca c L, ch Nhã H1 C đại din theo pháp lut ca Hnh P2
t nguyện, nên căn cứ vào khoản 5 Điều 308 B lut T tng dân s đình chỉ xét
x phúc thẩm đối vi kháng cáo ca c L, ch Nhã H1 và Hnh P2.
[4] Xét kháng cáo của người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm
Thị Kim L2 và ông Thái Thanh T1. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
- Phạm Thị Kim L2 kháng cáo yêu cầu những người thừa kế của ông
Võ Thành V trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ mà
ông V còn nợ L2, với số tiền vay nợ gốc 100.000.000 đồng và lãi suất
chậm trả tạm nh từ ngày 09/8/2015 đến thời điểm khởi kiện 69.190.000
16
đồng, tổng cộng số tiền nợ gốc lãi 169.190.000 đồng tiếp tục tính lãi
trên số tiền chậm trả với mức lãi suất 10%/năm cho đến khi trả dứt nợ; còn
ông Thái Thanh T1 yêu cầu những người thừa kế của ông Thành V phải
thanh toán số tiền vốn, lãi tổng cộng 693.679.000 đồng (trong đó vốn
410.000.000 đồng + lãi 283.679.000 đồng) tiếp tục tính lãi trên số tiền
chậm trả với mức lãi suất là 10%/năm cho đến khi trả dứt nợ. Xét thấy, bà L2 và
ông T1 đã cung cấp được chứng cứ chứng minh ông V vay tiền của L2
ông T1 số tiền trên bằng Biên nhận ngày 24/11/2012 và Biên nhận ngày
11/6/2011 của ông V đối với L2 ông T1, đồng thời Kết luận giám định số
2681/KLKTHS ngày 10/6/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố
Hồ Chí Minh kết luận: Chữ ký đứng tên Thành V trên các tài liệu cần giám
định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký đứng tên Võ Thành V trên các tài liệu mẫu so
sánh ký hiệu từ M1 đến M12 là do cùng 01 người ký ra”. Như vậy, có sở xác
định ông V mượn của bà L2 số tiền 100.000.000 đồng ông T1 số tiền
410.000.0000 đồng.
Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì nghĩa vụ của ông V sau khi
chết sẽ được chuyển tiếp cho những người thừa kế của ông V trong phạm vi di
sản ông V để lại theo quy định của các Điều 463, 466, 614, 615 Bộ luật Dân sự
năm 2015, vì vậy Tòa án thẩm không chấp nhận buộc liên đới trả nợ
sở. Ngoài ra, do thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng vay tài sản đã hết theo quy
định tại Điều 429 Bluật Dân sự năm 2015, nên Tòa án thẩm không chấp
nhận yêu cầu trả lãi của L2, ông T1 phù hợp, riêng cụ L, chị Nhã H1 đã tự
nguyện trả lãi cho L2, ông T1 theo yêu cầu của họ, nên Tòa án thẩm chấp
nhận sự tự nguyện của cụ L, chị Nhã H1 trả lãi cho bà L2, ông T1 là có cơ sở.
Từ sở trên, Tòa án thẩm xác định trách nhiệm trả nợ của những
người thừa kế của ông V theo bản án sơ thẩm là có cơ sở và phù hợp pháp luật.
[4] Tại phiên tòa cụ Văn L, ch Nhã H1ch Thị Hạnh P2
đại din theo pháp lut Đặng Thị Thu C rút yêu cầu kháng cáo nên Hội
đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm. Đối với Phạm Thị Kim L2, ông Thái
Thanh T1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xử xét thấy L2 và ông T1
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của
mình snhư đã phân tích trên, nên không được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[5] T sở trên, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với
kháng cáo của cụ Võ Văn L, ch Võ Nhã H1 Võ Thị Hạnh P2 có đại din theo
pháp lut là bà Đặng Thị Thu C và không chấp nhận kháng cáo ca bà Phạm Thị
Kim L2, ông Thái Thanh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hp pháp lut, n
được chấp nhận.
17
[7] Về án phí: Chị Võ Nhã H1, Võ Thị Hạnh P2 có đại din theo pháp lut
Đặng Thị Thu C, bà Phạm Thị Kim L2ông Thái Thanh T1 phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm. Cụ Võ Văn Lông Thái Thanh T1 do thuộc trường hợp
người cao tuổi đơn xin miễn án phí, nên được xét miễn án phí theo quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phn khác ca bn án thm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn cụ Văn L
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ch Võ Nhã H1
2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Thị Hạnh P2 đại din theo pháp lut Đặng Thị
Thu C;
3. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Phạm Thị Kim L2;
4. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Thái Thanh T1;
5. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 21 tháng 7
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp.
6. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 29
Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí
và lệ phí Tòa án.
- Ch Nhã H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được
trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H1 đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002597, ngày 18/9/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp.
- Ch Võ Thị Hạnh P2 đại din theo pháp lut Đặng Thị Thu C
phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí mà ông Nguyễn Văn H đã nộp thay là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004334, ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Đồng Tháp.
- Phm Th Kim L2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sphúc thẩm,
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L2 đã nộp là 300.000 đồng, theo biên
18
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002598, ngày 18/9/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
- Cụ Văn L ông Thái Thanh T1 được miễn án phí dân sự phúc
thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vc B - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc B - Đng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 517/2026/DS-PT Bản án số 517/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 517/2026/DS-PT Bản án số 517/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất