Bản án số 853/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 853/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 853/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 853/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà B yêu cầu ông D, bà T trả tiền vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 853/2026/DS-PT Bản án số 853/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 853/2026/DS-PT Bản án số 853/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Triệu Hữu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Đăng
Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thảo – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh L tham gia phiên tòa: ông Nguyễn
Khắc Phiên– Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh L xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 371/TLPT – DS ngày 09/6/2026 về việc “Tranh
chấp đòi lại tài sản và Hợp đồng góp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2026/ DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh L bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 521/2026/QĐ-PT ngày 14 tháng
5 năm 2026, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 838/2026/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm
2026, Thông báo tiếp tục phiên tòa phúc thẩm số 83/TB-TA ngày 15 tháng 9 năm 2026
và Quyết định hoãn phiên tòa số 966/2026/QĐ-PT ngày 22 tháng 9 năm 2026, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1963, CCCD số ************, cấp ngày
21/10/2023; vắng mặt
Địa chỉ: Số I, ấp E, xã T, tỉnh Vĩnh L.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Ngô Hoài T, sinh năm 1991. Địa
chỉ: Số I, ấp E, xã T, tỉnh Vĩnh L. Là đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền
ngày 11/6/2025); có mặt
- Bị đơn:
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH L
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 853/2026/DS – PT
Ngày 28 - 9 - 2026
V/v tranh chấp đòi lại tài sản
và Hợp đồng góp hụi
2
1/ Ông Ngô Văn D, sinh năm 1970, CCCD số ************, cấp ngày 13/4/2021.
2/ Bà Trần Ánh T, sinh năm 1974, CCCD số ************.
Cùng địa chỉ: Số B, ấp B, xã T, tỉnh Vĩnh L.
- Người kháng cáo: Bị đơn Ngô Văn D
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi và trong quá trình giải quyết nguyên đơn Phạm Thị B và người đại
diện hợp pháp trình bày:
Do quen biết với nhau nên bà B có cho vợ chồng ông Ngô Văn D và bà Trần Ánh
T nhiều lần vay tiền để phục vụ việc làm ăn và những lần vay tiền ông D, bà T đều có
làm biên nhận vay tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 08/11/2014 âm lịch ông D, bà T vay của bà B số tiền là 20.000.000
đồng.
Lần 2: Ngày 10/01/2015 âm lịch ông D, bà T vay của bà B số tiền là 20.000.000
đồng.
Lần 3: Ngày 28/2/2015 âm lịch ông D, bà T vay của bà B số tiền 20.000.000 đồng.
Lần 4: Ngày 22/03/2015 âm lịch ông D, bà T vay của bà B số tiền 20.000.000 đồng.
Lần 5: Ngày 13/09/2015 âm lịch ông D, bà T vay của bà B số tiền là 20.000.000
đồng
Lần 6: Ngày 07/12/2016 âm lịch ông D, bà T vay của bà B số tiền là 50.000.000
đồng.
Tổng số tiền 6 lần vay tiền là 150.000.000 đồng.
Sau khi vay vợ chồng ông D, bà T chỉ trả lãi cho bà B đến ngày 15/5/2017 âm lịch
sau đó không tiếp tục trả lãi nữa mà hứa hẹn là khi nào làm được giấy chứng nhận Quyền
sử dụng đất ở xã T thì bán trả tiền cho bà B nhưng đến nay chưa trả.
Cùng với việc vay tiền thì bà T rủ bà B chơi hụi do bà T làm chủ hụi, loại hụi
2.000.000 đồng mở ngày 22/3/2015 âm lịch đến 22/4/2017 âm lịch thì kết thúc với 26
phần hụi, mỗi tháng khui một lần, bà B tham gia 02 phần và đã đóng tiền hụi cho bà T
từ ngày 22/3/2015 âm lịch đến ngày 22/2/2017 âm lịch được 24 lần, do bà B hốt hụi
chót nên 2 tháng cuối bà B không cần đóng. Tiền huê hồng cho chủ hụi là 1.000.000
đồng/01 phần
3
Mỗi 01 phần hụi bà T phải giao cho bà B số tiền là 48.000.000 đồng. hụi bà B tham
gia 2 phần bà T phải giao cho bà B số tiền sau khi trừ tiền huê hồng là 94.000.000 đồng
nhưng từ thời điểm kết thúc hụi đến nay bà T không có giao cho bà B.
Nay bà B yêu cầu:
- Buộc vợ chồng ông Ngô Văn D và bà Trần Ánh T trả cho bà B tổng số tiền gốc
của 6 lần vay tiền là 150.000.000 đồng theo 06 biên nhận gồm: Biên nhận ngày
08/11/2014 âm lịch, biên nhận ngày 10/01/2015 âm lịch, biên nhận ngày 28/2/2015 âm
lịch, biên nhận ngày 22/03/2015 âm lịch, biên nhận ngày 13/9/2015 âm lịch, biên nhận
ngày 07/12/2016 âm lịch và tiền lãi với lãi suất 1% tháng tính từ ngày 15/5/2017 (ngày
ông D, bà T không trả lãi) đến ngày 15/6/2025 (ngày khởi kiện) là 97 tháng với số tiền
là 145.500.000 đồng
- Buộc bà Trần Ánh T và ông Ngô Văn D liên đới trả số tiền hụi chưa giao cho bà
B là 94.000.000 đồng.
*Tại bản khai ý kiến ngày 23/7/2025 bị đơn ông Ngô Văn D trình bày: Ông không
đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B. Vợ chồng ông không có nợ gì đối
với bà Phạm Thị B.
Thực tế, hiện vợ ông đã đi định cư ở nước ngoài, trước khi ra nước ngoài vợ ông
nói không có nợ người nào. Cá nhân ông cũng không hay biết việc giao dịch giữa vợ
ông và bà B xảy ra khi nào và có thật hay không.
Do đó, ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B.
* Tại đơn yêu cầu ngày 31/12/2025 của ông Ngô Văn D có nội dung:
Đối với các biên nhận ngày 08/11/2014; 10/01/2015; 28/02/2015; 23/03/2015;
13/9/2015 và 07/12/2016 mà bà B cung cấp cho Tòa án. Chứng tỏ, các biên nhận nêu
trên đã có từ 10 năm trước.
Các biên nhận nêu trên nếu có thì theo quy định của pháp luật thì cũng đã quá thời
hiệu khởi kiện. Ông yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu khởi kiện của bà
Phạm Thị B
Vì vậy, ông không cần phải chứng minh, thừa nhận hay yêu cầu giám định gì. Thực
tế, hiện vợ ông đã đi định cư ở nước ngoài, Tòa án yêu cầu ông cung cấp địa chỉ cụ thể
ở ngước ngoài của vợ ông, ông không cung cấp được, bởi vì hiện vợ đi vẫn đang ở nhà
thuê, nhà trọ địa chỉ thay đổi thường xuyên nên chưa có địa chỉ cụ thể ổn định và vợ ông
chỉ liên hệ được với ông qua điện thoại bằng sim gọi một lần còn ông thì không gọi lại
được
4
Tóm lại, ông không đồng ý đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B1.
đề nghị Tòa án xem xét áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị
B. Đồng thời, yêu cầu Tòa án xem xét trả lại đơn khởi kiện lại cho bà Phạm Thị B.
Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng
thời ông xin vắng mặt trong các phiên họp tố tụng, phiên hòa giải và xét xử của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Vĩnh L, do bị bệnh.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Trần Ánh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng
vắng mặt không có lý do.
Tại bản án sơ thẩm số 29/2026/DS – ST ngày 02/4/2026 của Toà án nhân dân khu
vực 2 – Vĩnh L, tuyên xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 147, Điều 184, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 2, 3 Điều
228, Điều 244, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 2 Luật người
cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 471,
Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 429, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị B về việc tranh chấp hợp
đồng góp hụi với bị đơn ông Ngô Văn D và bà Trần Ánh T.
Buộc bà Trần Ánh T và ông Ngô Văn D có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị
B số tiền gốc là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B về việc yêu cầu bà T và
ông D trả số tiền lãi 159.000.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 28/4/2026, bị đơn Ngô Văn D có đơn kháng cáo với nội dung: Huỷ bản án số
29/2026/DS – ST ngày 02/4/2026 do các biên nhận ngày 08/11/2024; 10/01/2015;
28/02/2015; 23/03/2015; 13/09/2015 và 07/12/2016 không phải chữ ký của ông, yêu cầu
Toà án thẩm định các biên nhận trên là chữ ký và chữ viết ông.
5
Chứng cứ kèm theo đơn kháng cáo: Không có.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn Ngô Văn D do người đại diện trình bày: ông D và bà T là vợ chồng hợp
pháp. Thống nhất kết quả giám định.
- Đại diện nguyên đơn trình bày: Thay đổi yêu cầu khởi kiện, rút yêu cầu khởi kiện
đối với 05 biên nhận do kết luận giám định không do ông D ký, yêu cầu ông D phải liên
đới cùng bà T trả 50.000.000 đồng; yêu cầu bà T trả 05 biên nhận tổng cộng 100.000.000
đồng.
Trong phần tranh tụng các đương sự thống nhất: Kết luận giám định số
1357/KLHS-KV1 ngày 18/9/2026 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh V.
Vấn đề không thống nhất: Nguyên đơn yêu cầu ông D, bà T liên đới trả 50.000.000
đồng, rút yêu cầu ông D liên đới với bà T trả 100.000.000 đồng và chỉ yêu cầu bà T trả
05 biên nhận. Đại diện ông D yêu cầu chỉ buộc ông D chịu 25.000.000 đồng theo biên
nhận ngày 07/12/2012 nhưng đại diện nguyên đơn không đồng ý.
Về chi phí giám định tring giai đoạn phúc thẩm nguyên đơn yêu cầu ông D chịu
nhưng đại diện ông D không đồng ý.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
là đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử
phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 148; Khoản 2 Điều 308 BLTTDS 2015; Điều
29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
+ Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Ngô Văn D.
+ Sửa bản án sơ thẩm số 21/2026/DS-ST ngày 31/3/2026, của Tòa án nhân dân khu
vực 11 - Vĩnh L theo hướng:
Buộc ông D liên đới cùng bà T trả cho bà B số tiền 50.000.000 đồng theo biên nhận
ngày 07/12/2016.
Buộc bà T trả cho bà B số tiền tổng cộng 100.000.000 đồng theo các biên nhận ngày
08/11/2014 AL, 10/01/2015 AL, 28/02/2015 AL, 22/3/2015 AL, 13/9/2015 AL.
6
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với việc yêu cầu ông Ngô Văn D
liên đới cùng bà T trả số tiền tổng cộng 100.000.000 đồng theo các biên nhận ngày
08/11/2014 AL, 10/01/2015 AL, 28/02/2015 AL, 22/3/2015 AL, 13/9/2015 AL.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn phát biểu về chi phí tố tụng, án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, lời trình
bày của các đương sự tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Tại biên nhận có ghi địa chỉ cụ thể bà T cùng địa chỉ với ông D. Quá
trình giải quyết vụ án, ông D do người đại diện hợp pháp trình bày ông D và bà T vẫn là
vợ chồng hợp pháp, bà T cũng không phản bác nội dung yêu cầu khởi kiện của bà B và
bà T vắng mặt không lý do. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn Ngô Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo các biên nhận nợ từ ngày 08/11/2014 AL đến ngày 07/12/2016 AL đều có chữ
ký của ông D, bà T với tổng số tiền gốc là 150.000.000 đồng, đây là sự thỏa thuận của
các bên về việc vay tiền phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự 2005. Bị đơn
ông D không thừa nhận có nợ bà B, nhưng kết quả giám định tại cấp phúc thẩm thể hiện
biên nhận ngày 07/12/2016 so với chữ ký của ông D làm mẫu so sánh là do cùng một
người ký ra nên có cơ sở xác định ông D đã ký nhận nợ số tiền 50.000.000 đồng theo
biên nhận ngày 07/12/2016.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu buộc
ông D liên đới vợ chồng với bà T trả số tiền 50 triệu đồng theo biên nhận ngày
07/12/2016 AL là có căn cứ. Đối với các biên nhận ngày 08/11/2014 AL, 10/01/2015
AL, 28/02/2015 AL, 22/3/2015 AL, 13/9/2015 AL, tổng cộng 100.000.000 đồng, ông D
không có nhận nên nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà T
trả 100.000.000 đồng là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận.
[3] Từ cơ sở pháp lý và đánh giá chứng cứ như đã nhận định trên, kháng cáo của bị
đơn là có căn cứ để chấp nhận một phần.
Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên
được chấp nhận toàn bộ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị
nên Hội đồng xét xử không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
7
[4] Về chi phí giám định: tổng cộng 6.200.000 đồng. Do kết quả giám định chứng
minh lời trình bày của nguyên đơn là có căn cứ nên ông D phải chịu toàn bộ theo quy
định tại khoản 1 Điều 161 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu 5.000.000 đồng (50% x 50.000.000 đồng);
bà T và ông D phải liên đới chịu 2.500.000 đồng (50% x 50.000.000 đồng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn D. Sửa bản án
dân sự sơ thẩm số 29/2026/DS-ST ngày 02/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Vĩnh
L.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị B.
1. Buộc bà Trần Ánh T có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị B số tiền 100.000.000
đồng (Một trăm triệu đồng).
Buộc ông Ngô Văn D liên đới với bà Trần Ánh T trả cho bà Phạm Thị B số tiền
50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án
(đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân
sự 2015.
2. Về chi phí giám định: Buộc ông Ngô Văn D phải chịu 6.200.000 đồng, trừ vào
số tiền tạm ứng, ông D đã nộp xong.
3. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu 5.000.000 đồng; bà T và ông D phải liên đới
chịu 2.500.000 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu.
Hoàn trả cho ông Ngô Văn D số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0008654
ngày 08/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh L.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
8
thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Chánh án;
- VKSND tỉnh Vĩnh L;
- TAND khu vực 2 -Vĩnh L;
- VKSND khu vực 2 - Vĩnh L;
- THADS tỉnh Vĩnh L;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Triệu H
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 853/2026/DS-PT Bản án số 853/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 853/2026/DS-PT Bản án số 853/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất