Bản án số 51/2025/DSST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 51/2025/DSST

Tên Bản án: Bản án số 51/2025/DSST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 51/2025/DSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ACB BANK, VẠN LUYẾN
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – ĐĂK LĂK
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 51/2025/DSST
Ngày: 29/9/2025
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐĂK LĂK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Y Dhiểu H Môk
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải
- Thư ký phiên toà: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư Tòa án nhân dân khu vực
8, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên
toà: Bà Ngô Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 29/9/2025 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Đăk Lăk
mở phiên toà xét xử công khai vụ án n sự sơ thẩm lý số: 37/2025/TLST-DS ngày
27 tháng 3 năm 2025 về việc kiện “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐST-DS, ngày 25 tháng 8 năm 2025, Quyết định
hoãn phiên tòa số 47/QĐ-HPT, ngày 12/9/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á (sau đây gọi tắt A). Địa chỉ: Số D N,
phường B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Nguyễn Thị Cẩm V, sinh
năm 1983; Địa chỉ: 1 Y, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Địch Văn V1, sinh năm 1984 và bà Trần Thị L, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Buôn Q, B, thị B, tỉnh Đắk Lắk (nay phường C, tỉnh Đăk Lăk).
Cùng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn trình bày:
Ngày 12/8/2022, vợ chồng ông Địch Văn V1, Trần Thị Lngân hàng A
đã ký kết hợp đồng tín dụng số BUH.CN.823.120822, theo đó ngân hàng A cho vợ
chồng ông Địch Văn V1, Trần Thị L vay số tiền 250.000.000 đồng. Ngày giải
ngân 12/5/2023, thời hạn vay đến ngày 12/02/2024; lãi suất trong hạn 12,5%, lãi suất
quá hạn = 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả 10%/năm.
Đến nay, đã quá hạn trả nợ nhưng vợ chồng ông Địch Văn V1, Trần Thị L
còn nợ 249.751.445 đồng nợ gốc, lãi trong hạn 2.445.205 đồng, lãi quá hạn
72.677.401 đồng, phạt chậm trả lãi 4.153.898 đồng. Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Địch Văn V1, bà Trần Thị L trả hết số nợ gốc
và lãi suất nói trên.
Biện pháp bảo đảm: hai bên kết hợp đồng thế chấp số
BUH.BĐCN.383.091019, thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 538003, do UBND thị B
ngày 25/6/2019, thửa đất số 91, tờ bản đồ số 32 mang tên chủ sử dụng đất vợ
chồng ông Địch Văn V1, bà Trần Thị L.
Trong trường hợp vợ chồng ông Địch Văn V1, bà Trần Thị L không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ khi bản án có hiệu lực pháp luật, thì yêu
cầu quan Thi hành án dân sự xử tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định
của pháp luật;
Theo bị đơn là ông Địch Văn V1 trình bày:
Ông Địch Văn V1 thừa nhận nội dung hợp đồng tín dụng như ngân hàng A
trình bày. Ông Địch Văn V1 đề nghị được trả nợ dần, mỗi năm 50.000.000 đồng.
Trần Thị L vắng mặt nên không có ý kiến trình bày:
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về vụ án:
1. Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thẩm
quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thị Buôn Hồ (nay Tòa án nhân dân
khu vực 8, tỉnh Đăk Lăk) theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều
39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc thụ lý, lập hồ vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách
của những người tham gia tố tụng; thẩm định tại chỗ: Thẩm phán được phân công
thụ lý, giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà, Hội đồng xét xử, Thư phiên toà đã tuân theo đầy đủ các quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử vụ án dân sự sơ thẩm.
2. Về nội dung: Việc vợ chồng ông Địch Văn V1, Trần Thị L ngân hàng
A kết hợp đồng tín dụng sBUH.CN.823.120822, ngày 12/8/2022, theo đó ngân
hàng A cho vợ chồng ông Địch Văn V1 bà Trần Thị L vay số tiền 250.000.000
đồng; thời hạn vay đến ngày 12/02/2024; lãi suất trong hạn 12,5%, lãi suất quá hạn=
150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả 10%/năm là tự nguyện nên cần chấp
nhận. Đến nay, đã quá hạn trả nợ nhưng vợ chồng ông Địch Văn V1Trần Thị
L còn nợ 249.751.445 đồng nợ gốc, lãi trong hạn 2.445.205 đồng, lãi quá hạn
72.677.401 đồng, phạt chậm trả lãi 4.153.898 đồng. Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Địch Văn V1 Trần Thị L trả hết số nợ
gốc và lãi suất nói trên là có căn cứ, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận.
Hai bên kết hợp đồng thế chấp số BUH.BĐCN.383.091019, thế chấp quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CC 538003, do UBND thị xã B ngày 25/6/2019, thửa đất số 91, tờ bản đồ số
32 mang tên chủ sử dụng đất là vợ chồng ông Địch Văn V1 và bà Trần Thị L. Hợp
đồng thế chấp đã được đăng thế chấp nên hiệu lực pháp luật. Nếu vợ chồng
ông Địch Văn V1 Trần Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ trả nợ khi bản án hiệu lực pháp luật thì ngân hàng A quyền yêu cầu
cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật;
- Về án phí: vchồng ông Địch Văn V1 Trần Thị L phải chịu án phí DSST
theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
1. Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với vợ chồng ông Địch Văn
V1, bà Trần Thị L đã được Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, nay là Tòa án nhân dân
khu vực 8, tỉnh Đăk Lăk thụ vụ án với nội dung tranh chấp “Tranh chấp hợp
đồng tín dụng” là thuộc lĩnh vực tranh chấp dân sự và đúng thẩm quyền.
2. Về nội dung:
Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Ngày 12/8/2022, vchồng ông Địch Văn V1, Trần Thị L ngân hàng
A kết hợp đồng tín dụng số BUH.CN.823.120822. Ngân hàng A cho vợ chồng
ông Địch Văn V1 bà Trần Thị L vay số tiền 250.000.000 đồng. Ngày giải ngân
12/5/2023, thời hạn vay đến ngày 12/02/2024; lãi suất trong hạn 12,5%, lãi suất quá
hạn= 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả 10%/năm.
Việc ký kết hợp đồng tín dụng này các bên đều tự nguyện và không trái pháp
luật nên cần chấp nhận. Đến nay, đã quá hạn trả nợ nhưng vợ chồng ông Địch Văn
V1, Trần Thị L còn nợ 249.751.445 đồng nợ gốc, lãi trong hạn 2.445.205 đồng,
lãi quá hạn 72.677.401 đồng, phạt chậm trả lãi 4.153.898 đồng là ảnh hưởng quyền
lợi ích hợp pháp của ngân hàng A. Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc vợ chồng ông Địch Văn V1, Trần Thị L trả hết số nợ gốc và lãi suất
nói trên là có căn cứ, cần chấp nhận.
[2]. Tài sản bảo đảm: vợ chồng ông Địch Văn V1, bà Trần Thị L kết hợp
đồng thế chấp số BUH.BĐCN.383.091019, thế chấp cho ngân hàng A quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất số
CC 538003, do UBND thị B ngày 25/6/2019, thửa đất số 91, tờ bản đồ số 32
mang tên chủ sử dụng đất là vợ chồng ông Địch Văn V1, Trần Thị L. Hợp đồng
thế chấp đã được đăng ký thế chấp nên có hiệu lực pháp luật, cần chấp nhận.
Khi vợ chồng ông Địch Văn V1, bà Trần Thị L trả hết số nợ thì bên nhận thế
chấp phải nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nhận thế chấp
cho vợ chồng ông Địch Văn V1, bà Trần Thị L. Trường hợp vợ chồng ông Địch Văn
V1, Trần Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ khi
bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án
dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ;
[3]. Đối với chi phí thẩm định tài sản, ngân hàng A đã nộp tạm ứng 2.000.000
đồng, đã chi phí hết. Vợ chồng ông Địch Văn V1, bà Trần Thị L nghĩa vụ trả cho
ngân hàng A số tiền 2.000.000 đồng nói trên.
[4]. Về án phí: vợ chồng ông Địch Văn V1, Trần Thị L phải chịu án p
Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho N ACB số tiền tạm ứng án
phí Dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 238
của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 280, 463 Bộ luật
dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng A. Vợ chồng ông Địch
Văn V1, Trần Thị L nghĩa vụ trả cho ngân hàng A số nợ gốc 249.751.445
đồng, lãi trong hạn 2.445.205 đồng, lãi quá hạn 72.677.401 đồng, phạt chậm trả lãi
4.153.898 đồng (tính đến ngày xét xử 29/9/2025). Sau ngày tuyên án thẩm
(29/9/2025) cho đến khi trả hết tiền nợ gốc, hàng tháng vợ chồng ông Địch Văn V1,
Trần Thị L còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh từ ngốc còn phải trả cho Ngân
hàng A theo mức lãi suất đã cam kết tại Hợp đồng tín dụng số BUH.CN.823.120822
ngày 12/8/2022.
Khi vợ chồng ông Địch Văn V1, bà Trần Thị L trả hết số nợ thì bên nhận thế
chấp nghĩa vtrả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 538003, do UBND
thị B ngày 25/6/2019, thửa đất số 91, tờ bản đồ số 32 đã nhận thế chấp cho vợ
chồng ông Địch Văn V1, Trần Thị L. Trường hợp vợ chồng ông Địch Văn V1,
Trần Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ khi bản
án hiệu lực pháp luật, thì Ngân hàng A quyền yêu cầu quan Thi hành án
dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật;
Vợ chồng ông Địch Văn V1, bà Trần Thị L nghĩa vụ trả cho ngân hàng A
số tiền 2.000.000 đồng chi phí thẩm định tài sản.
Về án phí: vợ chồng ông Địch Văn V1, Trần Thị L phải chịu 16.451.397
đồng án phí Dân sự thẩm. Trả lại cho Ngân hàng A số tiền 7.085.000 đồng tạm
ứng án pDân sự thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị Buôn Hồ
theo biên lai số 0004123 ngày 26/3/2025.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng A, bị đơn ông Địch Văn V1,
Trần Thị L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản
án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân
sự).
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- Viện KSND khu vực 8, tỉnh Đăk Lăk;
- PhòngThi hành án dân sự khu vực 8, tỉnh Đăk Lăk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thanh Long
Tải về
Bản án số 51/2025/DSST Bản án số 51/2025/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 51/2025/DSST Bản án số 51/2025/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất