Bản án số 795/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 795/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 795/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 795/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc bà Nguyễn Kiều M hoàn trả số tiền vay gốc là 50.000.000 đồng. Trả tiền lãi từ ngày vay là ngày 13/02/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm là 112 tháng, tính theo lãi suất quy định là 10%/năm, tương đương 0.83%/tháng. Tổng số tiền lãi là 46.480.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 96.646.000 đồng, làm tròn là 96.600.000 đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 795/2026/DS-PT Bản án số 795/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 795/2026/DS-PT Bản án số 795/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 795/2026/DS-PT
Ngày: 29 - 9 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Anh Tuấn
Bà Giang Thị Cẩm Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thủy Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông
Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 436/2026/TLPT-DS ngày 03
tháng 8 năm 2026 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 189/2026/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 602/2026/QĐ-PT ngày
10 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Ngọc B, sinh ngày: 03/09/1970 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 04/04/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Cư trú tại: Số B, đường K, khóm A,
phường H, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của ông B: Ông Nguyễn Toàn T, sinh ngày:
30/04/1985; Căn cước số: ************; cấp ngày: 09/05/2025; nơi cấp: Bộ C;
Cư trú tại: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 27/11/2025)
(có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Kiều M, sinh ngày 20/08/1982 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 10/08/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cư trú tại: Nhà không số, đường K, khóm H, phường H, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Trần Hoàng B1, sinh ngày:
01/01/1981; Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 28/09/2021; nơi cấp:
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Cư trú tại: Ấp T, xã T, tỉnh Cà
2
Mau (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/5/2026) (vắng mặt).
- Người kháng cáo:
Ông Huỳnh Ngọc B là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa đại
diện nguyên đơn ông Nguyễn Toàn T trình bày:
Vào ngày 16 tháng 12 năm 2016 âm lịch nhằm ngày 13 tháng 01 năm 2017
dương lịch, ông Huỳnh Ngọc B có cho bà Nguyễn Kiều M vay 50.000.000 đồng,
có viết “giấy vay tiền” vào ngày 16/12/2016, không có thỏa thuận lãi trong giấy
vay tiền là bao nhiêu nhưng theo thông lệ là mỗi tháng ngầm hiểu trả lãi 04%, cho
bà M chủ động trong việc trả nợ. Hai bên đã ký vào “giấy vay tiền” và ông B đã
giao đủ 50.000.000 đồng cho bà M.
Ông B nhiều lần yêu cầu bà M trả nợ nhưng bà M không trả. Nay ông B yêu
cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc bà Nguyễn Kiều M hoàn trả số tiền vay gốc là
50.000.000 đồng. Trả tiền lãi từ ngày vay là ngày 13/02/2017 đến ngày xét xử sơ
thẩm là 112 tháng, tính theo lãi suất quy định là 10%/năm, tương đương
0.83%/tháng. Tổng số tiền lãi là 46.480.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là
96.646.000 đồng, làm tròn là 96.600.000 đồng.
Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa đại diện
theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Hoàng B1 trình bày:
Bà M không có vay tiền của ông Huỳnh Ngọc B, cũng không có viết biên
nhận vay tiền như đại diện nguyên đơn trình bày, bà M không có quen với ai tên
Huỳnh Ngọc B. Bà M không biết chữ nên chữ ký chữ viết trong giấy nhận tiền là
không phải chữ ký, chữ viết của bà M. Do đó, bà M không đồng ý yêu cầu của
nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 189/2026/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, đã quyết định (tóm tắt):
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh
Ngọc B về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Kiều M trả số tiền vay tổng cộng vốn và
lãi là 96.600.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 09 tháng 7 năm 2026 ông Huỳnh Ngọc B là nguyên đơn kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm số 189/2026/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận tòan bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Ngọc B giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ kết quả giám định, chấp nhận kháng cáo của
3
ông B, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, buộc bà
Nguyễn Kiều M trả cho ông B vốn vay 50.000.000 đồng, lãi 46.480.000 đồng, tổng
là 96.480.000 đồng.
Trước khi mở phiên tòa, ông Trần Hoàng B1 là đại diện theo ủy quyền của
bà Nguyễn Kiều M điện thoại báo với Thư ký tòa là ông bị chóng mặt, đang cấp
cứu trong bệnh viện Q - Dân y tỉnh Cà Mau nên xin hoãn phiên tòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Ngọc B, sửa bản án dân sự sơ
thẩm số 189/2026/DS-ST ngày 25/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà
Mau theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà
Nguyễn Kiều M trả cho ông Huỳnh Ngọc B tổng số tiền 96.480.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Huỳnh Ngọc B là nguyên đơn nộp trong thời
hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và
thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo quy
định pháp luật.
[2] Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Trần Hoàng B1 đã được Tòa
án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Ông B1 điện thoại báo với Thư ký
là đang cấp cứu tại Bệnh viện Quân - Dân y tỉnh C và xin hoãn phiên tòa. Kết quả
xác minh và Giấy xác nhận điều trị ngoại trú thể hiện ông B1 đến khám lúc 13 giờ
57 phút ngày 29/9/2026 vì mệt, nặng ngực, được điều trị triệu chứng và về trong
ngày, không nhập viện; không có nội dung xác nhận ông B1 được cấp cứu hoặc
không thể tham gia phiên tòa. Do đó, chưa có căn cứ xác định ông B1 vắng mặt vì
sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Bị đơn là người không kháng cáo
và hồ sơ đã có lời trình bày, tài liệu, chứng cứ của bị đơn. Căn cứ khoản 3 Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu hoãn và
tiến hành xét xử vắng mặt đại diện của bị đơn.
[3] Xét các yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Ngọc B Hội đồng xét xử thấy
rằng:
Ông B xác định ngày 16/12/2016 âm lịch, nhằm ngày 13/01/2017 dương
lịch, ông cho bà M vay 50.000.000 đồng, có lập “Giấy vay tiền”; chữ ký “M” tại
mục “Bên B” do bà M ký. Bà M không thừa nhận việc vay tiền, cho rằng không
quen biết ông B, không biết chữ và chữ “M” trên giấy vay không phải do bà thực
hiện.
4
[4] Tại cấp phúc thẩm, ông B cung cấp bản chính các tài liệu có chữ ký của
bà M. Trong đó, hai “Hợp đồng vay tiền” ngày 10/10/2020 âm lịch, nhằm ngày
24/11/2020 dương lịch, là tài liệu do bà M cung cấp trong vụ án tranh chấp hợp
đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thụ lý số
274/2023/TLST-DS ngày 29/5/2023 giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Kiều M, bị
đơn là ông Ngô Văn M1 và bà Trần Thị N. Tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án nêu
trên, người đại diện theo ủy quyền của bà M xác định đúng là chữ ký của bà M
(bút lục 223, 224 biên bản phiên tòa ngày 05/5/2025). Sự thừa nhận này không
vượt quá phạm vi đại diện nên được xem là sự thừa nhận của bà M theo khoản 2
Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, có căn cứ sử dụng các chữ ký này làm
mẫu so sánh.
Ngoài ra, ông B còn cung cấp thêm “Hợp đồng vay tài sản” được Văn phòng
công chứng Đất Mũi tỉnh C công chứng số 1727, quyển số 01/2023 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 29/3/2023. Đối với chữ “M” trên Hợp đồng vay tài sản được
công chứng ngày 29/3/2023, tại Công văn số 319/CV-CCĐM ngày 24/08/2026,
Văn phòng C, tỉnh Cà Mau xác định bà M trực tiếp viết và điểm chỉ trước mặt công
chứng viên, không có người cầm tay hoặc hỗ trợ. Do đó, tài liệu này có nguồn gốc
rõ ràng và có căn cứ xác định chữ “M” do bà M thực hiện.
Các mẫu so sánh đều là bản chính, có nguồn gốc và người thực hiện được
xác định bằng chứng cứ độc lập trước khi trưng cầu giám định. Vì vậy, việc sử
dụng các chữ ký này để giám định chữ ký “M” trên Giấy vay tiền ngày 16/12/2016
là khách quan, phù hợp.
[5] Tại Kết luận giám định số 1081/KL-KTHS ngày 24/9/2026, Phòng K
Công an tỉnh C kết luận:
Chữ ký mang tên Nguyễn Kiều M trên “Giấy vay tiền” đề ngày 16/12/2016
âm lịch, ký hiệu A1, với chữ ký trên hai “Hợp đồng vay tiền” ký hiệu M1, M2 và
chữ ký mang tên Nguyễn Kiều M trên “Hợp đồng vay tài sản” ký hiệu M3 do cùng
một người ký ra;
Chữ ký tại cột “Số tháng góp” trên hai “Giấy nhận tiền hàng tháng” ký hiệu
A2, A3 với các chữ ký trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 cũng do cùng
một người ký ra.
Kết luận giám định được thực hiện trên các tài liệu bản chính, bằng các mẫu
so sánh có nguồn gốc và người thực hiện đã được xác định nên có giá trị chứng
minh. Bà M không cung cấp được chứng cứ làm thay đổi kết luận này.
[6] Như vậy, có căn cứ xác định chữ ký “M” tại mục “Bên B” trên Giấy vay
tiền ngày 16/12/2016 âm lịch do bà Nguyễn Kiều M ký. Giấy vay thể hiện bà M
vay ông B 50.000.000 đồng; các giấy nhận tiền hàng tháng có chữ ký của bà M còn
chứng minh giữa hai bên có giao dịch liên quan đến khoản vay. Do đó, lời trình
bày của bà M về việc không quen biết ông B, không vay tiền và không ký giấy vay
không phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ.
Bà M không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã hoàn trả số tiền vay
nên có nghĩa vụ trả cho ông B số tiền gốc 50.000.000 đồng.
5
[7] Đối với tiền lãi, giấy vay không ghi cụ thể mức lãi suất. Ông B trình bày
hai bên có thỏa thuận trả lãi hàng tháng nhưng không xác định được mức lãi suất
đã thỏa thuận và chỉ yêu cầu tính theo mức 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng.
Mức lãi suất này phù hợp khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Từ ngày 13/02/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm là 112 tháng, tiền lãi theo yêu
cầu của ông B được xác định:
50.000.000 đồng × 0,83%/tháng × 112 tháng = 46.480.000 đồng.
Tổng cộng bà M phải trả cho ông B 96.480.000 đồng, gồm 50.000.000 đồng
tiền gốc và 46.480.000 đồng tiền lãi.
[8] Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện vì tại thời điểm xét xử chưa
thu thập được bản chính tài liệu có chữ ký của bà M để làm mẫu so sánh. Tại cấp
phúc thẩm, các tài liệu mẫu đã được nguyên đơn bổ sung và kết luận giám định xác
định chữ ký trên giấy vay là của bà M. Chứng cứ mới làm thay đổi căn cứ giải
quyết vụ án. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông B, sửa bản án sơ thẩm.
[9] Xét yêu cầu giám định lại của bà Nguyễn Kiều M: Kết luận giám định số
1081/KL-KTHS ngày 24/9/2026 được thực hiện trên bản chính tài liệu cần giám
định và các mẫu so sánh có nguồn gốc rõ ràng; phương pháp giám định và kết luận
đã trả lời đầy đủ nội dung trưng cầu.
Bà M cho rằng chữ “M” trên giấy vay có thể được đồ lại và giấy vay có
nhiều loại mực nhưng không cung cấp chứng cứ hoặc căn cứ chuyên môn cho thấy
kết luận giám định không chính xác hay việc giám định vi phạm pháp luật. Việc tài
liệu có các loại mực khác nhau, nếu có, không làm thay đổi kết luận về người thực
hiện chữ ký; pháp luật cũng không bắt buộc nội dung giấy vay và chữ ký phải do
cùng một người viết, cùng loại mực hoặc cùng thời điểm.
Do đó, không có căn cứ giám định bổ sung theo khoản 4 hoặc giám định lại
theo khoản 5 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu giám
định lại và yêu cầu hoãn phiên tòa của bà M.
[10] Từ những căn cứ và phân tích trên, cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo
của ông B sửa bản án dân sự sơ thẩm, buộc bà M trả cho ông B tổng số tiền
96.480.000 đồng.
[11] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[12] Về chi phí giám định: Tổng chi phí là 6.220.000 đồng. Kết quả giám
định chứng minh yêu cầu giám định của nguyên đơn có căn cứ nên bà M phải chịu
chi phí giám định. Do ông B đã nộp xong chi phí giám định, nên bà M phải hoàn
trả cho ông B số tiền 6.220.000 đồng. Ông B đã nộp tạm ứng số tiền 7.000.000
đồng, nên được nhận lại 780.000 đồng.
[13] Về án phí dân sự
6
Án phí sơ thẩm: Bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với
nghĩa vụ 96.480.000 đồng, bằng 4.824.000 đồng.
Ông B không phải chịu.
Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông B không phải
chịu.
[14] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và các Điều 147,
148, 161 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 463, 466, 468 và 469 Bộ luật Dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Ngọc B.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 189/2026/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Ngọc B.
Buộc bà Nguyễn Kiều M trả cho ông Huỳnh Ngọc B tổng số tiền 96.480.000
đồng (Chín mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó:
Tiền gốc: 50.000.000 đồng.
Tiền lãi: 46.480.000 đồng.
Kể từ ngày ông Huỳnh Ngọc B có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành xong, bà Nguyễn Kiều M còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về chi phí giám định:
Bà Nguyễn Kiều M phải chịu 6.220.000 đồng chi phí giám định. Do ông B
đã nộp xong nên buộc bà M hoàn trả cho ông B số tiền 6.220.000 đồng. Ông B
được nhận lại số tiền 780.000 đồng.
3. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Kiều M phải chịu 4.824.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch.
Ông Huỳnh Ngọc B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngày
16/12/2025 ông B đã nộp 2.343.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo Biên lai thu số
7
0006441, của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được đối trừ, ông B được nhận lại
2.043.000 đồng.
- Án phí phúc thẩm:
Ông Huỳnh Ngọc B không phải chịu. Ngày 15/07/2026 ông B đã nộp
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu số 0000745, của Thi
hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Bùi Anh Tuấn Giang Thị Cẩm Thúy
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
9
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 795/2026/DS-PT Bản án số 795/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 795/2026/DS-PT Bản án số 795/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất