Bản án số 47/2021/HS-ST ngày 23/07/2021 của TAND huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về tội cưỡng đoạt tài sản (dùng hình ảnh nhạy cảm đe dọa)

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2021/HS-ST ngày 23/07/2021 của TAND huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về tội cưỡng đoạt tài sản (dùng hình ảnh nhạy cảm đe dọa)
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thanh Chương (TAND tỉnh Nghệ An)
Số hiệu: 47/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/07/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Bình
Ông Phạm Viết Tùng
- Thư phiên tòa: Trần Thị Anh Thư Thư Tòa án nhân dân
huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
tham gia phiên tòa:Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương,
tỉnh Nghệ ant xử sơ thẩm công khai
v ánnh s thẩm
thụ số 41/2020/TLST-
HS ngày 18 tháng 6 m 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra t x số:
67/2021/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ tên: Vi Văn D, sinh năm 1976 tại huyện TD, tỉnh NA; i trú:
Bản TS, NL, huyện TC, tỉnh NA; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn
hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính:Nam; tôn giáo:không; quốc tịch:Việt Nam; con
ông Vi Văn D, sinh năm 1946 Ngân Thị L, sinh năm 1953; Có v Lương
Thị V, sinh năm 1974; Con có 02 người, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất
sinh năm 2000; Anh, chị em ruột 06 người, bị cáo con thứ 03;Tiền án: Tiền
sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021 đến 25/02/2021. Hiện đang bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật : Đăng Tế - Cộng tác viên Trung
tâm TGPL Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Bị hại: Chị Quang Thị H, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Bản T, xã NL, huyện
TC, tỉnh NA. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 47/2021/HSST
Ngày 23/7/2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Vào đầu năm 2019, Vi Văn D chị Quang ThH, sinh
năm 1992 có quan hệ tình cảm yêu đương đã có nhiều lần quan hệ tình dục với
nhau. Đến tháng 12/2020, thì D chị H mâu thuẫn với nhau do chị H quan
hệ tình cảm với anh Lô Văn H, sinh năm 1994 nên chị H muốn chấm dứt tình cảm
với D. Nhưng còn tình cảm với chị H nên D đã nhiều lần nói chuyện, nhắn tin
với chị H qua mạng hội để đe dọa chị H nhằm níu kéo tình cảm nhưng chị H
không đồng ý. Ngày 05/02/2021, D hẹn chị H gặp nhau nhà nghỉ Bắc Lợixóm
5, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An để nói chuyện. Tại đây D và
chị H quan hệ tình dục với nhau. D đã dùng điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu
hồng quay lại hình ảnh nhạy cảm giữa D và chị H với mc đích để khống chế, ngăn
cản chị H yêu anh H.
Ngày 14/02/2021, D đã gửi 06 đoạn video do D quay tại nhà nghỉ ngày
05/2/2021 cho chị H qua mạng Zalo Facebook, đồng thời liên tục nhắn tín đe
dọa với nội dung nếu chị H còn tiếp tục yêu anh H thì D sẽ đưa các đoạn video lên
mạng hội yêu cầu chị H đưa cho D stiền 10.000.000 đồng thì D sẽ không
gửi các video lên mng hội. Ngoài ra D còn gửi 07 đoạn video quay cảnh nhạy
cảm giữa D và chị H cho anh Lô Văn Đ, sinh năm 1982 anh trai của anh H. Đến
ngày 15/02/2021, D tiếp tục nhắn tin đe dọa chị H yêu cầu chị H phải đưa cho D
số tiền 10.000.000 đồng. lo sợ nên chị H đã xin D xóa bỏ các đoạn video nói
trên nhưng D không đồng ý tiếp tục nhắn tin đe dọa yêu cầu chị H phải đưa cho
D số tiền 10.000.000 đồng. Sau nhiều lần nhắn tin thỏa thuận với nhau thì D đồng
ý bớt cho chị H số tiền 1.000.000 đồng.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/02/2021, D chị H hẹn gặp nhau tại
phòng số 3 nhà nghỉ Bắc Lợi xóm 5, Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh
Nghệ An để giao nhận tiền. Tại đây, chị H đã đưa cho D số tiền 5.000.000 đồng và
nói với D sẽ đưa tiếp số tiền còn thiếu thì D đồng ý. Khi D cầm số tiền 5.000.000
đồng chị H vừa đưa bvào túi quần bên phải của mình thì btổ công tác Công
an huyện Thanh Chương phát hiện bắt quả tang. Thu giữ: Số tiền 5.000.000 đồng;
01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO nàu hồng, 01 xe mô nhãn hiệu WAVE
RSX, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 37E1-022....
Ngày 24/02/2021, quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Chương
quyết định trưng cầu giám định số tiền D cưỡng đoạt của chị H thu giữ trong túi
quần bên phải khi bắt quả tang ngày 19/02/2021.
Tại Kết luận giám định s90/KL- PC09(Đ3) ngày 01/03/2021 của Phòng kỉ
thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Số tiền 5.000.000 đồng thu giữ khi
bắt quả tang Vi Văn D gửi giám định là tiền thật”
Ngày 12/4/2021, quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Chương
đã tiến hành mđiện thoại trích xuất dữ liệu từ điện thoại sang USB để trưng cầu
giám định các Video D đã gửi cho chị H và anh Đ dung lượng bao nhiêu
có phải là văn hóa phẩm đối trụy hay không.
Tại bản kết luận giám định s1251/KL-SVHTT ngày 19/5/2021 của Sở văn
hóa thể thao Nghệ An kết luận: 07 video Vi Văn D gửi cho n Đ chị
Quang Thị H dung lượng 242.293 KB (tương đương 0,231 GB) Các video gửi
đến giám định là văn hóa phẩm đồi trụy, khiêu dâm, kích thích ham muốn tình
dục...thể hiện bằng hành động, bằng hình ảnh, trái với thuần phong mỹ tục của dân
tộc được quy định tại Khoản 4 5 Điều 3, Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày
15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh
phòng, chống mại dâm. Các video này là văn hóa phẩm không được sản xuất, tàng
trữ, phổ biến, lưu hành mua bán vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định
tại Điều 16, Pháp lệnh số 10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về phòng chống mại dâm .
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ số tiền 5.000.000 đồng; 01
chiếc điện thoại VIVO, màu đỏ, bên trong chứa thẻ sim 03376620.... do chị H
giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, loại Galaxy
J4 do Văn Đ giao nộp; xe mô biển kiểm soát 37E1-002.... quan điều tra
đã được trả lại cho chị Quang Thị H, anh Lô Văn Đ và chị Lương Thị V (vợ của Vi
n D).
Đối với 01 chiếc điện thoại OPPO màu hồng thu giữ của Vi Văn D, quan
điều tra đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương; 01 USB
nhãn hiệu Kinhston 16GB, màu bạc được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 43/CT -VKS ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Vi Văn D về tội Cưỡng
đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh
Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bo
Vi Văn D phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản
Áp dụng: Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của
Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Vi Văn D t 12 đến 15 tháng cho hưởng án treo, thời
gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị
cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được trả lại bị hại, nay bị hại không u
cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại OPPO màu hồng thu giữ của
Vi Văn D ng cụ, phương tiện bị o dùng để phạm tội nên tịch thu nộp ngân
sách nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy 01 USB nhãn hiệu Kinhston 16GB, màu bạc .
Về án phí: Bị cáo Vi Văn D người dân tộc thiểu số sống xã có điều kiện
kinh tế - hội đặc biệt kkhăn do đó đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình
sự sơ thẩm cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận về chứng cứ tội danh mà
Viện kiểm sát truy tố bị cáo.Luật ý kiến bị cáo người dân tộc thiểu số,
sống trong khu vực 3 của vùng dân tộc thiểu số đặc biết khó khăn theo quy định
của Chính phủ do đó việc nhận thức về hội pháp luật của bị o nhiều
hạn chế, trong quá trình điều tra tại phiên toà thật thà khai báo, ăn năn hối cải;
bố đẻ bị cáo người công với cách mạng được tặng thưởng huân chương
kháng chiến; bị hại đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Luật đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của
Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm
sát đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo hoàn cảnh kinh tến khó
khăn, thu nhập thấp đề nghị miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo Vi Văn D thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà
Viện kiểm sát đã truy tố không bổ sung lời bào chữa của luật sư, không tranh
luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, n cvào các i liệu trong hsơ ván đã được
tranh tụng tại phiên a, Hội đồng t xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy
tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo;
bị hại không khiếu nại về các hành vi quyết định tố tụng của quan cảnh
sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của quan
tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vi Văn D khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị o phù hợp với vật chứng thu
được; phù hợp với lời khai của bị hại; kết luận giám định; lời khai người làm
chứng các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ ván đã được thẩm tra tại phiên
tòa.
Có đủ cơ sở kết luận: Giữa Vi Văn D và chị Quang Thị H, sinh năm 1992
quan hệ tình cảm với nhau. Khi chị H muốn chấm dứt tình cảm với D thì D không
đồng ý nên đã nảy sinh ý định ghi lại hình nh quan htình dục giữa hai người để
níu kéo tình cảm sau đó nhằm chiếm đoạt tài sản của chị Quang Thị H. Ngày
14 15/02/2021 D đã nhiều lần nhắn tin đe dọa, ép buộc chị Quang Thị H phải
đưa cho D số tiền 9.000.000 đồng, nếu không đưa D sẽ đưa các video quay cảnh
nhạy cảm giữa D và chị H lên mạng xã hội. Do lo sợ nên chị H đồng ý.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/02/2021, tại phòng số 3 nhà nghỉ Bắc
Lợi xóm 5, Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, khi Vi Văn D
mới chiếm đoạt được số tiền 5.000.000 đồng của chị H thì bị tổ công tác công an
huyện Thanh Chương phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội Cưỡng đoạt tài sản” tội phạm
và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự như cáo trạng
của Viện kiểm sát đã truy tố.
Hành vi phạm tội của bcáo đã xâm phạm đến quyền sở hửu về tài sản của
người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương do đó
cần thiết phải lên một mức án nghiêm.
[3] Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm nh sự:
Bị cáo là người nhân thân tốt; bị cáo không không tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nh sự người
phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ bị cáo người công với
cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến được quy định tại điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xem xét để giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy bị cáo nhân thân tốt, nơi t ràng và nhiều tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đó chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi
hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử cho bị cáo được ởng án
treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giao bị cáo cho chÝnh quyÒn ®Þa
phương giám sát, gi¸o dôc còng ®ñ nghiªm.
Bị o có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập thấp nên miễn hình phạt
tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại OPPO màu hồng thu giữ của
Vi Văn D ng cụ, phương tiện bị cáo dùng để phạm tội nên tịch thu nộp ngân
sách nhà nước.
Đối với 01 USB nhãn hiệu Kinhston 16GB, màu bạc được đánh số bút lục
186 là tài liệu, chứng cứ của vụ án do đó tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được trả lại bị hại, nay bị hại không u
cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Vi Văn D là người dân tộc thiểu số sống xã có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có ý kiến xin miễn án phí, do đó Hội đồng xét
xử miễn án phí hình sự thẩm cho bị cáo theo quy định tại Điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
Trong vụ án này Vi Văn D hành vi gửi các video cho anh Văn Đ
Quang Thị H, quá trình giám định được kết luận văn hóa phẩm đồi trụy. Tuy
nhiên, các video không đủ dung lượng và số người để truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với D về tội Tuyền văn hóa phẩm đồi trụy” quy định tại Điều 326 Bộ luật
Hình sự, nên quan điều tra đã có văn bản số 277/ CHA-HS chuyển hồ sơ đề
nghị Giám đốc ng an tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính đối với Vi Văn D
căn cứ và đúng pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65
của Bộ luật hình; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
1.Tuyên bố bị cáo: Vi Văn D phạm tội Cưỡng đoạt tài sản”
2.Xử phạt: Vi Văn D 15 (Mười lăm) tháng cho hưởng án treo.Thời gian
thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án
thẩm.
Giao bị cáo Vi Văn D cho Uỷ ban nhân dân xã TS, huyện TC, tỉnh NA giám
sát giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối
hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo
quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án thể
quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án
treo.
3.Về xử vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại
OPPO u hồng thu giữ của Vi Văn D công cụ, phương tiện bị cáo dùng để
phạm tội được đựng trong một phong thư niêm phong, mặt trước phong t
ghi: Vật chứng trong ván cưỡng đoạt tài sản xảy ra ngày 19/02/2021 tại Hạnh
Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2021 giữa
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An và Chi cục
thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An)
4.Về án phí: Miễn án án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn D.
5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
-VKSND tỉnh Nghệ An;
- VKSND huyện Thanh Chương;
- Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
- Công an huyện Thanh Chương;
- Bị cáo;
- Bị hại
- UBND xã TS,
(thay thông báo);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Văn Dũng
Tải về
Bản án số 47/2021/HS-ST Bản án số 47/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất