Bản án số 33/2026/DS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Sơn La về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 33/2026/DS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Sơn La về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sơn La
Số hiệu: 33/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án DSPT H,T - T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 33/2026/DS-PT Bản án số 33/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 33/2026/DS-PT Bản án số 33/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SL
Bản án số: 33/2026/DS-PT
Ngày 25 - 9 - 2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; huỷ
giấy CNQSD đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SL
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Lan.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tuấn Minh và ông Đỗ Tuấn Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh SL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh SL tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc
Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh SL xét xử phúc thẩm
công khai
vụ án dân sự thụ lý số: 42/2026/TLPT-DS ngày 18 tháng 8 năm 2026, về việc
Tranh chấp quyền sử dụng đất; huỷ giấy CNQSD đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2026/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 4 - SL bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm số: 44/2026/QXXPT-DS ngày 24 tháng 8 năm 2026; Quyết định hoãn phiên
tòa số 82/2026/QĐ-PT ngày 09 tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà LTH, sinh năm: 1969 và ông NXT, sinh năm 1963. Đều địa chỉ:
Bản HM1, xã PK, tỉnh SL, có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà LTH – Luật sư thuộc
Văn phòng Luật sư HL và cộng sự, có mặt.
- Bị đơn: Bà ĐTT, sinh năm 1979. Địa chỉ: TK1, xã MS, tỉnh SL, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông TĐN, sinh năm 1965. 18.02 Lô
C1 CC Imperia, khu phố 11, AP, thành phố TĐ và ông DVH, sinh năm 1962. Địa chỉ:
TK39, xã MS, tỉnh SL, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông ĐVA, sinh năm 1963 và Bà NTL, sinh năm 1971. Đều địa chỉ: Bản MT, xã
LP, tỉnh SL, có mặt
+ Ủy ban nhân dân xã LP, tỉnh SL, người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Văn
Hoàng – Phó Chủ tịch UBND xã LP, tỉnh SL, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2
+ Văn phòng đăng ký đất đai SL, người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Trung
Hiếu – Quyền Giám đốc Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐKV VIII, có đơn xin xét xử vắng
mặt.
- Do có kháng cáo của: Nguyên đơn bà LTH và ông NXT; bị đơn bà ĐTT; người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông ĐVA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa nguyên đơn chị LTH và ông NXT trình bày:
Năm 1991 gia đình ông bà T, H có mua 01 mảnh đất của bà NTS và ông ĐMQ,
địa chỉ thửa đất tại bản MT, xã LP, tỉnh SL. Về nguồn gốc thửa đất do bà TTTD khai
phá đổi cho bà S ông Q, năm 2003 gia đình ông bà được UBND huyện YC cũ cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng ( sổ đỏ) đất đối mang tên ông NXT và bà LTH với toàn bộ
mảnh đất ông bà đã nhận chuyển nhượng từ ông bà Quyết, Sở, đất có tứ cạnh như sau:
Phía Tây Bắc giáp đường dân sinh + Suối;Phía Bắc giáp nhà ông Cường, Thuỷ;
Phía Đông giáp đất ông Cải;Phía Đông Nam giáp đất ông ĐVA (Lương);
Phía Tây giáp đất bà ĐTT.
Tổng diện tích đất từ khi mua cho đến khi được cấp sổ gia đình ông bà đã sử dụng
ổn định và không có tranh chấp, lấn chiếm với các hộ liền kể từ năm 1991;
Ngày 28/02/2025 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện YC cũ và UBND
xã LP tiến hành kiểm tra đo đạc lại hiện trạng thực địa. khi tiến hành kiểm tra đo đạc
ngoài thực địa ranh giới thửa đất của ông bà rõ ràng còn nguyên bờ cõi (hiện trạng mảnh
đất được gia đình sử dụng trồng cây Nhãn từ năm 1991). Nhưng gia đình bà ĐTT không
công nhận ranh giới trên và có xuất trình 01 Giấy CNQSD đất số sêri C1 219918 được
Sở tài nguyên và môi trường cấp cho bà T vào ngày 04/3/2019 ( đất bà T mua một phần
của ông ĐVA và bà NTL).
Tại Giấy CNQSD đất của bà T thể hiện cạnh chiều từ đường vào của mảnh đất
tiếp giáp đất nhà ông bà dài 36m, tuy nhiên hiện trạng thực tế bà T đang sử dụng chỉ
khoảng 25m, tại đây bà T có đề nghị và đòi đo lên phần đất của gia đình ông bà đang
sử dụng với số mét chiều sâu theo sổ đỏ. Gia đình ông bà không đồng ý. Do bà T mua
bán năm 2019 nhưng không mời hộ giáp ranh, mốc giới dẫn đến việc cấp chồng lấn một
phần đất gia đình ông bà một chiều là 09m và một chiều là 15m.
Nay ông bà yêu cầu Toà án nhân dân khu vực 4 - SL giải quyết buộc bà ĐTT trả
lại diện tích đất 135m2 cho gia đình ông bà và huỷ Giấy CNQSD đất của bà ĐTT, bổ
sung yêu cầu huỷ Giấy CNQSD đất của ông ĐVA.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà ĐTT khai nhận:
Năm 2018 bà T có nhận chuyển nhượng 01 mảnh đất của gia đình ông ĐVA trú
tại bản MT, xã LP, tỉnh SL diện tích 540m
2
. Diện tích đất này của ông A đã được cấp
Giấy CNQSD đất theo Quyết định số 549/QĐ - UB ngày 28/12/1999 do Chủ tịch UBND
huyện YC cấp. Bà là người mua ngay tình hợp pháp và đã được cơ quan có thẩm quyền
3
cấp Giấy CNQSD đất (Bìa hồng) số C 1219918 ngày 04/3/2019 mang tên ĐTT. Do đó
việc ông bà T, H khởi kiện bà là không có căn cứ, buộc bà trả lại 135m2 đất là không
đúng, bà không mua bán gì với ông bà T, H. Khi bà nhận chuyển nhượng đất đã được
các cấp có thẩm quyền đo đạc, lập bản vẽ hiện trạng có sự chứng kiến của các hộ giáp
ranh tứ cận ký, không ai có ý kiến gì, không có tranh chấp gì. Đặc biệt có đại diện gia
đình ông NXT cũng đã ký giáp ranh trên sơ đồ thì cơ quan chức năng mới làm thủ tục
cấp Giấy CNQSD đất cho bà theo quy định. Vì vậy ông bà T, H khởi kiện bà ra toà án
là không đúng pháp luật, vì bà chỉ nhận chuyển nhượng đất từ ông A và số đất 135m2
vẫn nằm trong Giấy CNQSD đất của ông ĐVA và sổ hồng của bà.
Đối với diện tích 2,6m
2
đất của bà đã được cấp Giấy CNQSD đất do ông Đào Văn
Cường và bà Đặng Thị Thuỷ làm bờ rào lấn sang, diện tích đất nhỏ, hai bên không có
tranh chấp, bà T không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Yêu cầu phản tố của bà ĐTT: Yêu cầu buộc ông ĐVA phải trả đủ đất đã chuyển
nhượng cho bà là 540m
2
và bác đơn khởi kiện của ông bà T, H.
Ý kiến, lời khai của ông ĐVA, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguồn gốc
đất của gia đình là do gia đình khai phá và sử dụng sản xuất nguyên vật liệu ổn định từ
lâu tại thửa số 16(1), 16b(1) tờ bản đồ số 13/SĐ và không có tranh chấp với ai. Năm
1999 được UBND huyện YC cấp Giấy CNQSD đất theo Quyết định số 549/QĐ-UBND
ngày 28/12/1999 mang tên ĐVA. Sau khi được cấp Giấy gia đình sử dụng ổn định,
không có tranh chấp với ai. Năm 2018 gia đình ông có làm thủ tục chuyển nhượng diện
tích 540m
2
đất, loại đất ONT và CLN tại thửa số 16(1), 16b(1) cho bà ĐTT. Quá trình
làm thủ tục cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã đo đạc và thực hiện các thủ tục pháp lý
để tách và cấp Giấy CNQSD gia đình ông bà T, H cũng có mặt và ký giáp danh theo
quy định. Nay bà LTH và ông NXT yêu cầu Toà án huỷ Giấy CNQSD đất của gia đình
ông là không có căn cứ, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 4 - SL xem xét giải quyết bảo
vệ quyền lợi về quyền sử dụng đất của gia đình ông.
Ý kiến trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã LP đối với
yêu cầu huỷ Giấy CNQSD đất của ông ĐVA như sau:
Về nguồn gốc sử dụng đất: Thửa đất số 16(1) và 16b(1), tờ bản đồ số 13/SĐ, tổng
diện tích là 3.210,0m2 (bao gồm 400m2 đất ở và 2.810,0m
2
đất nông nghiệp) tại bản
MT, xã LP ban đầu thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ ông ĐVA. theo Quyết định
số 549/QĐ-UBND ngày 28/12/1999 của Uỷ ban nhân dân huyện YC mang tên ông
ĐVA.
Sau khi rà soát tài liệu hồ sơ địa chính lưu trữ tại xã, UBND xã LP xét thấy: trước
đây cấp Giấy CNQSD đất cho ông ĐVA là đúng quy định của pháp luật, vì sau khi cấp
Giấy CNQSD đất năm 1999, gia đình sử dụng không tranh chấp, không có cơ quan
thanh tra, kiểm tra kết luận việc cấp Giấy CNQSD đất cho ông ĐVA là trái quy định
pháp luật. Vì vậy nguyên đơn trong vụ án đề nghị huỷ Giấy CNQSD đất của ông ĐVA
là không có cơ sở pháp lý. UBND xã LP cho rằng việc huỷ Giấy CNQSD đất của ông
ĐVA là chưa đủ cơ sở pháp lý theo quy định pháp luật.
Ý kiến của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh SL về việc yêu cầu huỷ Giấy CNQSD
4
đất của bà ĐTT như sau: Việc đăng ký cấp Giấy CNQSD đất số seri CI 219918 ngày
04/3/2019 mang tên bà ĐTT được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh SL thực hiện trên cơ
sở hồ sơ do người sử dụng đất kê khai, tại thời điểm giải quyết hồ sơ. Trình tự thủ tục
tiếp nhận, kiểm tra và cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định của Luật đất
đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện chức năng
đăng ký đất đai, tham mưu cấp Giấy chứng nhận trên cơ sở hồ sơ, tài liệu do người sử
dụng đất cung cấp và hồ sơ địa chính hiện có. Đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị huỷ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất seri CI 219918 ngày 04/3/2019, Văn phòng đăng
ký đất đai tỉnh SL đề nghị Toà án nhân dân khu vực 4 - SL xem xét, giải quyết theo
đúng quy định của pháp luật .
Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã lấy lời khai của bà NTS, người mà nguyên
đơn cho rằng đã chuyển nhượng phần diện tích đất của gia đình ông bà TH trong đó có
diện tích đất hiện đang tranh chấp. Bà Sở cho rằng: Diện tích đất hiện nay ông Thắm,
bà Hằng khởi kiện bà ĐTT có một phần đất đằng sau bà T nhận chuyển nhượng của
ông ĐVA là do bà đổi đất của nhà cô Dinh (chồng là Đợi đã chết) tại Hang Mon, xã PK,
năm bà không nhớ, đến năm 1999 bà đã bán cho gia đình bà Hằng, ông Thắm, bờ cõi
vẫn còn nguyên như ban đầu. Thời điểm chuyển nhượng đất cho bà Hằng, ông Thắm
đất chưa được cấp Giấy CNQSD đất. Đến năm 1996 gia đình bà chuyển đi lên tỉnh SL
tức là thành phố SL, đến năm 1999 nhà nước mới có chính sách cấp bìa đỏ cho người
dân. Đối với việc khởi kiện giữa các bên bà đề nghị Toà án xem xét theo quy định của
pháp luật.
Bà Sở cam đoan lời khai của bà là đúng sự thật đề nghị Toà án giải quyết theo
quy định của pháp luật. Hiện nay bà đã già đi lại khó khăn đề nghị Toà án không đưa
bà vào tham gia tố tụng với tư cách gì có liên quan hay người làm chứng, bà xin phép
không có mặt tại các buổi làm việc và xét xử của Toà án.
Toà án tiến hành lấy lời khai của ông Đào Văn Cường, sinh năm 1971, là hộ liền
kề đất ông bà Hằng, Thắm và một phần đất bà ĐTT liên quan đến diện tích đất 2,6m
2
lấn sang đất nhà bà T. Sau khi trao đổi ông Cường cho biết như sau: Đối với diện tích
đất 2,6m
2
của gia đình ông nằm trong Giấy CNQSD đất đã được cấp cho bà ĐTT, thực
tế do hai bên cũng không xác định được, tuy nhiên khi Hội đồng xem xét thẩm định tại
chỗ thẩm định đo đạc thực tế trên cơ sở các bên liên quan cùng tham gia chỉ mốc giới
xác định đất nhà ông nằm trong Giấy CNQSD đất của bà T là 2,6m
2
. Hiện nay bà ĐTT
yêu cầu gia đình ông phải trả lại đất gia đình ông nhất trí trả lại, vì gia đình ông đã sử
dụng mấy chục năm nay, việc bà T nhận chuyển nhượng đất của ông ĐVA, hay mua
bán như thế nào ông không nắm được, không biết không được ký nhận về giáp ranh.
Hiện nay do bản thân ốm đau, bệnh tật, hơn nữa gia đình ông và bà ĐTT không có tranh
chấp gì, do vậy ông đề nghị Toà án không đưa ông vào tham gia tố tụng giải quyết trong
vụ án này.
Bà Đặng Thị Thuỷ, sinh năm 1977 (vợ ông Cường), trình bày: Quá trình toà án
tiến hành xem xét thẩm định xác định diện tích đất 2,6m
2
của gia đình bà nằm trong
Giấy CNQSD đất đã được cấp cho bà ĐTT, thực tế diện tích đất nhà bà đã sử dụng mấy
chục năm và sử dụng trước khi bà T được cấp sổ đỏ, có mốc giới rõ ràng từ trước đến
5
nay. Hiện nay bà T yêu cầu gia đình bà phải trả lại đất bà không nhất trí, việc bà T mua
bán như thế nào với ông ĐVA bà không nắm được. Hiện nay bà và bà ĐTT không có
tranh chấp với gia đình bà, do vậy bà đề nghị Toà án không đưa bà vào tham gia tố tụng
.
Ngày 18/3/2026 tòa khu vực 4 – SL đã thẩm định, định giá thửa đất tranh chấp
là 170,7m2;
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - SL đã Quyết định:
Căn cứ: Điều 5, Điều 100; Điều 166; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Điều 4, Điều 26; Điều 137; Điều 236 Luật đấ t đai năm 2024;
Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 35 và Điều 39; Điều 68; khoản 1, khoản 4 Điều 91;
Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 24, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về việc: Buộc bà ĐTT trả lại diện tích đất trồng cây lâu năm 135m
2
(quá trình xem xét
thẩm định tại chỗ thì diện tích thực tế đất tranh chấp là 170,7m
2
) cho gia đình ông NXT
và bà LTH, diện tích đất có tứ cạnh như sau:
- Phía Đông giáp đất ông ĐVA, hiện ông NXT (Hằng) đang sử dụng chiều dài là
10,86m;
- Phía Nam giáp đất bà ĐTT đang sử dụng (phần đất trống) là 15,14m;
- Phía Bắc giáp đất vườn của bà Nguyễn Thị Hằng có các cạnh 12,91 + 2,09m =
15m;
- Phía Tây: Giáp đất HTX mà hiện tại ông NXT, bà LTH đang sử dụng có tứ cạnh
là 12,22m, thửa đất thuộc bản MT, xã LP, tỉnh SL (Có sơ đồ trích đo kèm theo).
Bà ĐTT được quản lý, sử dụng diện tích 170,7 m
2
đất trồng cây lâu năm có tứ
cạnh:
- Phía Đông giáp đất ông ĐVA, hiện ông NXT, bà LTH đang sử dụng chiều dài
là 10,86m;
- Phía Nam giáp đất bà ĐTT đang sử dụng (phần đất trống) là 15,14m;
- Phía Bắc giáp đất vườn của ông NXT, bà LTH có các cạnh 12,91 + 2,09m =
15m;
- Phía Tây: Giáp đất HTX mà hiện tại ông NXT, bà LTH đang sử dụng có tứ cạnh
là 12,22m, thửa đất thuộc bản MT, xã LP, tỉnh SL (Có sơ đồ trích đo hiện trạng kèm
theo bản án).
6
Bà ĐTT được quản lý, sử dụng, thu hoạch 05 cây Nhãn có đường kính 15,1cm
đến dưới 20cm; 05 cây Nhãn từ 05 năm tuổi đường kính 10,01 đến dưới 15cm; 01 cây
Ổi trên 10 năm tuổi; 12 cây Thanh Long thời kỳ thu hoạch 7 đến 15 năm, tổng trị giá
13.192.000 đồng.
Bà ĐTT có nghĩa vụ thanh toán cho bà LTH và ông NXT số tiền cây trồng trên
diện tích đất 170,7m
2
số tiền là 13.192.000 đồng.
Bác yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 12199118 do Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh SL cấp ngày 04/3/2019 cho bà ĐTT, địa chỉ tại bản MT, xã
LP, tỉnh SL;
Bác yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 482515 theo Quyết
định số 549/QĐ - UB ngày 28/12/1999 do Chủ tịch UBND huyện YC cấp cho ông
ĐVA, tại bản MT, xã LP, tỉnh SL.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu Toà án buộc ông ĐVA phải
trả đủ đất đã chuyển nhượng cho bà ĐTT là 540m
2
.
2. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí, chi phí tố tụng
và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Do không nhất trí với Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST:
Ngày 29/6/2026 nguyên đơn bà LTH, ông NXT kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
với lý do cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết một cách khách quan, toàn diện theo
nguồn gốc đất thực tế, cũng như trong quá trình sử dụng đất của các hộ giáp ranh; bỏ
qua các tài liệu chứng cứ, chứng minh, nguồn gốc thửa đất tranh chấp. Đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm: Tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp sai cho ông ĐVA
và bà ĐTT để trả lại diện tích cấp lấn cho gia đình tôi.
Ngày 07/7/2026 bị đơn bà ĐTT kháng cáo một phần bản án sơ thẩm với lý do
không nhất trí thanh toán số tiền bồi thường cây ăn quả và số tiền án phí phải chịu. Đề
nghị Toà án cấp phúc thẩm: Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST,
ngày 24/6/2026 của Toà án nhân dân khu vực 4 - SL.
Ngày 07/7/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo một phần bản
án sơ thẩm với lý do cấp sơ thẩm chưa làm rõ ranh giới đất còn lại của gia đình chúng
tôi. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm: Sửa một phần bản án sơ thẩm làm rõ phạm vi, ranh
giới diện tích đất đã chuyển nhượng cho bà ĐTT và phạm vi, ranh giới diện tích đất còn
lại (cụ thể là ở lô 16 và 16b) của chúng tôi trên cơ sở hồ sơ địa chính, kết quả xem xét,
thẩm định tại chỗ; kết quả đo đạc; sơ đồ hiện trạng; các tài liệu, chứng cứ đã được thu
thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án.
* Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm đã tiến hành xác minh:
-Cấp phúc thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định ngày 10/8/2026
- Ngày 11/9/2026 Tòa án nhân dân tỉnh SL có công văn số 611/CV-TA đề nghị
UBND xã LP; tại công văn số 934/UBND-KT ngày 15/9/2026 , thể hiện:
1. Đối với nội dung liên quan đến thửa đất ghi HTX
7
Theo hồ sơ địa chính lập năm 1999 được lưu trữ tại UBND xã; thửa đất số 16a,
340m² ghi đất HTX, tuy nhiên theo kết quả thẩm tra xác minh, ý kiến của đại diện Ban
quản lý bản Mỗ Than, xã LP những người dân sinh sống khu vực bản MT có ý kiến xác
định đây là thửa đất do ông Nguyễn Văn Điểm sử dụng từ năm 1991, sau năm 1991 bà
Nguyễn Thị Hoạt sử dụng vào mục đích đất ở; gia đình đã sử dụng ổn định liên tục đến
nay. UBND xã, ban quản lý bản MT không ban hành quyết định hoặc văn bản hành
chính cho thuê thầu thửa đất trên, thửa đất trên gia đình ông Thắm đã sử dụng ổn định
không tranh chấp đối với các gia đình liền kề.
2. Một số nội dung khác liên quan
Gia đình bà LTH ông NXT sử dụng đất liền kề với gia đình ông ĐVA, các thửa
đất có ranh giới rõ ràng không sẩy ra tranh chấp cho đến năm 2025.
- Năm 2018 ông ĐVA chuyển nhượng một phần thửa đất cho bà ĐTT, thửa đất
chuyển nhượng liền kề với đất bà LTH, ông NXT sử dụng; năm 2019 được Văn phòng
Đăng ký đất đai tỉnh cấp Giấy CNQSD đất cho bà ĐTT, năm 2025 bà ĐTT bắt đầu sử
dụng đất khi đó đã phát sinh tranh chấp.
- Vị trí thửa đất phát sinh tranh chấp xác định vượt ra ngoài phạm vi ranh giới sử
dụng đất, thửa đất ông ĐVA sử dụng, chuyển nhượng cho bà ĐTT.
Theo sơ đồ đo ngày 17/3/2026, thửa đất số 16(1), diện tích 240m² là đất gia đình
ông NXT bà LTH đang sử dụng để trồng cây ăn quả từ trước năm 2018.
Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chưa ban hành Quyết định thu hồi đất của
gia đình bà LTH, ông NXT để giao đất cho các hộ gia đình khác.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ việc, kết quả xác minh thực địa ngày 10/9/2026.
UBND xã nhận thấy:
(1) Ông NXT bà LTH sử dụng đất liền kề với đất của ông ĐVA không sẩy ra
tranh chấp trước khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà ĐTT.
(2) Ông NXT, bà LTH đã trồng cây ăn quả trên thửa đất trước năm ông ĐVA
chuyển nhượng cho bà ĐTT.
(3) Việc sảy ra tranh chấp phát sinh sau khi ông ĐVA chuyển nhượng cho bà
ĐTT, được lập trên cơ sở hồ sơ gốc năm 1999 không so sánh với thực địa, thành phần
ghi tại biên bản đo đạc, xác minh, nguồn gốc, diện tích thửa đất chuyển nhượng, ngày
12 tháng 11 năm 2018 ông Nguyễn Đức Mạnh trưởng bản MT cần kiểm tra lại tên chính
xác của Trưởng bản MT thời điểm đó và hiện trạng sử dụng đất của ông ĐVA dẫn tới
việc hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông ĐVA với bà ĐTT vượt ra ngoài
phạm vi thửa đất của ông ĐVA.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ý kiến của nguyên đơn: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, nội dung đơn khởi
kiện đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
- Ý kiến của bị đơn: Giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Ý kiến của Ông bà A Lương - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Giữ nguyên
8
nội dung kháng cáo.
- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn: Đề nghị hội đồng xét
xử phúc thẩm xem xét đánh giá đầy đủ, khách quan và toàn diện hệ thống chứng cứ của
vụ án; làm rõ mối quan hệ giữa nguồn gốc sử dụng đất, ranh giới sử dụng thực tế, hồ sơ
địa chính qua các thời kỳ và giữa phần đất ông Thắm, bà Hằng đang quản lý sử dụng từ
năm 1991 với phần đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông
ĐVA, bà ĐTT, sửa một phần bản án sơ thẩm:
+ Chấp nhận một phần kháng cáo của ông NXT và bà LTH: Xác định phần diện
tích đất tranh chấp là 170,7m² thực tế đang do ông NXT và bà LTH quản lý, sử dụng
ổn định từ năm 1991 đến nay, không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà ĐTT;
+ Tuyên hủy một phần GCN QSDĐ đất đối với phần đất tranh chấp trong
GCNQSDĐ đã cấp cho bà ĐTT;
+ Buộc các bên giữ nguyên ranh giới hiện hữu trên thực tế giới hạn bởi các điểm
1 + 9+ 16 + 17 + 18 + 19 + 10 + 11 + 12 + 13.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh SL phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp
luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia
tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị: Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 BLTTDS
2015, đề nghị: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 24/6/2026 của TAND
khu vực 4 – SL theo hướng: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, công nhận quyền
sử dụng diện tích đất 170,7m2 cho ông Nguyễn Văn Thắm, bà LTH trong giấy CNQSD
đất mang tên bà ĐTT; Huỷ 1 phần GCNQSD đất số C1 219918 cấp ngày 04/3/2019
mang tên ĐTT đối với diện tích 170,7m2.
Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định
Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Tòa án nhân dân khu vực 4 - SL đã thụ lý, giải quyết yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn bà LTH và bị đơn bà ĐTT về việc Tranh chấp quyền sử
dụng đất; huỷ giấy CNQSD đất là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật
Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà LTH, ông NXT; bị đơn bà ĐTT;
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông ĐVA không nhất trí với quyết định của bản án,
có đơn kháng cáo và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo thông báo của Tòa án trong
hạn luật định. Do vậy, đơn được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà
LTH, ông NXT; bị đơn bà ĐTT; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông ĐVA đảm bảo
9
về hình thức và nội dung, đúng chủ thể của người có quyền kháng cáo, trong thời hạn
kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự nên hợp lệ, đủ điều kiện để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.3] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã LP
và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh SL đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, có đơn
xin xét xử vắng mặt căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành
xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Xét về nội dung đơn khởi kiện, đơn kháng cáo NĐ, BĐ, Người có quyền lợi
liên quan, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, cho rằng diện tích 135m2 đất tranh
chấp là do nhận chuyển nhượng từ bà NTS từ năm 1991, đến năm 2003 được cấp Giấy
CNQSD đất theo quy định;
Bị đơn bà ĐTT cho rằng diện tích đất 135m2 hiện đang tranh chấp là một phần
trong tổng số diện tích đất bà nhận chuyển nhượng từ ông ĐVA và được Nhà nước cấp
Giấy CNQSD đất năm 1999 ( Đo thực tế là 170,7m2); Ông bà TH cho rằng do mua bán
chuyển đổi từ nằm 1991 mà có và ông bà đang là người quản lý sử dụng ;
[2.2] Xét về Nguồn gốc – quá trình sử dụng đất: về diện tích đang tranh chấp là
170,7m2 thuộc thửa 16 của ông A được cấp trong sổ đỏ từ năm 1999 được chuyển
nhượng cho Bà T vào năm 2019; tuy nhiên đất lại do nhà ông TH quản lý sử dụng từ
1991 là phần liền kề thửa 12 của ông bà TH đã được cấp sổ đỏ; các bên sống ổn định,
có ranh giới rõ ràng , đến năm 2005 mới có tranh chấp;
Thửa đất Có nguồn gốc từ Năm 1991 do gia đình ông bà T, H mua 01 mảnh đất
của bà NTS và ông ĐMQ, địa chỉ thửa đất tại bản MT, xã LP, tỉnh SL. Về nguồn gốc
thửa đất do bà TTTD khai phá đổi cho bà Sở, ông Quyết đến năm 2003 gia đình ông bà
T, H được UBND huyện YC cũ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối mang tên
ông NXT và bà LTH ,đất có tứ cạnh như sau:
Phía Tây Bắc giáp đường dân sinh + Suối;Phía Bắc giáp nhà ông Cường, Thuỷ;
Phía Đông giáp đất ông Cải;Phía Đông Nam giáp đất ông ĐVA (Lương);
Phía Tây giáp đất bà ĐTT.
Từ khi mua đất Ông TH có trồng cây lâu năm, đất có ranh giới, rõ ràng và không
có tranh chấp lấn chiếm với các hộ liền kề ông ĐVA từ năm 1991
Năm 2018 ông ĐVA chuyển nhượng một phần thửa đất cho bà ĐTT, thửa đất
chuyển nhượng liền kề với đất bà LTH, ông NXT sử dụng; năm 2019 được Văn phòng
Đăng ký đất đai tỉnh cấp Giấy CNQSD đất cho bà T, năm 2025 bà T bắt đầu sử dụng
đất khi đó đã phát sinh tranh chấp. được chính quyền địa phương hòa giải xác định
nguồn gốc đất do ông gia đình ông NXT sử dụng ổn định rõ ràng, từ trước đến nay
không có tranh chấp ( BL 21)
Ngày 10/9/2026 tòa phúc thẩm đã tiến hành thẩm định lại, có sự tham gia của Đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; ý kiến của chính quyền bản MT, UBND xã LP, địa
10
chính xã, chi nhánh VPĐKĐĐ khu vực 8, và văn phòng ĐKĐĐ SL (ủy quyền cho ông
Phạm Trung Hiếu)( tại BL 01, 08,09,11,15):
Xác định giữa các thửa đất đã có tường xây ngăn cách, rõ ràng không có tranh
chấp lấn chiếm giữa các hộ liền kề từ năm 1991 đến năm 2025. gia đình ông A được
cấp sổ đỏ từ năm 1999 (17/3/2006 thế chấp ngân hàng đến 29/6/2018 xóa thế chấp); các
hộ gia đình không có khiếu nại gì về việc cấp đất của Ủy ban nhân dân huyện,
Về tài sản trên đất là của ông bà TH trồng, gồm 05 cây Nhãn có đường kính
15,1cm đến dưới 20cm ( thực tế gốc có đường kính 40-50cm, bên cạnh mọc lên 2 cây
nhánh mọc lên đường kính 15-20cm)….; 05 cây Nhãn từ 05 năm tuổi đường kính 10,01
đến dưới 15cm; 01 cây Ổi trên 10 năm tuổi; 12 cây Thanh Long thời kỳ thu hoạch 7 đến
15 năm,
Từ khi 2 bên được cấp sổ đỏ năm 1999, 2003 các bên sống ổn định, có ranh giới
đất rõ ràng, không xảy ra tranh chấp. bà T mua đất nhà ông A từ 2018 đến năm 2025
đo lại đất mới phát sinh tranh chấp; lời khai của ông A (BL60a) gia đình tôi sản xuất
nguyên vật liệu năm 1999 kê khai và được cấp sổ thửa đất 16,16b,1a là 3.210m2 từ đó
đến nay không có tranh chấp với ai, bán cho chị Thủy năm 2018 không tranh chấp; lời
khai bà Đặng Thị Thủy (Cường) BL 60b: qua đo đạc mới biết, có mốc từ xưa, mấy chục
năm, ranh giới rõ ràng, bà T đòi đất theo sổ không nhất trí, không tranh chấp; Bà NTS
(BL61) đất tranh chấp là do tôi bán cho hằng thắm 1991 lúc bán chưa có bìa có giấy tờ
mua bán; Ông Bùi văn Cường về diện tích 2,6m2 nằm trong bìa cấp cho bà T hai bên
cũng không xác định, đất gia đình tôi sử dụng mấy chục năm, việc bà T mua của ông a
thế nào tôi k biết, k đc kí giáp ranh, đề nghị không tham gia tố tụng.
Biên bản hòa giải cơ sở 14/3/2025; Bên bản của UBND xã 10/4/2025 (BL11-13)
;
Tài liệu, Khai thác Hồ sơ về cơ sở cấp sổ đỏ cho Ông A có Nguồn gốc đất được
hội đồng giao đất tại thời điểm, không ghi ngày tháng năm giao, gồm 3 thửa đất không
có tứ cận( không có sơ đồ đất);
Hồ sơ đăng ký biến động chuyển nhượng giữa Ông A và Bà T có Hợp đồng công
chứng năm 2018; sơ đồ tứ cận thửa đất phản ánh theo sổ đỏ đã cấp cho Ông A, không
đúng về chiều rộng phía sau giáp ranh đất bà Khoái (Mến) nhưng thực tế không có liên
quan; ông Thắm ký giáp chiều sâu liền kề (tuy nhiên thực tế có một phần đất + nhà của
Bà Hoạt và một phần giáp đất bà T (Cường) nhưng không kí xác định giáp ranh; Biên
bản đo đất, Trưởng bản tham gia là ông Nguyễn Đức Mạnh, nhưng lại là ông Bùi văn
Kiểu ký xác nhận
Như vậy về Nguồn gốc đang tranh chấp 170.7m2 đang trồng cây,có tứ cạnh( thể
hiện tại sơ đồ thẩm định 18/3/2026) Có nguồn gốc Ông bà Thắm mua bán chuyển
nhượng, chuyển đổi mà có đến nay không có, Hiện không có Quyết định thu hồi đất nào
của cơ quan có thẩm quyền để giao cho Ông A;
Xét Lời khai của ông Bà TH Về nguồn gốc đất phù hợp với ý kiến, lời khai có
trong hồ sơ: của bà Bà TTTD (Đợi) bán lại cho Bà NTS (Quyết) bán lại cho Ông bà
TH quá trình sử dụng trồng cây cho đến nay; xác nhận của Ông Vì Văn Khăm (Nguyên
11
chủ tịch xã), Ông Đỗ Hoàng Tuấn (trưởng bản giai đoạn 1991-1995), Bà Đinh thị Khoái
(Mến), Ông Nguyễn văn Mạnh , ông trần văn Dư (người xây tường giữa nhà Ông bà
TH và Ông bà A Lương, Ông Vũ Văn Quyến là người vào năm 1988 có làm lò gạch
trên đất giao cho nhà ông Bà A Lương; các ý kiến phù hợp về hiện trạng quá trình sử
dụng đất; ý kiến của Đại diện UBND xã LP; của đại diện bản MT;
Ông A đưa ra căn cứ chứng minh về nguồn gốc đất đang tranh chấp, thửa đất số
16 tờ bản đồ số 13 được cấp sổ là do Bố ông được Ông Điềm (là bố Ông thắm) giao,
sau đó để lại cho ông; Ngoài ra ông không cung cấp được tài liệu, chứng cứ, chứng minh
khai hoang hay mua bán chuyển nhượng nào khác về việc có được phần đất hiện đang
tranh chấp trong khi ông bà TH do mua bán mà có, đang trồng cây lâu năm, được sử
dụng liên tục, không bị nhà nước thu hồi; mặt khác, đây là đường vào thửa 12 duy nhất
của Ông bà TH và ngoài ra, theo sổ Ông A đã bán cho bà T thì còn có đất của gia đình
ông bà cường Thủy (Cường) 2,6m2 ;
Về sổ đỏ được cấp ngày 04/3/2019 của bà T thể hiện, thửa đất đang trang chấp
giáp đất bà Khoái là không đúng; Mà giáp thửa đất 16a (340m2) của bà Nguyễn Thị
Hoạt đang có nhà và vườn cây lâu năm là e gái ruột ông Thắm và giáp đất gia đình ông
bà TH Tại sơ đồ tổng thể giao đất tờ bản đồ số 13 ghi đất thửa 16a của HTX; cấp phúc
thẩm đã khắc phục bổ sung. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Xác định không có sự lấn chiếm đất, không có căn cứ về việc mượn đất của Ông
bàTH đối với gia đình Ông A bà Lương
Như vậy, có cơ sở xác định trình tự thủ tục xét duyệt cấp GCNQSDĐ cho hộ gia
đình ông A, bà Lương là không đúng, có sai sót. UBND cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất chồng lấn lên diện tích của hộ liền kề, sau đó diện tích này tiếp tục được chuyển
nhượng cho bên thứ ba là Bà ĐTT và được cấp đổi sổ mới.
Ông Bà TH khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho bà T là có cơ sở,
không nhất thiết phải hủy sổ đỏ ban đầu đã cấp cho Ông A (Ông A không xuất trình
được sổ đỏ gốc);
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) là quyết định hành chính, và Tòa án
có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định này khi có đơn yêu cầu.Việc
chuyển nhượng qua bên thứ ba không làm mất đi tính sai sót ban đầu.
Cấp sơ thẩm đã đánh giá: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
T với ông A xác lập ngày 12/11/2018. được công chứng, chứng thực .Về nội dung: Ông
A chuyển nhượng trong khuôn khổ diện tích đất ông được cấp năm 1999, không chuyển
nhượng ngoài diện tích đất ông được cấp hoặc diện tích đất của ai khác, quá trình đo
đạc để tách thửa cho bà ĐTT đúng quy định của pháp luật, được ký trong đó có cả ông
NXT, ký giáp ranh, HĐXX xét nguồn gốc đất gia đình ông NXT đang sử dụng và gia
đình ông ĐVA được cấp Giấy CNQSD đất theo quy định của pháp luật. Là chưa đảm
bảo pháp luật, bởi lẽ:
Việc cấp Sổ đỏ năm 1999 cho Ông A , trong đó có cả phần đất có cây trồng lâu
năm của Ông TH trồng năm 1991, trong khi hai bên đã có ranh giới, có nguồn gốc về
quá trình hình thành sử dụng, Biên bản giao nhận đất cho ông A sử dụng không có tứ
12
cận, hồ sơ chuyển nhượng cho bà T (BL 78, 207,208, 222 đến 225) và sổ đỏ ông TH
ranh giới thẩm định hiện trạng tứ cận và sổ đỏ, sơ đồ số 13 không đồng nhất dữ liệu.
Cấp chồng lấn ranh giới và sai sót khi đo đạc, diện tích dẫn đến diện tích trên sổ đỏ Ông
A, chuyển nhượng cho bà T có chiều sâu lớn hơn thực tế, lấn sang đất Ông bà TH.
Tóm lại: Cấp sơ thẩm đã căn cứ số liệu trên sổ đỏ, không so sánh số liệu khi đo
đạc hiện trạng đang sử dụng khi chưa đánh giá xem xét các tài liệu khác về nguồn gốc
và quá trình sử dụng, hiện trạng đất thực tế đất ổn định, có ranh giới rõ ràng của các
bên, các tài liệu khác thu thập được trong hồ sơ cấp quyền để quyết định là chưa toàn
diện theo quy định của luật đất đai và Bộ luật Dân sự.
Sổ đỏ khi có sai sót và tranh chấp: Không mặc nhiên có hiệu lực tuyệt đối ở phần
ranh giới sai; Sổ đỏ là chứng thư pháp lý nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, nhưng
nếu cơ quan nhà nước cấp Sổ dựa trên một hồ sơ đo đạc sai lệch thực tế (sai người tham
gia, hoặc nhầm chữ ký giáp ranh…), thì phần nội dung ranh giới, diện tích thể hiện
không đúng đó không phản ánh đúng bản chất quan hệ đất đai thực tế. Khi biên bản đo
đạc, sơ đồ hiện trạng và chữ ký giáp ranh bị sai lệch dẫn đến Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (Sổ đỏ) cấp sai, hiệu lực pháp lý của Sổ đỏ đối với phần diện tích/ranh giới sai
sót đó không được công nhận tuyệt đối sai sót về diện tích hoặc ranh giới bị xem xét
đính chính, điều chỉnh hoặc thu hồi theo quy định tại Điều 152 Luật Đất đai năm 2024;
Hội đồng xét xử Xét thấy căn cứ vào nguồn gốc đất, quá trình sử dụng thực tế,
hiện trạng sử dụng ổn định lâu dài cần công nhận Quyền sử dụng đất hợp pháp của Ông
NXT và Bà LTH đối với diện tích 170,7m2 thuộc một phần thửa đất số 12 tờ bản đồ
13. Tại bản MT, xã LP, tỉnh SL.
Từ phân tích trên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông NXT bà LTH
về việc yêu cầu hủy một phần sổ đỏ của bà ĐTT và không chấp nhận yêu cầu của
Nguyên đơn về việc trả lại 135m2 do ông bà đang là người quản lí sử dụng Điều 138 và
Điều 152 Luật Đất đai 2024.
Đối với yêu cầu của ông A về các diện tích khác giáp ranh, không xem xét trong
vụ án do vượt quá phạm vi khởi kiện.
Đối với yêu cầu của bà T được xem xét, đánh giá lại, bà không phải trả giá trị tài
sản trên đất cho ông bà TH và án phí có giá ngạch; như vậy kháng cáo được chấp nhận
một phần.
Đối với việc không đủ diện tích đất theo hợp đồng chuyển nhượng với ông bà A
Lương và bà T sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn yêu cầu theo
quy định.
Kiến nghị cơ quan chức năng Thu hồi/Điều chỉnh giảm diện tích trên sổ đỏ của
Ông ĐVA số 0482515 cấp ngày 28/12/1999 theo QĐ số 549 của UBND Huyện YC cấp.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan đăng ký đất đai có thẩm
quyền để chỉnh lý biến động diện tích, ranh giới đất hoặc cấp đổi lại Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo đúng hiện trạng thực tế đã được xác định tại bản án này.
13
[3] Từ những nhận định phân tích nêu trên chấp nhận một phần nội dung khởi
kiện - kháng cáo của nguyên đơn, một phần kháng cáo của bị đơn,
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 24/6/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 4 - tỉnh SL;
[4] về Án phí- chi phí tố tụng: Được xem xét lại theo Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;Căn cứ
Điều 138 và Điều 152 Luật Đất đai 2024 ; khoản 2 Điều 26; khoản 2 Điều 7; khoản 2
Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận:
Một phần nội dung kháng cáo, khởi kiện của nguyên đơn ông NXT, bà LTH;
Một phần kháng cáo của bị đơn bà ĐTT ;
Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông
ĐVA;
1.1 Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 24/6/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - SL, như sau: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn ông NXT, bà LTH về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy CNQSDĐ;
1.2.Công nhận Quyền sử dụng đất hợp pháp của Ông NXT và Bà LTH đối với
diện tích 170,7m2 thuộc một phần thửa đất số 12 tờ bản đồ 13. Tại bản MT, xã LP,
tỉnh SL ( sơ đồ đo trích đo ngày 18/3/2026 đính kèm theo, Phần diện tích đất có các
điểm mốc 1+9+16+17+18+19). tứ cận, như sau:
+ Phía Đông giáp đất ông ĐVA, hiện ông NXT (Hằng) đang sử dụng chiều dài là
10,86m;
+ Phía Nam giáp đất bà ĐTT đang sử dụng (phần đất trống) là 15,14m;
+ Phía Bắc giáp đất vườn của bà Nguyễn Thị Hằng là 12,91m + 2,09m = 15m;
+ Phía Tây: Giáp đất ông NXT, bà LTH, Bà Nguyễn Thị Hoạt đang sử dụng có
tứ cạnh là 12,22m;
1.3. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CI 219918 mang tên
Bà ĐTT theo QĐ số 200/QĐ-VPĐKĐĐ. Do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh SL cấp
Ngày 04/3/20219 liên quan đến phần diện tích 170,7m2 ( được xác định cấp chồng lấn
lên đất của Ông NXT, Bà LTH tại mục 1.2 Quyết định) Các phần diện tích đất còn lại
nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên của Bà ĐTT vẫn giữ nguyên
giá trị pháp lý.
14
2.Về án phí :
2.1.Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do bản án sơ thẩm bị sửa nên Ông NXT (H), bà ĐTT, ông A không phải chịu án
phí phúc thẩm.
2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông NXT, bà LTH không phải chịu án phí DSST do được chấp nhận một phần
nội dung kháng cáo, người khởi kiện được trả lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí
300.000đ theo biên lai số 0000699 ngày 10/11/2025 và 300.000đ tại biên lai số
0000003 ngày 02/7/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh SL.
+ Bà ĐTT phải chịu 300.000đ án phí DSST, được trừ vào số tiền đã nộp tại biên
lai thu số 0000035 ngày 13/7/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh SL; Được trả lại số tiền
nộp tạm ứng phản tố là 300.000đ tại Biên lai số 0000822 ngày 02/12/2025 tại Thi hành
án dân sự tỉnh SL;
+ Ông ĐVA phải chịu 300.000đ án phí DSST được trừ vào số tiền đã nộp tại
biên lai thu số 0000050 ngày 02/12/2023 tại Thi hành án dân sự tỉnh SL.
2.3. Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm - phúc thẩm:
Nguyên đơn đã chi phí xem xét thẩm định tại chỗ cấp sơ thẩm - phúc thẩm là:
15.433.000đ + 4.105.000đ = 19.538.000đ (đã giải quyết thu - chi đủ).
* Do việc khởi kiện được chấp nhận một phần nên Ông T (bà H), bà T, ông A
cùng phải chịu trách nhiệm về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mỗi người là 6.512.600đ
(19.538.000đ/3 người); do ông T đã nộp chi phí nên Buộc ông A, bà T phải có trách
nhiệm thanh toán lại cho Ông t, cụ thể:
- Buộc Bà ĐTT phải thanh toán lại cho Ông NXT số tiền 6.512.600đ ( Sáu triệu
năm trăm mười hai nghìn sáu trăm đồng)
- Buộc Ông ĐVA phải thanh toán lại cho Ông NXT số tiền 6.512.600đ ( Sáu
triệu năm trăm mười hai nghìn sáu trăm đồng)
Các đương sự được quyền đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai, chỉnh
lý diện tích thửa đất về hiện trạng đất sử dụng theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng
nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày
25/9/2026).
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7ª, 7
b
và 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự
15
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh SL;
- TAND khu vực 4 - SL;
- VKSND khu vực 4 – SL;
- Phòng giám đốc kiểm tra TAT.
- Thi hành án dân sự tỉnh SL;
- Các đương sự;
- Lưu HS-AV.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Mai Lan
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 33/2026/DS-PT Bản án số 33/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 33/2026/DS-PT Bản án số 33/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất