Bản án số 49/2021/DS-PT ngày 01/04/2021 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 49/2021/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 49/2021/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 49/2021/DS-PT ngày 01/04/2021 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bắc Giang |
| Số hiệu: | 49/2021/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/04/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc.
Bản án số: 49/2021/DS-PT.
Ngày 01/4/2021.
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Các thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết;
Bà Phạm Thị Minh Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc
Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Lương Thất Tùng
- Kiểm sát viên.
Ngày 01/4/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm
công khai vụ án thụ lý số: 78/2020/TLPT-DS ngày 20/3/2020 về việc “Tranh chấp
quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2019/DS-ST ngày 28/11/2019 của Toà án
nhân dân huyện Việt Yên có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2020/QĐ-PT ngày 20/5/2020,
Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 02/2020/QĐ-PT ngày 24/02/2021 và
Thông báo số 02 /TB-TA ngày 05/3/2021 về việc tiếp tục mở lại phiên tòa, Quyết
định hoãn phiên tòa số 63/2021/QĐ-PT ngày 25/3/2021, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Giáp Văn Tám, sinh năm 1941 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn 6 (nay là thôn Kép), xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc
Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vũ Trọng
Bình- Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Fanci- Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang. (có
mặt).
* Bị đơn: Ông Hà Chuẩn Chinh, sinh năm 1959 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn 6 (nay là thôn Kép), xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc
Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Cận, sinh năm 1947.
Bà Cận ủy quyền cho ông Giáp Văn Tám. (ông Tám có mặt).
Địa chỉ: Thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
2. Bà Đặng Thị Hồi, sinh năm 1960. (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
2
3. Chị Dương Thị Xoan, sinh năm 1980. (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Hội Phú, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
4. UBND xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt Hùng – Phó chủ tịch UBND xã
Việt Tiến (vắng mặt và xin xét xử vắng mặt)
5. UBND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Thân Thị Lanh – Phó phòng Tài nguyên và môi
trường huyện Việt Yên. (vắng mặt và xin xét xử vắng mặt).
* Những người làm chứng:
1.Ông Giáp Văn Liền- Nguyên trưởng thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên
(vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
2.Ông Đoàn Thanh Tĩnh – Nguyên phó thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên,
tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
3.Ông Giáp Văn Triệu, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
* Người kháng cáo: Ông Giáp Văn Tám - Là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như
sau:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn ông
Giáp Văn Tám trình bày:
Năm 2004, ông có cho ông Chinh mượn một sào ruộng (bằng 360m
2
) nằm
trong diện tích 576m
2
tại thửa số 334, tờ bản đồ số 10 tại khu đồng Hối, thôn 6,
Việt Tiến, Việt Yên để trồng rau màu. Việc cho mượn ruộng giữa ông và ông
Chinh chỉ thoả thuận bằng miệng chứ không có hợp đồng văn bản, giấy tờ và cũng
không có ai chứng kiến. Ông Chinh có đưa cho ông tiền thầu ruộng 10 năm là
4.000.000đồng. Đến năm 2014 thì hết thời hạn 10 năm nhưng ông Chinh không trả
lại ruộng cho vợ chồng ông Tám. Nay ông Tám khởi kiện yêu cầu ông Chinh phải
trả lại cho ông Tám diện tích đất ruộng của gia đình ông Tám. Diện tích đất này là
của ông Tám, bà Cận, không liên quan gì đến các con của ông.
Đối với những tài liệu do ông Chinh giao nộp là 02 hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông với ông Chinh và giữa anh Triệu (con ông) với ông
Chinh; 01 biên bản giao ruộng trên thực địa ngày 15/6/2004; 02 giấy biên nhận
ngày 06/02/2004 giữa anh Triệu, ông với ông Chinh; 02 biên nhận tiền; 01 biên
bản họp nhóm hộ có ruộng chuyển đổi thôn Kép, ông xác định những văn bản trên
không phải chữ ký của ông nhưng ông không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết
của ông trên những tài liệu đó.
3
Ông khẳng định gia đình ông chỉ có 01 thửa số 334, tờ bản đồ số 10, khu
đồng Hối diện tích 576m2 chứ gia đình ông không có thửa 603, tờ bản đồ số 10
nào như trong các tài liệu ông Chinh cung cấp. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông
Chinh phải trả vợ chồng ông 360m2 đất tại thửa số 334, tờ bản đồ số 10, khu Đồng
Hối, thôn 6, Việt Tiến, tỉnh Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị đơn ông Hà Chuẩn Chinh trình
bày:
Trong những năm 2004-2005 thì ông có làm dự án làm đường cạnh khu trang
trại xử lý môi trường và thửa ruộng đằng sau khi đất phân lô tại đồng Hối, thôn
Kép, Việt Tiến, Việt Yên. Ông có mua đất ruộng của ông Tám theo như hợp đồng
ông đã cung cấp còn số lô, số thửa cụ thể ông không nhớ rõ. Khi mua ruộng của
ông Tám thì ông có báo cho ông Giáp Văn Liền trưởng thôn và ông Liền cùng ông
Tám và con trai là anh Triệu đã giao đất cho ông tại thực địa, xác nhận vào hợp
đồng mua bán của hai bên trong thửa đất tại khu đồng Hối. Đất của ông Tám có
hơn 500m
2
, một phần chia cho con trai là Giáp Văn Triệu, một phần bán cho ông,
một phần bán cho thôn để quy hoạch phân lô. Thửa đất của ông Tám ở khu đồng
Hối, ông Tám đã giao và chuyển nhượng hết.
Ông xác định ông đã mua đất của ông Tám chứ không phải ông Tám cho ông
đấu thầu 10 năm để trồng cây rau màu. Mục đích ông mua đất để làm công trình
khu trang trại xử lý môi trường, làm đường giao thông vào khu trang trại và dự án
khu dành cho người khuyết tật (tuy nhiên dự án khu khuyết tật đã bị UBND xã
cưỡng chế tháo dỡ do sử dụng sai mục đích đất nông nghiệp). Riêng phần đất ông
mua của ông Tám có hợp đồng chuyển nhượng và ông đã trả tiền đền bù cho ông
Tám một phần có xác nhận của trưởng thôn là ông Giáp Văn Liền (Ngày
16/01/2004, ông Tám chuyển nhượng cho ông 124m2 với số tiền 1.475.600 đồng
và chuyển nhượng 13m2 với giá 154.000 đồng, có giấy biên nhận tiền và hợp đồng
chuyển nhượng) tuy nhiên ông không cung cấp được bản gốc của những giấy tờ
này. Nay ông Tám khởi kiện đòi ông trả lại diện tích đất 360m
2
đất tại thửa số 334,
tờ bản đồ số 10, ông không đồng ý.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Cận trình bầy: Bà là vợ ông Giáp Văn Tám. Năm 2004, gia
đình bà có cho ông Hà Chuẩn Chinh mượn 01 sào ruộng là 360m2 nằm trong diện
tích 576m2, thửa số 334, tờ bản đồ số 10 tại khu Đồng Hối, thôn 6, Việt Tiến, Việt
Yên, Bắc Giang. Việc cho mượn chỉ có ông Tám và ông Chinh thỏa thuận với
nhau chứ bà không biết nhưng ông Tám có nói lại với bà về việc cho mượn đất
ruộng. Đến năm 2014 hết thời hạn mượn ruộng là 10 năm nhưng ông Chinh không
trả lại ruộng cho gia đình bà. Nay ông Tám chồng bà khởi kiện yêu cầu ông Chinh
phải trả lại vợ chồng ông bà diện tích 360m2 tại khu Đồng Hối bà hoàn toàn nhất
trí với ý kiến ông Tám. Diện tích đất ruộng này là của riêng vợ chồng bà, không
liên quan gì đến các con của ông bà. Do bà tuổi cao, không đi lại xuống Tòa được
nên bà ủy quyền cho chồng bà là ông Tám tham gia tố tụng tại Tòa án.
4
2. Chị Dương Thị Xoan trình bầy: Năm 2010 chị có mua 01 thửa đất của ông
Hà Chuẩn Chinh cụ thể: Thửa số 28, tờ bản đồ số 6, địa chỉ xóm 6, xã Việt Tiến,
huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, diện tích 194m2. Khi chị mua thửa đất này thì
thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Chuẩn
Chinh. Việc mua bán giữa chị và ông Chinh đã được lập thành hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/5/2010 và thực hiện đúng theo các quy định
của pháp luật. Sau đó, chị đã làm thủ tục để UBND huyện Việt Yên cấp chứng
nhận quyền sử dụng đất cho chị đối với thửa đất này. Khi mua đất của ông Chinh
chị chỉ biết đất đó đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Chinh. Chị
không biết ông Tám là ai và không biết ông Tám ở đâu. Khi mua đất thì chị đã làm
thủ tục ly hôn với chồng nên chị xác định thửa đất này là của riêng chị. Vì lý do
công việc bận nên chị đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và xét
xử tại Tòa án.
3. Bà Đặng Thị Hồi đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên
họp, phiên hòa giải nhưng bà từ chối khai báo, không có lời khai.
4. Đại diện UBND xã Việt Tiến, huyện Việt Yên trình bày: Việc ông Tám cho
ông Chinh mượn đất hay bán đất nông nghiệp tại thửa số 334, tờ bản đồ số 10, khu
đồng Hối, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên diện tích 360m2 thì xã không nắm được
nội dung các bên giao dịch với nhau như thế nào. Đề nghị Tòa án giải quyết theo
quy định của pháp luật. Vì lý do công việc nên đại diện cho UBND xã Việt Yên đề
nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và xét xử tại Tòa án.
5. Đại diện UBND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang trình bầy: UBND huyện
đã cung cấp cho Tòa án một số tài liệu liên quan đến việc giải quyết vụ án. Đề nghị
Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết. Vì lý do công việc nên
đại diện cho UBND huyện Việt Yên đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi
làm việc và xét xử tại Tòa án.
* Những người làm chứng:
1. Ông Giáp Văn Liền trình bầy: Thửa ruộng số 334, tờ bản đồ số 10 ở khu
Đồng Hối, thôn 6, Việt Tiến và thửa số 603, tờ bản đồ số 6 tại khu đồng Hối là 01
thửa của ruộng nhà ông Tám đổi cho ông Chinh và ông Chinh vẫn sử dụng diện
tích đó từ năm 2004 cho đến nay. Hiện ông Chinh đã làm nhà, làm đường, xây
mương nên hiện trạng đã thay đổi nên không thể xác định được cụ thể mốc giới.
Việc ông Chinh cung cấp cho Tòa án giấy biên nhận tiền cho ông Tám có chữ ký
của ông là do năm 2004, ông Chinh có làm đường nên đã làm dự án trình lên
UBND đồng ý. Ông Chinh có trả tiền bồi thường cho các hộ dân nên ông đại diện
cho thôn ký chứng nhận việc ông Chinh trả tiền cho các hộ trong đó có hộ ông
Tám. Còn phần ông Tám đã lấy tiền có nằm trong phần diện tích đất ông Tám hiện
đang kiện ông Chinh không thì ông không xác định được.
2. Ông Đoàn Thanh Tĩnh trình bầy: Khoảng năm 2004-2005, thôn 6 có thực
hiện đo đạc lại đất nông nghiệp để dồn điền đổi thửa nhưng không thực hiện được
nên diện tích đất nông nghiệp của gia đình ông Tám được cấp ở đâu thì vẫn ở đó.
Còn việc mua bán trao đổi ruộng giữa ông Tám và ông Chinh là do 2 bên tự thỏa
5
thuận với nhau, không qua thôn xã nên ông không nắm được. Theo biên bản giao
ruộng trên thực địa ngày 15/6/2004 có ghi số thửa của gia đình ông Tám là thửa
603, xứ đồng Ao Đẽn là do khi đo đạc lại để dồn điền đổi thửa nhưng ông Tám
không đồng ý đổi và chủ trương dồn điền đổi thửa không thành nên ruộng ông
Tám ở đâu thì vẫn ở đấy, không thay đổi gì.
3. Ông Giáp Văn Triệu trình bầy: Trên thực tế giữa ông và ông Chinh có giao
dịch về đất nông nghiệp, cụ thể ông có bán đấu thầu 10 năm diện tích đất nông
nghiệp của vợ chồng ông cho ông Chinh nhưng mọi vấn đề giao dịch là qua thôn
chứ không trực tiếp giao dịch với ông Chinh. Đối với diện tích đất đang tranh chấp
giữa ông Tám với ông Chinh thì ông hoàn toàn không có liên quan. Việc giao dịch
cụ thể giữa ông Tám với ông Chinh như thế nào ông không biết và không liên
quan.
Tại phiên tòa, ông Giáp Văn Tám vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của
mình. Ông yêu cầu ông Hà Chuẩn Chinh phải trả ông 360m2 đất ruộng ông đã cho
ông Chinh thầu 10 năm tại thửa số 334, tồ bản đồ số 10, khu Đồng Hối, thôn 6,
Việt Tiến, Việt Yên, Bắc Giang. Ông xác định việc ông cho ông Chinh thầu ruộng
không lập văn bản, giấy tờ gì, không có ai chứng kiến mà chỉ nói bằng miệng với
nhau. Ông xác định ông chưa bị nhà nước thu hồi diện tích đất này và cũng chưa
bao giờ làm thủ tục dồn điền đổi thửa. Gia đình ông chỉ có 01 thửa 334, tờ bản đồ
số 10 chứ không có thửa 603, tờ bản đồ số 6. Ông xác định vị trí đất ruộng ông chỉ
để cán bộ chuyên môn đo đạc theo quyết định thẩm định đất của Tòa án là vị trí đất
mà ông đã cho ông Chinh thầu, vị trí ông chỉ không chính xác 100% vì hiện nay
đất đã được san bằng và làm các công trình trên đất nhưng cũng chính xác tới
70%-80%. Việc ông Chinh cho rằng phần diện tích đất ông chỉ ông Chinh đã được
nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một phần còn một phần là hành
lang đường điện cao thế là không đúng. Ông chưa bao giờ bị nhà nước thu hồi đất
hay bán đất cho ông Chinh. Nay ông yêu cầu ông Chinh phải trả lại ông 360m2 đất
tại thửa số 334, tờ bản đồ số 10, khu Đồng Hối, thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt
Yên theo vị trí ông đã chỉ. Ngoài ra, ông yêu cầu ông Chinh phải bồi thường cho
ông 25.000.000 đồng tiền hoa màu, 30.000.000 đồng tiền tân tạo đất và chi phí đi
kiện, tổng cộng là 70.000.000 đồng.
Đối với số tiền chi phí thẩm định 3.000.000đồng, ông yêu cầu ông Chinh phải
trả lại ông.
Ông Hà Chuẩn Chinh trình bầy: Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của
ông Tám. Ông xác định ông không thầu hay mượn ruộng của ông Tám mà ông đã
mua của ông Tám qua chính quyền thôn. Ông xác định vị trí ruộng mà ông Tám
chỉ đã được cơ quan chuyên môn đo đạc trong đó có một phần diện tích đất ông đã
được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã chuyển nhượng cho
chị Dương Thị Xoan ở Tân Yên còn một phần là hành lang đường điện cao thế ông
đã được giao sử dụng từ năm 2003 đến nay nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Diện tích đất mà ông được cấp giấy chứng nhận sau đó chuyển
nhượng cho chị Xoan là ông được nhà nước giao quyền sử dụng theo Quyết định
6
908 của UBND huyện Việt Yên ngày 14/7/2003. Ngoài ra, ông còn mua một phần
diện tích đất ruộng của ông Tám (có hợp đồng chuyển nhượng) nhưng không liên
quan đến phần diện tích đất mà ông Tám đã chỉ cho cơ quan chuyên môn đo đạc.
Nay ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Tám.
Với nội dung nêu trên, bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2019/DS-ST ngày
28/11/2019 của Toà án nhân dân Việt Yên đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều
227; Điều 228; khoản 1 Điều 147; Điều 165; Điều 271; Điều 273 BLTTDS 2015.
Các Điều 714, 716 BLDS 1995; Điều 155 BLDS 2015;
Các Điều 2, 3, 4, 20, 42, 73, 79, 127 Luật đất đai 1993;
Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án năm 2009; Điều 12; Điều 48 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Giáp Văn Tám về việc yêu
cầu ông Hà Chuẩn Chinh phải trả ông Tám 360m2 tại thửa số 334, tờ bản đồ số 10,
khu Đồng Hối, thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành
án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 09/12/2019, ông Giáp Văn Tám là nguyên đơn kháng cáo, ông Tám
được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Nội dung kháng cáo đề nghị tòa án
cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm vì bản án sơ thẩm xử không
được công bằng.
Tại phiên Toà phúc thẩm, ông Giáp Văn Tám là nguyên đơn trình bày ông
vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không rút kháng cáo, bị đơn là ông Chinh
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của ông Tám. Các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.
* Ông Giáp Văn Tám và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông
Tám thống nhất trình bày: Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu
kháng cáo buộc ông Chinh phải trả cho vợ chồng ông 360m
2
đất tại thửa số 334, tờ
bản đồ số 10, khu đồng Hối, thôn 6, Việt Tiến, Việt Yên, Bắc Giang. Tại phiên tòa
sơ thẩm ông Chinh đã thừa nhận vị trí ruộng mà ông Tám chỉ đã được cơ quan đo
đạc là đúng vị trí ruộng ông mua của ông Tám. Tuy ông Tám không cung cấp được
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp Ủy ban nhân dân huyện Việt Yên
cấp cho gia đình ông năm 1999 do ông Tám không còn lưu giữ được để phủ nhận
quyền sử dụng đất của ông Tám đối với thửa ruộng số 334, tờ bản đồ số 10, diện
tích 567m
2
. Vì ngay cả Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Việt Yên là cơ
quan nhà nước lưu giữ hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ mà còn không cung cấp được,
nhưng ông Tám đã cung cấp được trang 81 của sổ quản lý địa chính xã, ngày vào
sổ 25/6/1999 ghi chủ sử dụng là ông Giáp Văn Tám vợ là Nguyễn Thị Cởn và gồm
10 thửa ruộng, trong đó có thửa số 334, diện tích 576m
2
và trích lục tờ bản đồ số
10 cũng ghi là thửa số 334, diện tích 576m
2
đó là căn cứ chứng minh gia đình ông
Tám đã sử dụng đất 334 từ trước khi ông Chinh sử dụng. Mặt khác, về mặt pháp lý
7
đến nay không có một quyết định nào của cơ quan có thẩm quyền thu hồi của gia
đình ông Tám thửa đất trên. Phía ông Chinh không đưa được tài liệu có giá trị pháp
lý chứng minh ông Chinh đã mua ruộng của ông Tám và con trai ông Tám. Do
vậy, đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của ông Tám. Sửa bản án sơ thẩm buộc ông
Chinh phải trả lại thửa đất trên cho ông Tám.
* Bị đơn là ông Hà Chuẩn Chinh trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của ông Tám vì thửa đất trên ông đã mua của ông Tám và anh Triệu, ông
Tám cho rằng cho ông mượn ruộng để canh tác là không có căn cứ. Ông Tám đã
đồng ý chuyển nhượng cho ông theo các biên bản họp thôn và các giấy biên nhận,
theo chính sách dồn điền đổi thửa của nhà nước. Tại phiên tòa ông nộp bản gốc của
Giấy biên nhận ông Tám nhận tiền ngày 16/01/2004; Biên bản họp thôn nhưng ông
không yêu cầu giám định. Ông thừa nhận đã nhận của ông 4.000.000đồng, ông
Tám cho rằng đó là tiền thầu đất là không có căn cứ. Ông không chỉ mua đất của
ông Tám mà ông còn mua của 15 hộ dân, khi ông mua thì mua theo diện đầu thầu
qua thôn chứ không mua trực tiếp của ông Tám.
Ngày 14/7/2020, Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa để xác minh thu
thập thêm tài liệu chứng cứ, tại biên bản xác minh ngày 28/7/2020 đối với ông
Đặng Văn Nghị, cán bộ địa chính xã Việt Tiến và ông Giáp Văn Liền, nguyên
trưởng thôn 6 giai đoạn 2002-2006, về nội dung thửa số 334, tờ bản đồ số 10 khu
Đồng Hối, thôn 6, xã Việt Tiến, Việt Yên, Bắc Giang và thửa số 603, tờ bản đồ số
6 khu Ao Đẽn, thôn 6, Việt Tiến có phải là 01 thửa không?
- Ông Liền cung cấp: Giai đoạn 2002-2006 ông giữ chức vụ trưởng thôn 6,
xã Việt Tiến, Việt Yên, Bắc Giang nay là thôn Kép xã Việt Tiến. Nhà ông Giáp
Văn Tám có 01 thửa ruộng theo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1:1000 thì số thửa nhà ông
Tám là thửa 334 diện tích 572m
2
ở xứ Đồng Hối. Đến năm 2004, thực hiện chủ
trương dồn điền đổi thửa. Do đặc điểm của xứ Đồng Hối nên việc dồn điền đổi
thửa không thành. Quá trình thực hiện việc dồn điển đổi thửa thì lấy tờ bản đồ số 6
tỷ lệ 1: 2000 để làm cơ sở thực hiện việc dồn điền đổi thửa thì thửa ruộng nhà ông
Tám là thửa số 603, tờ bản đổ số 6, xứ đồng Ao Đẽn. Do vậy, thực chất thửa số
334 tờ bản đồ số 10, xứ Đồng Hối và thửa số 603 tờ bản đồ số 6 xứ đồng Ao Đẽn
vẫn là 01 thửa của gia đình ông Giáp Văn Tám.
- Ông Nghị cung cấp: Thửa số 334, tờ bản đồ số 10 xứ Đồng Hối ở thôn 6,
xã Việt Tiến và thửa số 603, tờ bản dồ số 6 xứ đồng Ao Đẽn thuộc thôn 6 thực chất
chỉ là 01 thửa của gia đình ông Giáp Văn Tám đã được đăng ký cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất còn thửa 603, tờ bản đồ số 6 là khi thực hiện dồn điền đổi
thửa thì thôn 6 lấy thửa số 603, tờ bản đồ số 6, tỷ lệ 1: 2000 để thực hiện việc dồn
điền đổi thửa cho hộ ông Tám. Do vậy, gia đình ông Tám chỉ có một thửa ruộng
theo tờ bản đồ số 10 là thửa 334 còn theo tờ bản đồ số 6 là thửa 603.
Ông Tám không có ý kiến gì về kết quả xác minh thu thập chứng cứ.
Tại phiên tòa ngày 06/8/2020, Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để giám
định chữ viết và chữ ký của ông Giáp Văn Tám trong biên bản họp thôn và biên
nhận ngày 16/01/2004, theo yêu cầu giám định của ông Tám. Tại Công văn số
8
1247/KTHS ngày 04/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang
đã xác định: Công an tỉnh Bắc Giang không kết luận chữ kỹ, chữ viết “Tám”,
“Giáp Văn Tám” trên các tài liệu cần giám định do tài liệu mẫu so sánh không đảm
bảo yêu tố giám định.
Ông Tám đề nghị giám định đến cơ quan giám định cấp trên.
Ngày 20/11/2020, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã ra Quyết định số
07/2020/QĐ-PT ngày 20/11/2020 Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
dân sự để chờ kết quả giám định của Viện khoa học hình sự Bộ công an.
Tại kết luận giám định số 343/C09-P5 ngày 08/01/2021 của Viện khoa học
hình sự Bộ công an đã kết luận:
- Các chữ “giáp Văn Tám” dưới mục “CHỦ HỘ NHẬN ĐỦ TIỀN” trên
mẫu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ viết trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1
đến M4 không phải do cùng một người viết ra.
- Không đủ cơ sở kết luật chữ “tám” tại cột “Chủ Hộ ký”, số thứ tự 16 trên
mẫu cần giám đình ký hiệu A2 so với chữ viết trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1
đến M4 có phải do cùng một người viết ra hay không.
- Căn cứ Điều 11 và Điều 24 Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13,
Viện Khoa học hình sự từ chối giám định chữ viết, chữ ký trên mẫu cần giám định
ký hiệu A3,A4 do mẫu cần giám định là bản sao nên không có giá trị để kết luận
giám định.
Ngày 24/02/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang có Quyết định số
02/2021/QĐ-PT Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.
Tại phiên tòa ngày 01/4/2021 ông Tám và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho ông Tám vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu buộc ông Chinh phải trả cho
ông diện tích 360m
2
đất nông nghiệp.
Ông Hà Chuẩn Chinh giữ nguyên quan điểm không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện và yêu cầu kháng cáo của ông Tám.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được
đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Giáp
Văn Tám, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Giáp Văn Tám về việc buộc ông Hà Chuẩn Chinh phải trả cho ông diện tích 360m
2
đất nông nghiệp tại thửa số 334, tờ bản đồ số 10, xứ đồng Hối, xã Việt Tiế, huyện
Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Do ông Tám là người cao tuổi nên ông Tám được miễn án phí dân sự phúc
thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
9
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên Toà. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị
Cận vắng mặt nhưng ủy quyền cho ông Tám, bà Đặng Thị Hồi, chị Dương Thị
Xoan, Ủy ban nhân dân xã Việt Tiến, Ủy ban nhân dân huyện Việt Yên. Người
làm chứng là ông Giáp Văn Liền, ông Đoàn Thanh Tĩnh, ông Giáp Văn Triệu đã
được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt . Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296
Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét kháng cáo của ông Giáp Văn Tám đề nghị xem xét lại toàn bộ bản
án sơ thẩm vì bản án xét xử không công bằng đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông buộc ông Hà Chuẩn Chinh phải trả cho ông diện tích đất 360m
2
. Hội đồng
xét xử nhận thấy:
Tại các biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông Giáp Văn
Tám xác định gia đình ông có thửa đất số 334, tờ bản đồ số 10, diện tích 576m2
trong đó có 360m2 tại xứ đồng Hối, ông đã cho ông Chinh thầu 10 năm, thu tiền
thầu là 4.000.000 đồng. Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ruộng ông không
còn giữ được đến nay ông chỉ cung cấp được tờ khai địa chính. Ông cũng không
cung cấp được hồ sơ, tài liệu chứng minh việc ông thoả thuận chỉ cho ông Chinh
thuê đất của mình trong thời hạn 10 năm và hết thời hạn trên ông Chinh phải trả lại
ruộng cho ông để canh tác, sản xuất. Ông xác định cho ông Chinh thầu đất ruộng
của ông bằng miệng, không có văn bản, giấy tờ hay hợp đồng và cũng không có ai
chứng kiến, ông đã nhận của ông Chinh 4.000.000đồng tiền thầu đất. Bản thân ông
Chinh không thừa nhận việc thuê đất của ông Tám. Và theo quyết định thu hồi đất
số 895 ngày 02/7/2003 của UBND huyện Việt Yên kèm theo bảng thống kê diện
tích đất thì gia đình ông Tám đã bị thu hồi một phần diện tích đất nông nghiệp tại
thửa số 334, tờ bản đồ số 10. Do vậy, việc ông Tám cho rằng ông cho ông Chinh
thầu 360m
2
là không có căn cứ.
Quá trình Tòa án cấp sơ thẩm xem xét thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất
ruộng mà ông Tám đang khởi kiện đối với ông Chinh thì thấy thửa ruộng của gia
đình ông Tám có tổng diện tích là 576m2, theo ông Tám trình bầy thì ông Tám đã
ngăn thành 2 thửa, một thửa có diện tích 360m
2
ông Tám khai cho ông Chinh thầu
còn thửa 216m
2
ông đã bán cho người khác. Hiện nay, toàn bộ diện tích đất trên đã
được san lấp lẫn so với diện tích đất của những hộ xung quanh nên không thể xác
định chính xác mốc giới như ban đầu. Bản thân ông Tám không xác định được
chính xác vị trí đất mà ông đang khởi kiện, ông xác định vị trí ông chỉ cho cơ quan
chuyên môn tiến hành đo đạc không chính xác 100% mà chỉ được 70%-80% còn
ông Chinh đề nghị Toà án giải quyết theo vị trí ông Tám đã chỉ chứ ông không xác
định được vị trí nên chưa đủ căn cứ để xác định phần diện tích đất theo như ông
10
Tám chỉ là phần diện tích đất thuộc quyền sở hữu của ông Tám và đã được ông cho
ông Chinh thầu.
[2.2]. Hơn nữa, qua kết quả đo đạc theo vị trí ông Tám chỉ thì có một phần
diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Chuẩn
Chinh năm 2004 và ông Chinh chuyển nhượng sang cho chị Xoan năm 2010 và
một phần diện tích đất thuộc hành lang đường điện cao thế mà ông Chinh vẫn quản
lý, sử dụng ổn định từ năm 2003 cho đến nay. Toàn bộ phần diện tích đất này được
UBND huyện Việt Yên thu hồi theo quyết định 895 ngày 02/7/2003 và giao đất ở
cho nhân dân xã Việt Tiến theo quyết định 908/QĐ-CT ngày 14/7/2003. Phần diện
tích đất ông Tám khởi kiện ông Chinh đã bị Nhà nước thu hồi và đền bù, giải
phóng mặt bằng, chuyển mục đích sử dụng đất. Ủy ban nhân dân xã cũng khẳng
định thửa đất số 334, tờ bản đồ số 10 ở xứ Đồng Hối và thửa số 603, tờ bản đồ số 6
xứ Đồng Ao Đẽn thuộc thôn 6 thực chất chỉ là 01 thửa.
Ông Chinh xác định ông Tám đã bán đất cho ông và đã nhận đủ tiền theo giấy
biên nhận ngày 16/01/2004 và Biên bản họp nhóm hộ có ruộng chuyển đổi thôn
Kép, nhưng tại cấp sơ thẩm ông Chinh không cung cấp bản gốc, ông Tám cho rằng
ông không ký vào biên bản nhưng ông không đề nghị giám định. Do vậy, với các
tài liệu chứng cứ trên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông Tám là có căn cứ.
[2.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Tám cũng khẳng định gia đình ông có
567m
2
, một phần 360m
2
cho ông Chinh thầu, còn một phần ông bán cho người
khác. Ông Chinh cho rằng đã nhận chuyển nhượng đất của ông Tám và nộp cho
Hội đồng xét xử giấy biên nhận tiền (bản gốc) và biên bản họp ngày 05/01/2004,
ông Tám đề nghị giám định chữ ký của ông trong giấy biên nhận và biên bản họp.
Tại Công văn số 1247/KTHS ngày 04/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an
tỉnh Bắc Giang đã xác định: Công an tỉnh Bắc Giang không kết luận chữ kỹ, chữ
viết “Tám”, “ Giáp Văn Tám” trên các tài liệu cần giám định do tài liệu mẫu so
sánh không đảm bảo yêu tố giám định.
Ông Tám đề nghị giám định đến cơ quan giám định cấp trên.
Tại kết luận giám định số 343/C09-P5 ngày 08/01/2021 của Viện khoa học
hình sự Bộ công an đã kết luận:
- Các chữ “giáp Văn Tám” dưới mục “CHỦ HỘ NHẬN ĐỦ TIỀN” trên
mẫu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ viết trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1
đến M4 không phải do cùng một người viết ra.
- Không đủ cơ sở kết luận chữ “tám” tại cột “Chủ Hộ ký”, số thứ tự 16 trên
mẫu cần giám đình ký hiệu A2 so với chữ viết trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1
đến M4 có phải do cùng một người viết ra hay không.
- Căn cứ Điều 11 và Điều 24 Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13, ký
hiệu A3,A4 do mẫu cần giám định là bản sao nên không có giá trị để kết luận giám
định.
Mặc dù, kết quả giám định không phải chữ ký của ông Tám trong giấy biên
nhận ngày 16/01/2004 nhưng ông Liền xác nhận việc ông Chinh đền bù đất cho
11
các hộ dân, trong đó có việc đền bù cho gia đình ông Tám thông qua thôn. Ông
Tám thừa nhận có việc nhận 4.000.000đồng tiền thầu ruộng của ông Chinh, nên có
phải chữ ký của ông Tám trong giấy nhận tiền hay không? không có ý nghĩa chứng
minh ông Tám không chuyển nhượng đất cho ông Chinh. Ông Tám không đưa ra
được chứng cứ về việc cho ông Chinh thầu diện tích 360m
2
. Mặt khác, khi ông
Chinh san lấp, xây dựng cơ sở hạ tầng trên đất và chuyển nhượng một phần đất cho
người khác, ông Tám biết nhưng không phải đối và các tài liệu có trong hồ sơ thể
hiện có việc ông Tám giao ruộng trên thực địa tại biên bản ngày 15/6/2004. Do
vậy, việc ông Tám khởi kiện yêu cầu ông Chinh trả ông Tám 360m2 tại thửa số
334, tờ bản đồ số 10, khu đồng Hối, thôn 6, xã Việt Tiến theo vị trí ông Tám đã
xác định là không có căn cứ chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông Tám là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Tám
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới. Do vậy, không có căn cứ để chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của ông Tám.
[2.4]. Đối với việc ông Tám yêu cầu ông Chinh phải bồi thường cho ông
25.000.000đồng tiền hoa màu, 30.000.000đồng tiền tân tạo đất và chi phí phương
tiện, tổng cộng là 70.000.000đồng nhưng ông Tám không cung cấp được tài liệu
chứng cứ và do yêu cầu của ông phát sinh sau khi tòa án đã tiến hành mở phiên
họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Hội đồng xét xử không
có căn cứ xem xét những yêu cầu này của ông Tám.
[2.5]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản1 Điều 308, Bộ
luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Tám. Giữ
nguyên bản án sơ.
[3]. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tám được miễn án phí dân sự phúc thẩm
theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Về chi phí giám định chữ ký tại cấp phúc thẩm: Ông Tám đã nộp
7.000.000đồng chi phí giám định chữ ký. Do yêu cầu kháng cáo của ông Tám
không được chấp nhận nên ông Tám phải chịu cả số tiền giám định nêu trên.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Giáp Văn Tám. Giữ nguyên bản án sơ
thẩm. Xử:
- Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227;
Điều 228; khoản 1 Điều 147; Điều 165; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự
2015. Các Điều 714, 716 BLDS 1995; Điều 155 BLDS 2015. Các Điều 2, 3, 4, 20,
12
42, 73, 79, 127 Luật đất đai 1993. Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án năm 2009. Điều
12; Điều 48 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Giáp Văn Tám về việc yêu
cầu ông Hà Chuẩn Chinh phải trả ông Tám 360m
2
tại thửa số 334, tờ bản đồ số 10,
khu Đồng Hối, thôn 6, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
2. Án phí:
- Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Giáp Văn Tám.
3. Về chi phí giám định chữ ký tại cấp phúc thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn
Tám phải chịu 7.000.000đồng chi phí giám định chữ ký. Xác nhận ông Tám đã nộp
đủ tiền giám định chi phí giám định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND huyện Việt Yên;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- - Chi cục THADS huyện Việt Yên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Trần Thị Hà
- Công thông tin điện tử của TANDTC.
13
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Văn Quyết Phạm Thị Minh Hiền Trần Thị Hà
14
15
16
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 21/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 02/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm