Bản án số 804/2026/DS-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng gia công

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 804/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 804/2026/DS-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng gia công
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng gia công
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 804/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Văn N yêu cầu Trần Văn Ph trả lại đất lấn chiếm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 804/2026/DS-PT Bản án số 804/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 804/2026/DS-PT Bản án số 804/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 804/2026/DS-PT
Ngày 30 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng và
tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam
Các Thẩm phán: Bà Đinh Cẩm Đào
Ông Đặng Minh Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ
Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 550/2026/TLPT-DS ngày 27 tháng 8
năm 2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 408/2026/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau bị kháng cáo.
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1956 (có mặt)
Căn cước công dân: ************, cấp ngày 14/8/2021
Địa chỉ: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn N: Ông Nguyễn Hải
D - Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có
mặt).
- Bị đơn:
1/ Ông Trần Văn P, sinh năm 1957 (có mặt);
2/ Bà Chà Thị M, sinh năm 1959 (xin vắng mặt);
3/ Ông Trần Văn P1, sinh năm 1955.
Căn cước công dân: ************, cấp ngày 14/8/2021
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Văn P1: Ông Trần Văn H, sinh năm
1979 (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 30/6/2026, có mặt).
2
Địa chỉ: Ấp A, xã C, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ngân hàng N4, chi nhánh P4 - Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Kiều O – Phó giám đốc Ngân hàng N4 –
Chi nhánh P4, Cà Mau (xin vắng mặt). Theo quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-
NHNo-PC ngày 01/12/2022 và Quyết định số 1782/QĐ-NHNo-TCNS ngày
26/6/2025 của Ngân hàng N4.
Địa chỉ: Ấp H, xã C, tỉnh Cà Mau.
2/ Bà Trương Thị H1, sinh năm 1956 (vắng mặt);
3/ Bà Nguyễn Thị P2, sinh năm 1957 (xin vắng mặt);
4/ Ông Trần Văn T, sinh năm 1986 (xin vắng mặt);
5/ Bà Nguyễn Kiều H2, sinh năm 1990 (vắng mặt)
6/ Cháu Trần Nguyễn Thiện N1, sinh năm 2015;
7. Cháu Trần Nguyễn Hiếu N2, sinh năm 2019;
Người đại diện hợp pháp của Trần Nguyễn Thiện N1, Trần Nguyễn Hiếu N2:
Ông Trần Văn T, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).
8/ Ông Trần Văn Q, sinh năm 1950 (xin vắng mặt);
9/ Bà Đỗ Thị N3, sinh năm 1951 (xin vắng mặt);
10/ Bà Trần Thị P3, sinh năm 1956 (xin vắng mặt);
11/ Ông Lê Văn Ơ (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
12/ Ông Lê Văn Đ (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp L, xã L, tỉnh An Giang.
13/ Ông Trần Văn T1, sinh năm 1944 (xin vắng mặt);
14/ Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1945 (xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã C, tỉnh Cà Mau
Người kháng cáo: Ông Trần Văn N là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2022, ông Trần Văn N trình bày: Ông có phần
đất diện tích 24.750m
2
tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau, được Ủy ban
nhân dân huyện C (nay là xã P, tỉnh Cà Mau) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất vào ngày 29/7/1996 thửa đất 780, 779 tờ bản đồ số 10C. Tháng 5 năm 2019 xảy
ra tranh chấp đất do ông Trần Văn P1 và bà Chà Thị M đưa xáng cuốc vào cải tạo
vuông, ông P1 đổ đất tràn qua bờ ranh đất ông chiều ngang 1,5m, chiều dài từ mặt
tiền đến mặt hậu, diện tích khoảng 300m
2
. Ông có yêu cầu ông P1 khắc phục trả lại
3
hiện trạng đất ban đầu nhưng ông P1 không đồng ý. Nay ông yêu cầu ông Trần Văn
P1 và bà Chà Thị M trả lại diện tích đất lấn chiếm 300m
2
, theo đo đạc thực tế tại
thửa số 8, 10 và 12 là 240,1m
2
tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là
ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau), buộc vợ chồng ông P1 khắc phục hậu quả trả lại nguyên
trạng phần đất cho ông.
Theo đơn khởi kiện ngày 15/10/2024, ông Trần Văn N trình bày: Năm 1990,
ông có nhận chuyển nhượng phần đất của ông Trần Văn T1 tại ấp C, xã T, huyện P,
tỉnh Cà Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau) vị trí từ mé sông lên giáp ranh đất ông
Trần Văn P1, Trần Văn P và ông N, diện tích bao nhiêu ông không biết, khi chuyển
nhượng chỉ nói miệng, không làm văn bản, giá chuyển nhượng 1,5 chỉ vàng 24k.
Ngày 20/10/2018 ông Trần Văn T1 và ông làm lại giấy sang nhượng do ông viết
toàn bộ nội dung, có ông T1 ký tên. Phần đất ông nhận chuyển nhượng của ông T1
đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, theo mục kê 2018 diện
tích 902,7m
2
. Cùng năm 1990, ông chuyển nhượng cho ông Trần Văn P1 diện tích
khoảng 450m
2
trong diện tích đất ông đã nhận chuyển nhượng của ông T1 với giá
05 phân vàng 24k, khi chuyển nhượng chỉ nói miệng, sau khi nhận chuyển nhượng
ông P1 đã cất nhà sinh sống trên đất đến nay không trả đủ vàng cho ông. Theo đơn
khởi kiện, ông yêu cầu không công nhận thỏa thuận việc chuyển nhượng đất giữa
ông và ông P1, bà M, buộc ông P1 và bà M tháo dở nhà và công trình trên đất trả
cho ông 450m
2
đất. Tại phiên tòa, ông yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông và ông P1, bà M, buộc ông P1 và bà M tháo dở nhà và công
trình trên đất trả diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa 11, 12, 14, 21 là
543,8m
2
.
Theo đơn khởi kiện ngày 25/10/2022, ông Trần Văn N trình bày: Phần đất
24.750m
2
của ông, ngoài cặp ranh là đất ông P1 còn cặp ranh đất với ông Trần Văn
P, ranh đất giữa ông và ông P hiện trạng là con mương và nửa cái bờ. Tuy nhiên,
đến năm 2022 thì ông Trần Văn P tự ý cặm ranh cho xáng múc đổ đất lên bờ với
chiều ngang 05m, dài 350m, diện tích 1.750m
2
. Khi Tòa án và cơ quan đo đạc tiến
hành đo đạc thì ông N và ông P xác định vị trí ranh thống nhất với nhau, ông N cho
rằng ranh ông xác định là đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích
1.750m
2
tranh chấp là nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N,
nên ông không chỉ vị trí để đo vì nếu đo thêm 1.750m
2
thì sẽ dư so với giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông. Nay ông yêu cầu ông Trần Văn P trả
1.750m
2
đất lấn chiếm.
Theo đơn khởi kiện ngày 15/10/2024, ông Trần Văn N trình bày: Sau khi ông
khởi kiện ông Trần Văn P về việc tranh chấp ranh đất thì phát sinh thêm phần đất
tranh chấp mặt tiền có diện tích khoảng 200m
2
, phần đất có vị trí tiếp giáp lộ bê tông
của đất ông P tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau).
Nguồn gốc đất là do ông nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn T1 vào năm 1990
(có giấy xác nhận của ông T1), do đây là phần đất liền kề với trước phần đất mặt
tiền của ông P nên ông cho ông P quản lý, sử dụng để đặt cống xổ vuông để nuôi
tôm, do ông và ông P có quan hệ bà con nên ông vẫn để ông P sử dụng cho đến nay.
4
Theo đơn khởi kiện ông yêu cầu ông P trả 200m
2
, nay ông thay đổi yêu cầu khởi
kiện, yêu cầu ông P trả diện tích đất theo đo đạc tại thửa số 20 là 175,7m
2
.
Hiện phần đất 24.750m
2
của ông đã thế chấp vay vốn tại Ngân hàng N4 - chi
nhánh huyện P4 vào năm 2015 số tiền gốc 340.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Hải D trình bày: Quá trình quản lý, sử dụng đất đối chiếu hồ sơ
địa chính năm 2006 thì phần diện tích đất có sự thay đổi cụ thể tại bút lục số 140:
Phần đất của ông P gồm thửa đất số 145 và 146 tờ bản đồ số 8, tổng diện tích
21.572,5m
2
(tăng diện tích 1.582,5m
2
so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất);
diện tích đất của ông N gồm các thửa 147 và 148, tờ bản đồ số 8, tổng diện tích
24.534,5m
2
(giảm 215,5m
2
so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và phần diện
tích của ông P1 gồm thửa đất số 149, 156, 150 (thửa đất ông Lê Văn M1 quản lý, sử
dụng) và thửa 151 (thửa đất do ông Trần Văn Q quản lý, sử dụng), tổng diện tích
29.916,1m
2
(giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 883,9m
2
).
Quá trình giải quyết vụ án ông N, ông P và ông P1 cùng thừa nhận phần đất
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa bao gồm phần đất của ông Trần
Văn T1 đã chuyển nhượng (phần đất mặt tiền có hình cánh buồm). Tại Bản trích lục
Bản đồ (bút lục số 100a) thì giữa phần đất mà các đương sự được cấp Giấy với tuyến
Kênh lô 1 được ngăn cách bởi 01 bờ đất (bờ đất không nằm trong Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của các đương sự), chứng tỏ lời khai của các đương sự về việc
phần đất mặt tiền hình cánh buồm sang nhượng của ông Trần Văn T1 không nằm
trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các đương sự là có cơ sở.
Đối chiếu bản bản đồ năm 1993 (bút lục 126) với các bản đồ năm 2006, năm
2018 (Bút lục số 136 và 138) có thể thấy diện tích đất ông P1 giảm là do thay đổi về
ranh giới giữa ông P1 với ông T3, hoàn toàn không liên quan gì đến phần đất tranh
chấp với ông N. Phần đất ông N được cấp nằm kẹp giữa phần đất của ông P1 và ông
P và không có mặt tiếp giáp với sông hay kênh rạch nhưng diện tích thực tế quản lý,
sử dụng lại có sự thay đổi (giảm 215,5m
2
so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất), điều này cho thấy có sự lấn chiếm ranh đất từ phía ông P1.
Đối với phần đất tranh chấp với ông Trần Văn P, ông N khai trước đây là con
mương thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông N, nhưng tại thời điểm làm thủ tục để
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì do lo ngại việc tranh chấp, không làm
được giấy nên ông N đã bỏ phần con mương này ra và hiện nay phần diện tích đất
này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cả ông P và ông N.
Tuy nhiên, phần diện tích đất này hiện nay ông P đã chiếm dụng để sử dụng nên
phần đất hiện tại của ông P có sự chênh lệch theo hướng tăng thêm diện tích
1.582,5m
2
so với giấy CNQSDĐ, như vậy ông P đã sử dụng lấn chiếm qua phần đất
đúng như ông N trình bày với diện tích khoảng 1,750m
2
.
Đối với đất tranh chấp giữa ông N và ông P tại thửa số 20 diện tích 175,7m
2
và phần đất tranh chấp với ông P1 tại thửa đất số 11, 12, 14 và 21 diện tích 543,8m
2
;
nguồn gốc phần đất là do ông N nhận chuyển nhượng của ông T1 với giá 05 phân
vàng 24k; ông N đã giao đủ vàng cho ông T1 và ông T1 cũng đã giao đất cho ông
5
N; thời điểm nhận chuyển nhượng do hành vi mua, bán đất bị nghiêm cấm nên các
bên không có lập thành văn bản chỉ thoả thuận miệng, đến ngày 20/10/2018 thì ông
T1 có xác nhận vào “Giấy Sang Nhượng Đất” để xác lập nội dung nêu trên.
Việc sang nhượng đất giữa ông T1 và ông N thực tế có xảy ra vì căn cứ vào
biến động diện tích các thửa đất (bút lục 04) cho thấy phần diện tích đất của ông N
có sự tăng lên 645,8m
2
, nếu lấy phần tăng diện tích này cộng cho phần tranh chấp
với ông P tại thửa đất số 20 và phần tranh chấp với ông P1 tại thửa đất số 11, 12, 14,
21 thì diện tích đất tăng thêm của ông N là 1.365,3m
2
, việc tăng thêm diện tích là do
có sự kê khai thêm phần đất mặt tiền hình cánh buồm đã nhận chuyển nhượng từ
ông T1; giữa bản đồ 1993 (bút lục 119) và bản đồ năm 2018 (bút lục số 138) và trích
lục bản đồ của ông N (bút lục số 100a) cho thấy về hình thể đất của ông N có sự thay
đổi theo hướng hình cánh buồm đúng theo mô tả của các bên, do đó việc tăng thêm
về diện tích đất là có cơ sở và diện tích tăng thêm gần bằng với phần diện tích mà
ông T1 khai đã chuyển nhượng đất cho ông N (1.269m
2
) và phù hợp với lời khai của
ông T1 về vị trí thửa đất chuyển nhượng cho ông N có mặt tiền giáp Kênh Lô 1 và
tiếp giáp với phần đất của ông P1, ông N và ông P. Từ những phân tích nêu trên, căn
cứ vào quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn P1, ông Trần Văn H trình bày:
Ông Trần Văn P1 có phần đất diện tích 30.800m
2
tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà
Mau được Ủy ban nhân dân huyện C (nay là xã P, tỉnh Cà Mau) cấp ngày 06/01/1998
thửa 781, 781, 782 tờ bản đồ 10C. Quá trình sử dụng đã có ranh đất vào năm 1977,
ông P1 và ông N đào bờ và chừa 03m để làm bờ chung, như vậy ranh đất đã được
xác định là bờ chung, mỗi bên 03m. Ông P1 không sên đất đổ đất lên bờ vuông của
ông N, không lấn chiếm đất của ông N nên không đồng ý trả 240,1m
2
theo yêu cầu
khởi kiện của ông N.
Năm 1985, ông P1 nhận chuyển nhượng đất của ông Trần Văn T1, diện tích
tính từ mé sông đến ranh đất của ông P1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất năm 1998 diện tích 30.800m
2
tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau, diện
tích nhận chuyển nhượng khoảng 200m
2
giá 05 phân vàng 24k, ông P1 đã trả đủ
vàng cho vợ ông T1 là bà T2 và sử dụng cất nhà sinh sống cho đến nay, khi nhận
chuyển nhượng chỉ nói miệng, không làm văn bản. Ông P1 nhận chuyển nhượng đất
từ vợ chồng ông T1, không nhận chuyển nhượng đất của ông Trần Văn N nên không
đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và trả 543,8m
2
đất cho ông
N.
Tại biên bản hòa giải ngày 21/12/2022 và biên bản ngày 26/4/2025 ông Trần
Văn P trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông nội cho cha ông, cha
ông cho lại ông và ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/6/1995
diện tích 19.990m
2
. Ông sử dụng đất đúng diện tích đất được cấp, khi cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì không đo đạc. Khoảng 03 năm trước ông và ông N tranh
chấp đất nên cán bộ địa chính xã giải quyết và thống nhất cặm trụ đá, hiện trụ đá vẫn
còn, ông và ông N có ký tên vào biên bản thỏa thuận ranh. Sau đó ông múc đất đổ
6
lên bờ theo ranh đã xác định thì ông N không đồng ý và tranh chấp. Phần đất của
ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tới sông. Phần đất ông N nhận
chuyển nhượng từ ông T1 có hình cánh bườm từ mé sông trở lên, nhưng do quá trình
làm đê và sạt lở nên diện tích đất không còn. Ông không lấn chiếm đất của ông N
nên không đồng ý trả 1.750m
2
và 200m
2
đất tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau
(nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau) cho ông N.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/4/2026, ông Trần Văn T1 trình bày: Khoảng
năm 1990, ông có chuyển nhượng hơn 01 công tầm lớn đất với giá 1,5 chỉ vàng 24k
cho ông N, khi chuyển nhượng không làm văn bản, không người chứng kiến, không
đo đạc chỉ xác định vị trí, ông nhận đủ vàng và giao đất cho ông N từ năm 1990, vị
trí đất giáp sông L I, giáp đất ông P1, ông P và ông N, hình thể đất là hình cánh buồm
đúng như ông N xác định tại mảnh trích đo hiện trạng ngày 25/7/2023 của công ty
Đ1. Ông chỉ chuyển nhượng đất cho ông N, sau đó ông N có chuyển nhượng đất cho
ông P1 và ông P không thì ông không biết. Ông có ký giấy xác nhận nội dung có
chuyển nhượng đất cho ông N ngày 09/8/2023 và giấy sang nhượng đất ngày
20/10/2018. Nay ông xin vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/4/2026, bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Trước
đây, ông P1 có đất nhưng không có mặt tiền, nên có hỏi mua đất của vợ chồng bà
phần đất từ mé sông L I trở lên để cất nhà, diện tích đất cụ thể bà không nhớ, đất tại
ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau, giá 05 phân vàng 24k, ông P1 đã trả đủ vàng và
bà đã giao đất cho ông P1 cất nhà từ khi nhận chuyển nhượng đến nay. Việc bán đất
ông T1 có biết, ông N mua đất của ông T1 năm 1990 là sau khi ông P1 mua đất của
bà, khi bán đất chỉ nói miệng, không làm văn bản. Ông P1 sử dụng đúng diện tích
đất bà đã chuyển nhượng. Việc ông T1 bán đất cho ông N thì bà không rõ. Bà xin
vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/4/2026, bà Trương Thị H1 trình bày: Bà là
vợ của ông Trần Văn N. Bà thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn
N, bà xin vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá ngày 21/4/2026, bà
Nguyễn Thị P2 trình bày: Bà là vợ của ông Trần Văn P, phần đất tranh chấp là của
bà và ông P, bà thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày của ông P, bà xin vắng mặt suốt
quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá ngày 21/4/2026, bà
Chà Thị M trình bày: Bà xác định phần đất tranh chấp là tài sản chung của bà và ông
Trần Văn P1, hiện căn nhà trên đất tranh chấp gồm vợ chồng bà, con trai là Trần
Văn T, con dâu là Nguyễn Kiều H2, cháu nội là Trần Nguyễn Thiện N1 và Trần
Nguyễn Hiếu N2 sinh sống, bà thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày của ông P1 và
xin vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá ngày 21/4/2026,
ông Trần Văn T trình bày: Ông thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày của ông P1 và
xin vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
7
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 03/6/2026, bà Trần Thị Phúc trình
B: Phần đất của bà đang quản lý sử dụng theo đo đạc thực tế là 1.206,2m
2
nằm trong
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn P1. Hiện chưa làm thủ tục
tách quyền sử dụng đất, hiện bà và ông P1 không tranh chấp và yêu cầu vắng mặt
suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 03/6/2026, bà Đỗ Thị N3 và ông
Trần Văn Q thống nhất trình bày: Phần đất của vợ chồng bà đang quản lý sử dụng
theo đo đạc là 1.275,5m
2
nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông
Trần Văn P1. Hiện chưa làm thủ tục tách quyền sử dụng đất, vợ chồng bà và ông P1
không tranh chấp và yêu cầu vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại công văn số 242/NHNo.PT ngày 17/6/2026 của Ngân hàng N4 - chi nhánh
P4, Cà Mau (gọi tắt là Ngân hàng): Đại diện Ngân hàng xin vắng mặt trong toàn bộ
quá trình giải quyết vụ án.
Tại công văn số 01/GIS ngày 07/7/2026 của Công ty TNHH T4 phúc đáp công
văn 759 của Tòa án: Đối chiếu với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông
Trần Văn N, ông Trần Văn P1, ông Trần Văn P và bản đồ phục vụ cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSD) đất thành lập năm 1993 thì:
- Thửa đất số 3, 4, 20, 5, 11, 12, 13, 14, 21 đã được cấp Giấy CNQSD đất.
- Thửa số 3, 20 thuộc phần đất đã được cấp Giấy CNQSD đất cho ông Trần
Văn P.
- Thửa số 4, 5, 11 thuộc phần đất đã được cấp Giấy CNQSD đất cho ông Trần
Văn N.
- Thửa số 13, 14 thì một phần được cấp Giấy CNQSD đất cho ông Trần Văn
N và một phần được cấp GCNQSD đất cho ông Trần Văn P1. Theo Giấy CNQSD
đất đã cấp cho ông Trần Văn N và Giấy CNQSD đất đã cho ông Trần Văn P1 thì
ranh giới hai ông giáp ranh là ranh thẳng từ tiền đến hậu (ranh đất nuôi tôm giữa 2
ông thẳng xuống tới sông).
- Thửa số 21 thuộc phần đất đã được cấp Giấy CNQSD đất cho ông Trần Văn
P1.
- Thửa số 12 là thửa đất đang tranh chấp giữa ông Trần Văn N và ông Trần
Văn P1 nên không có cơ sở xác định nằm trong Giấy CNQSD đất của ông Trần Văn
N hay ông Trần Văn P1.
- Theo Giấy CNQSD đất đã cấp cho ông Trần Văn N, ông Trần Văn P1, ông
Trần Văn P thì trên Giấy CNQSD đất thể hiện cấp đến Sông (nay là Kinh Lô I), trùng
khớp với bản đồ cấp Giấy đất thành lập năm 1993.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 408/2026/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
8
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu
ông Trần Văn P trả diện tích đất lấn chiếm 1.750m
2
tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà
Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu
ông Trần Văn P1 và bà Chà Thị M trả diện tích đất lấn chiếm 240,1m
2
tại ấp C, xã
T, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau) và không chấp nhận yêu
cầu buộc vợ chồng ông P1 khắc phục hậu quả trả lại nguyên hiện trạng phần đất cho
ông N.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu
hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và ông Trần Văn P1,
bà Chà Thị M, không chấp nhận yêu cầu ông P1, bà M tháo dở nhà và công trình
trên đất trả cho ông N diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa 11, 12, 14,
21 là 543,8m
2
tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau).
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu
ông Trần Văn P trả diện tích đất lấn chiếm theo đo đạc thực tế tại thửa số 20 là
175,7m
2
tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau).
Vị trí đất theo kết quả đo đạc tại Trích đo hiện trạng ngày 02/8/2023 và mảnh
đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính ngày 28/4/2026 của Công ty TNHH T4 kèm theo.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, án
phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04/8/2026, ông Trần Văn N có đơn kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Trần Văn N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu sửa
toàn bộ bản án sơ thẩm, Bởi lẽ:
+ Phần đất tranh chấp có diện tích 1.750m
2
với ông Trần Văn P giữa ông N
và ông P đã thống nhất vị trí ranh M6, vị trí M21, M22, M23 do ông P xác định ông
N không đồng ý. Phần đất này ông N chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, do thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất này là nước,
không có bờ nên cán bộ địa chính hướng dẫn sau này sẽ kê khai cấp sau.
+ Đối với phần đất ông N tranh chấp với ông P có diện tích 175,7m
2
có nguồn
gốc ông N nhận chuyển nhựng từ ông T1 vào năm 1990 với giá 05 phân vàng 24k,
năm 2018 ông T1 có xác nhận cho ông N và thực tế cộng diện tích đất sang nhượng
của ông T1 thì diện tích đất ông N có tăng lên, nếu cộng thêm diện tích tranh chấp
với ông P1 thì đất ông N tăng lên 1.365,3m
2
tương đương diện tích ông N nhận
chuyển nhượng từ ông T1 (1.296m
2
), nên ông N yêu cầu ông P trả phần đất này là
có căn cứ.
+ Đối với phần đất ông N tranh chấp với ông Trần Văn P1 có diện tích
240,1m
2
, phần đất này có nguồn gốc ông N chuyển nhượng từ ông Trần Văn T1,
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và do hồ sơ địa chính từ năm
9
2006 có sự thay đổi, đất ông N được cấp là 24.534,5m
2
ít hơn 215,5m
2
so với giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất ông P tăng 1.582,5m
2
và phần đất ông P1
ít hơn 883,9m
2
so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ
án ông N, ông P, ông P1 thừa nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các ông
chưa bao gồm phần đất nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn T1, nên phần đất
mặt tiền hình cánh bườm sang nhượng của ông T1 không nằm trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của các đương sự. Mặc khác, phần đất ông N nằm giữa phần đất
ông P và ông P1, không tiếp giáp sông hay kênh, rạch nhưng lại thiếu 215,5m
2
cho
thấy có sự lấn chiếm.
+ Đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
N và ông P1, bà M, buộc ông P1 và bà M tháo dỡ nhà và công trình trên đất trả diện
tích đất theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa 11, 12, 14, 21 là 543,8m
2
. Bởi lẽ, Vào
năm 1990, ông N chuyển nhượng cho ông Trần Văn P1 diện tích khoảng 450m
2
trong diện tích đất ông đã nhận chuyển nhượng của ông T1 với giá 05 phân vàng
24k, khi chuyển nhượng chỉ nói miệng, sau khi nhận chuyển nhượng ông P1 đã cất
nhà sinh sống trên đất đến nay không trả đủ vàng cho ông.
- Bị đơn ông Trần Văn P không thống nhất với các căn cứ kháng cáo của
nguyên đơn, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bởi lẽ, đất của ông được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1995 cho đến nay, khoảng 03 năm trước ông
và ông N có tranh chấp, có chính quyền địa phương giải quyết và có cặm trụ đá, ông
N có ký vào biên bản, hiện trụ đá vẫn còn. Đất của ông trước đến nay không có đưa
cơ giới vào cuốc bờ, còn ông N đem cơ giới vào cuốc bờ thường xuyên nên bờ ông
N không còn hiện trạng như ban đầu. Phần đất của ông được cấp giấy chứng nhận
từ mé sông lên đến hậu đất, ông không có lấn đất của ông N nên không đồng ý theo
yêu cầu của ông N.
- Bị đơn ông Trần Văn P1 không thống nhất với kháng cáo của nguyên đơn
ông Trần Văn N. Bởi, ông P1 có phần đất diện tích 30.800m
2
được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất năm 1998. Đối với phần đất 240,1m
2
ông N tranh chấp thì
đã có bờ ranh trước đây, hai bên làm bờ chung mỗi bên 3m, hiện nay bờ ông vẫn
đang sử dụng không lấn chiếm phần đất ông N. Năm 1985 ông nhận chuyển nhượng
một phần đất khoảng 200m
2
của ông T1 với giá 05 phân vàng 24k và đã làm giấy
chứng nhận chung vào năm 1998, ông đã cất nhà ở trên phần đất này từ trước đến
nay không có tranh chấp.
- Đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
N, ông P1 và bà M, buộc ông P1 và bà M tháo dở nhà và công trình trên đất trả diện
tích đất theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa 11, 12, 14, 21 là 543,8m
2
thì ông không
đồng ý, do ông không có nhận chuyển nhượng từ ông N, phần đất này ông đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cất nhà ở ổn định mấy chục năm không
có tranh chấp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
10
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định
của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng,
của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của ông Trần Văn N trong thời hạn luật định, hợp lệ nên
được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét thấy, tại phiên toà nguyên đơn ông Trần Văn N giữ nguyên nội dung
đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, thấy rằng:
[2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn N về việc yêu cầu ông Trần
Văn P trả đất lấn chiếm là 1.750m
2
, tuy nhiên khi tiến hành đo đạc ông N và ông P
thống nhất ranh đất, không xác định vị trí tranh chấp theo mảnh trích đo hiện trạng
ngày 02/8/2023. Ông N cho rằng ông P phải trả thêm đất cho ông chiều ngang 05m
tính từ trụ đá ông đã chỉ. Tại phiên tòa ông N cho rằng phần đất tranh chấp nằm
ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông, do tại thời điểm cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cán bộ đo đạc cho rằng hiện trạng mặt nước, không có bờ
để cấp sau, nhưng không có gì chứng minh ông để lại phần đất này, hiện phần đất
này ông P đang sử dụng. Do đó, không có căn cứ xem xét kháng cáo đối với yêu cầu
của ông N yêu cầu ông P trả phần đất có diện tích 1.750m
2
.
[2.2] Xét kháng cáo của ông Trần Văn N về việc yêu cầu ông Trần Văn P1,
bà Chà Thị M trả lại đất lấn chiếm ranh 240,1m
2
,
buộc vợ chồng ông P1 khắc phục
hậu quả trả lại nguyên hiện trạng phần đất cho ông: Ông N cho rằng theo hồ sơ địa
chính năm 2006 thì diện tích đất có sự thay đổi, diện tích đất của ông P là 21.572,5m
2
(tăng 1.582,5m
2
so với GCNQSD đất), đất của ông N là 24.534,5m
2
(giảm 215,5m
2
so với GCNQSD đất), đất của ông P1 29.916,1m
2
(giảm 883,9m
2
so với GCNQSD
đất). Xét thấy, ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 24.750m
2
theo
kết quả đo đạc thực tế ông N quản lý sử dụng gồm các thửa 4, 5, 6 và 7 là 25.395,8m
2
chưa bao gồm các thửa số 8, 10, 12 diện tích 240,1m
2
tranh chấp với ông P1, bà M
thì đất ông Trần Văn N dư so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là
645,8m
2
. Theo bản đồ năm 1993 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N
được cấp năm 1996 thể hiện phần đất được cấp giấy tiếp giáp với sông (nay là Kinh
Lô I), ranh thẳng từ hậu đất đến sông. Theo Công ty TNHH T4 là công ty đo đạc
phần đất tranh chấp xác định thửa số 04, thửa số 05 đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn N. Ông N cho rằng theo mục kê năm 2006 đất
ông N quản lý thửa 147, 148 thiếu 215,5m
2,
trích lục bản đồ thì giữa đất giáp Kênh
Lô 1 ngăn cách bởi 01 bờ đất,
việc thiếu diện tích trên là do chênh lệch trong quá
trình đo đạc (dụng cụ đo khác nhau) qua các năm và bờ đất là vẽ theo hiện trạng thực
11
tế qua quá trình sử dụng đất,
do đó việc ông N cho rằng diện tích đất của ông được
cấp thiếu và diện tích ông N nhận chuyển nhượng đất từ ông T1 chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ.
Hơn nữa, đất của ông Trần Văn P1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là 30.800 m
2
,
tuy nhiên theo kết quả đo đạc đất ông P1 quản lý gồm các thửa 9,
11, 13, 14, 15, 21 là 27.602m
2
cộng với các thửa đất của ông Lê Văn Ơ 1.206,2m
2
,
ông Trần Văn Q 1.275,5m
2
nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông
P1 là 30.083,7m
2
, cộng với diện tích đất tranh chấp 240,1 m
2
thì tổng diện tích đất
của ông P1 là 30.323,8m
2
thiếu 476,2m
2
so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được cấp. Ngoài ra, phần đất này ông P1 đã quản lý, sử dụng và cất nhà ở nhiều năm
không tranh chấp. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông
Trần Văn N.
[2.3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn N về việc yêu cầu hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và ông P1, bà M, buộc ông P1 và
bà M tháo dỡ nhà và công trình trên đất trả cho ông N diện tích đất theo kết quả đo
đạc thực tế tại thửa 11, 12, 14, 21 là 543,8m
2
: Ông N cho rằng năm 1990 ông nhận
chuyển nhượng đất của ông T1, sau đó chuyển nhượng một phần đất mặt tiền cho
ông P1 theo đo đạc là 543,8m
2
với giá 05 phân vàng 24k, việc chuyển nhượng ông
P1 không thừa nhận và không có văn bản chứng minh. Mặt khác bà Nguyễn Thị T2
là vợ ông T1 thừa nhận có chuyển nhượng phần đất cho ông P1 với giá 05 phân vàng
24k phù hợp với lời trình bày của ông P1. Việc ông P1, bà M quản lý sử dụng đất từ
năm 1985 đến nay là 41 năm liên tục, ông N không có ý kiến, không tranh chấp và
ông P1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ những phân tích trên,
xét thấy việc ông N cho rằng có chuyển nhượng đất cho ông P1, bà M nhưng không
có chứng cứ chứng minh nên yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông N và ông P1, bà M, buộc ông P1 và bà M tháo dỡ nhà và công trình
trên đất trả cho ông N diện tích đất theo đo đạc 543,8m
2
là không có căn cứ chấp
nhận.
[2.4] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn N về việc yêu cầu ông Trần
Văn P trả diện tích đất lấn chiếm theo đo đạc tại thửa số 20 là 175,7m
2
: Ông N cho
rằng cho ông Trần Văn P quản lý sử dụng đất của ông, phần đất ông nhận chuyển
nhượng từ ông T1, ông P không thừa nhận việc mượn đất. Xét thấy, thửa đất 20 có
diện tích 175,7m
2
nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần
Văn P vào năm 1995. Ông Trần Văn P sử dụng đất liên tục từ khi cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đến nay là 31 năm, ông N không tranh chấp, việc ông N cho
rằng 175,7m
2
là phần đất ông nhận chuyển nhượng từ ông T1, ông P sử dụng đất của
ông là không có chứng cứ chứng minh. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng
cáo của ông Trần Văn N, buộc ông Trần Văn P trả diện tích 175,7m
2
.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên toà phúc
thẩm ông N không cung cấp chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình.
Xét thấy, bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá chứng cứ đầy đủ, khách quan và
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N là có căn cứ. Do đó, không
12
có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn N. Xét đề nghị của Đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên toà là phù hợp, nên chấp nhận
toàn bộ.
[4] Án phí phúc thẩm ông Trần Văn N thuộc đối tượng được miễn do người
cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn N; giữ nguyên bản án dân sự
sơ thẩm số 408/2026/DS-ST ngày 21/7/2026 của Toà án nhân dân Khu vực 3 – Cà
Mau.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu
ông Trần Văn P trả diện tích đất lấn chiếm 1.750m
2
tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà
Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu
ông Trần Văn P1 và bà Chà Thị M trả diện tích đất lấn chiếm 240,1m
2
tại ấp C, xã
T, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau) và không chấp nhận yêu
cầu buộc vợ chồng ông P1 khắc phục hậu quả trả lại nguyên hiện trạng phần đất cho
ông N.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu
hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và ông Trần Văn P1,
bà Chà Thị M, không chấp nhận yêu cầu ông P1, bà M tháo dở nhà và công trình
trên đất trả cho ông N diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa 11, 12, 14,
21 là 543,8m
2
tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau).
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu
ông Trần Văn P trả diện tích đất lấn chiếm theo đo đạc thực tế tại thửa số 20 là
175,7m
2
tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau).
Vị trí đất theo kết quả đo đạc tại Trích đo hiện trạng ngày 02/8/2023 và mảnh
đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính ngày 28/4/2026 của Công ty TNHH T4 kèm theo.
5. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn N phải chịu toàn bộ là 37.821.579 đồng,
ông N đã thanh toán xong.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn N phải chịu toàn bộ tiền án phí,
ông N là người cao tuổi có đơn xin miễn tiền án phí nên được miễn toàn bộ.
13
7. Án phí dân sự phúc thẩm nguyên đơn ông Trần Văn N là người cao tuổi và
có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
thi hành án dân sự.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau;
- Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn A Đam
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 804/2026/DS-PT Bản án số 804/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 804/2026/DS-PT Bản án số 804/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất