Bản án số 120/2026/HS-PT ngày 12/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 120/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 120/2026/HS-PT ngày 12/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 120/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T; Sửa bản án sơ thẩm số 123/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
——————————
Bản án số: 120/2026/HS-PT
Ngày: 12/5/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hoài Sơn
Các Thẩm phán: Ông Bùi Trọng Danh và ông Nguyễn Ngọc Anh
- Thư phiên toà ghi biên bản phiên toà: Nguyễn Thị Chiên - Thư
Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Đoàn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà
Nẵng xét xphúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 34/2026/TLPT-HS ngày
03/02/2026 đối với bị cáo Nguyễn Thị T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án
hình sự sơ thẩm số 123/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
10 - Đà Nẵng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyn Th T, sinh ngày: 20/10/1982 tại tỉnh Quảng Nam (nay thành phố
Đà Nẵng). Nơi trú: Tổ G, khối M, N, thành phố Đà Nẵng. Số căn cước công
dân: 049182007973 cấp ngày 27/6/2021, nơi cấp: Cục C về TTXH - BCA. Nghề
nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ. Tôn giáo:
Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn M (sinh năm 1940) và bà: Trần Thị
M1 (sinh năm 1950). Bị cáo con thba trong gia đình 03 anh em. chồng:
Nguyễn Trường H (sinh năm 1984) và có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất
sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi trú". mặt
tại phiên tòa.
- Ngoài ra, còn 03 (ba) bcáo khác gồm: Nguyễn V, Nguyễn Thị Ngọc D,
Nguyễn Thị Ngọc T1 không có kháng cáo và không bị kháng ngh.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH MTV T4, mã số doanh nghiệp 4001107257 được Phòng đăng
kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Q cấp ngày 03/4/2017 do Nguyễn Thị T
làm Giám đốc người đại diện theo pháp luật. Ngành nghề kinh doanh buôn
bán vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng.
Doanh nghiệp nhân P, số doanh nghiệp 0400418627 được Phòng đăng
kinh doanh - Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Q cấp ngày 16/3/2005 do Nguyễn V làm
chủ doanh nghiệp. Ngành nghề kinh doanh là kinh doanh vật liệu xây dựng, than đá
tại chân công trình, kinh doanh vận tải hàng hoá. Nguyễn Thị Ngọc T1 người quản
lý sổ sách kế toán của Doanh nghiệp.
Công ty TNHH T5, số doanh nghiệp 0401738281 được Phòng đăng
kinh doanh - Sở Kế hoạch Đầu tỉnh Q cấp ngày 23/02/2016 do Nguyễn Thị
Ngọc T1 (con gái Nguyễn V) làm Giám đốc. Nguyễn V là thành viên góp vốn của
Công ty T5. Nguyễn Thị Ngọc D là kế toán của Doanh nghiệp tư nhân P và Công ty
T5.
Năm 2022 và 2024, trong quá trình hoạt động, Doanh nghiệp PCông ty T5
đã thuê xe của các nhân (không họ tên, địa chỉ trú) vận chuyển gạch cho
công trình nhưng các nhân vận chuyển thuê không xuất hóa đơn kèm theo nên
Nguyễn V chỉ đạo T1 D liên hệ với Công ty T4 mua hóa đơn GTGT khống để hợp
thức cho khoản chi phí này. Được sự chỉ đạo của Nguyễn V và Nguyễn Thị Ngọc T1,
Nguyễn Thị Ngọc D trao đổi với Nguyễn Thị T - Giám đốc Công ty T4 để mua hóa
đơn vận chuyển gạch. Cũng trong thời gian này, Công ty T4 đã vận chuyển gạch cho
một số khách hàng đã thu tiền bao gồm cả tiền thuế GTGT nhưng khách hàng
không yêu cầu xuất hóa đơn. Khi Nguyễn Thị Ngọc D đặt vấn đmua hoá đơn thì
Nguyễn Thị T đồng ý bán hóa đơn với giá 9% tổng tiền chưa thuế ghi trên hóa đơn,
tuy nhiên D yêu cầu T tính giá bán hóa đơn là 10%, trong đó T hưởng 09%, D hưởng
01%.
Trước khi mua hóa đơn, T1 và D thống nhất nội dung, số tiền ghi trên hóa đơn
để D cung cấp cho T. Nguyễn Thị T chuyển nội dung Nguyễn Thị Ngọc D cung cấp
cho Trần Lê Thùy T2 - kế toán yêu cầu T2 xuất hóa đơn. Tổng cộng, Công ty T4 đã
xuất cho Công ty T5 11 hoá đơn, gồm:
- Xuất bán 08 hóa đơn cho Doanh nghiệp P với tổng tiền chưa thuế ghi trên
hóa đơn 1.470.436.500 đồng, tiền thuế GTGT là 117.634.920 đồng, tổng tiền sau
thuế là 1.588.071.420 đồng, cụ thể:
1. Hóa đơn GTGT số 00000015 ngày 29/7/2022 với tiền trước thuế là
231.136.574 đồng, số tiền sau thuế là 249.627.500 đồng.
3
2. Hóa đơn GTGT số 00000016 ngày 29/7/2022 với số tiền trước thuế
99.679.074 đồng, số tiền sau thuế là 107.653.400 đồng.
3. Hóa đơn GTGT số 00000024 ngày 30/8/2022 với số tiền trước thuế
158.296.389 đồng, số tiền sau thuế là 170.960.100 đồng.
4. Hóa đơn GTGT số 00000031 ngày 29/9/2022 với số tiền trước thuế
354.341.574 đồng, số tiền sau thuế là 382.688.900 đồng.
5. Hóa đơn GTGT số 00000038 ngày 29/11/2022 với stiền trước thuế
163.539.630 đồng, số tiền sau thuế là 176.622.800 đồng.
6. Hóa đơn GTGT số 00000048 ngày 31/12/2022 với tiền trước thuế
132.387.241 đồng, số tiền sau thuế là 142.978.220 đồng.
7. Hóa đơn GTGT số 00000024 ngày 22/10/2024 với stiền trước thuế
166.270.833 đồng, số tiền sau thuế là 179.572.500 đồng.
8. Hóa đơn GTGT số 00000027 ngày 22/11/2024 với stiền trước thuế
164.785.185 đồng, số tiền sau thuế là 177.968.000 đồng.
- Xuất bán 03 hóa đơn cho Công ty T5 với tổng số tiền chưa thuế ghi trên hóa
đơn 190.174.878 đồng, tiền thuế GTGT 15.213.990 đồng, tiền sau thuế
205.388.868 đồng, cụ thể:
1. Hóa đơn GTGT số 00000037 ngày 29/11/2022 với stiền trước thuế
102.166.667 đồng, số tiền sau thuế là 110.340.000 đồng.
2. Hóa đơn GTGT số 00000049 ngày 31/12/2022 với stiền trước thuế
68.774.044 đồng, số tiền sau thuế là 74.275.968 đồng.
3. Hóa đơn GTGT số 00000026 ngày 11/11/2024 với stiền trước thuế
19.234.167 đồng, số tiền sau thuế là 20.772.900 đồng.
Tổng tiền chưa thuế ghi trên 11 hóa đơn 1.660.611.378 đồng, thuế GTGT
ghi trên 11 hóa đơn 8% với tổng số tiền 132.848.910 đồng, tổng tiền thuế ghi
trên 11 hóa đơn là 1.793.460.288 đồng.
Sau khi xuất hóa đơn, T2 chuyển hóa đơn qua zalo cho T rồi T chuyển cho D.
Sau khi Công ty T4 xuất hóa đơn cho Doanh nghiệp P và Công ty T5 thì Nguyễn Thị
Ngọc T1 sử dụng số tài khoản của hai doanh nghiệp này chuyển số tiền thể hiện trên
hoá đơn đến tài khoản số 115002623527 mở tại ngân hàng V1 - Chi nhánh Q của
Công ty T4. Sau đó, Nguyễn Thị T sử dụng số tài khoản 103869631607 của T mở tại
ngân hàng V1 chuyển tiền đến tài khoản cá nhân số 16628427 của Nguyễn Thị Ngọc
T1 mở tại ngân hàng A tài khoản cá nhân số 1042732565 của bà Đoàn Thị Ngọc
D1 (mẹ ruột T1) mở tại ngân hàng V1 để trả lại số tiền này. Nguyễn Thị Ngọc T1
chuyển trả tiền mua 11 hóa đơn cho Nguyễn Thị T với số tiền 166.023.000 đồng
từ tài khoản số 16628427 mở tại ngân hàng A của T1 tài khoản số 1042732565
mở tại ngân hàng V1 của Đoàn Thị Ngọc D1 đến tài khoản số 103869631607 mở tại
ngân hàng V1 của Nguyễn Thị T. Sau mỗi lần nhận tiền bán hóa đơn, Nguyễn Thị T
4
chuyển lại cho Nguyễn Thị Ngọc D 01% như thỏa thuận với tổng số tiền
16.576.000 đồng từ tài khoản số 103869631607 của T đến tài khoản số 1012684561
của D mở tại Ngân hàng N. Nguyễn Thị T hưởng lợi với tổng số tiền là 149.447.000
đồng.
Xác minh tại Chi cục thuế khu vực Đ, tỉnh Quảng Nam; Chi cục thuế quận H
Chi cục thuế quận C - H, thành phố Đà Nẵng, xác định 11 hóa đơn Công ty T4
xuất bán khống cho doanh nghiệp nhân P ng ty T5, Công ty T4 đã kê khai
thuế đầu ra. Doanh nghiệp nhân P Công ty T5 sau khi mua 11 hóa đơn khống
của Công ty T4 đã sử dụng để kê khai khấu trừ thuế.
Ngày 12/3/2025, quan CSĐT Công an tỉnh Q (trước đây) ra Quyết định
trưng cầu giám định số 1609/QĐ-CSKT gửi Chi cục thuế khu vực XII yêu cầu giám
định thuế đối với Doanh nghiệp nhân P Công ty TNHH T5 liên quan đến 11
hoá đơn mua của ng ty T4. Tại Kết luận giám định 25/4/2025 Kết luận giám
định số 29/5/2025 của Chi cục Thuế khu vực X kết luận Doanh nghiệp tư nhân P
Công ty TNHH T5 hành vi sử dụng hoá đơn không hợp pháp để hạch toán hàng
hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền
thuế phải nộp là hành vi trốn thuế theo quy định tại khoản 4 Điều 143 Luật Quản lý
thuế năm 2019. Cụ thể:
- Doanh nghiệp tư nhân P trốn thuế liên quan đến 08 hoá đơn với số tiền thuế
GTGT 117.634.920 đồng, thuế TNDN 294.087.300 đồng. Tổng cộng số tiền
trốn thuế là 411.722.220 đồng.
- Công ty TNHH T5 trốn thuế liên quan đến 03 hoá đơn với số tiền thuế GTGT
là 15.213.990 đồng, thuế TNDN là 38.034.976 đồng. Tổng cộng số tiền trốn thuế là
53.248.966 đồng.
* Ti Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng đã quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố bcáo Nguyễn Thị T phạm tội“Mua bán trái phép hóa
đơn”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; các điểm b, s
khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bcáo Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị T 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định hình phạt đối với 03 bị cáo gồm:
Nguyễn V, Nguyễn Thị Ngọc D, Nguyễn Thị Ngọc T1; Quyết định về xử vật chứng
và biện pháp tư pháp, các vấn đề khác, án phí và quyền kháng cáo.
5
Sau khit xử sơ thẩm: Ngày 22/12/2025, b cáo Nguyễn Thị T kháng cáo xin
gim nh hình phạt. Đến ngày 20/4/2026, b cáo Nguyễn Thị T thay đổi kháng cáo
xin được chuyn hình pht tù sang pht tin.
* Ti phiên tòa phúc thm: B cáo Nguyễn Thị T tha nhn hành vi phm ti
và tội danh như bản án sơ thẩm đã kết lun; B cáo kháng cáo xin được chuyn hình
pht tù sang pht tin.
* Đại din Vin kim sát nhân dân thành ph Đà Nẵng có quan điểm v vic
gii quyết v án như sau:
V th tc: Đơn kháng cáo của b cáo Nguyễn Thị T có đầy đ ni dung theo
th tc kháng cáo và trong thi hạn nên đảm bo hp l.
V ni dung kháng cáo: Bản án hình sự thẩm số 123/2025/HS-ST ngày
12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng đã xét xử bo Nguyễn Thị
T về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm đ khoản 2 Điều 203 B lut hình
s căn cứ,đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt,
Tòa án cấp thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
cũng như đã xem xét về nhân thân của bị cáo, qua đó xử phạt bị cáo tương xứng với
tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo
đã nộp xong toàn bộ các khoản tiền, gồm: T3 thu lợi bất chính, tiền phạt bổ sung và
án phí hình sự sơ thẩm; có Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình hiện có 02 con nhỏ
cha mẹ già yếu, thường xuyên đau ốm, không còn khả năng lao động hiện đang
được bị cáo trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng… đây những tình tiết giảm trách nhiệm
hình sự mới được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thy, b cáo nhiu tình
tiết gim nh, quá trình gii quyết v án b cáo luôn thành khẩn khai báo ăn năn
hi ci v hành vi phm ti của mình. Căn cứ Điu 35 B lut hình s, đề nghị chấp
nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án thẩm phạt tiền (là hình phạt chính) đối
với bị cáo Nguyễn Thị T từ 180.000.000đ đến 200.000.000đng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Nguyễn Thị T Giám đốc Công ty TNHH MTV T4 được Sở Kế
hoạch và Đầu tư tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp với ngành nghề
kinh doanh là buôn bán vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng. Từ năm 2022 -
2024, Nguyễn Thị T đã hành vi xuất bán trái phép 11 hoá đơn giá trị gia tăng
khống với tổng tiền chưa thuế ghi trên 11 hóa đơn 1.660.611.378 đồng, thuế GTGT
ghi trên 11 hóa đơn 8% với tổng số tiền 132.848.910 đồng, tổng tiền thuế ghi
trên 11 hóa đơn là 1.793.460.288 đồng cho các doanh nghiệp, gồm: Doanh nghiệp
nhân P và Công ty T5 để hạch toán chi phí đầu vào ca doanh nghiệp nên các doanh
nghiệp trên đã nh vi trốn thuế, cụ thể: Doanh nghiệp nhân P trốn thuế với
tổng số tiền 411.722.220 đồng và Công ty T5 trốn thuế với tổng số tiền
53.248.966 đồng.
6
Trước khi mua bán hoá đơn, Nguyễn Thị T cùng với Nguyễn Thị Ngọc D
kế toán của 02 doanh nghiệp trên thống nhất nội dung, số tiền ghi trên hoá đơn để
Nguyễn Thị Ngọc D cung cấp cho Nguyễn Thị T bán hoá đơn. Tổng số tiền của 11
hoá đơn đã bán, Nguyễn Thị T nhận với tổng số tiền 166.023.000 đồng. Sau mỗi lần
nhận tiền bán hoá đơn, Nguyễn Thị T chuyển lại cho Nguyễn Thị Ngọc D 01% với
tổng số tiền là 16.576.000 đồng, còn Nguyễn Thị T hưởng lợi là 9% với tng số tiền
là 149.447.000 đồng.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Thị T phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận
giám định và các tài liệu, chứng cứ được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án
cấp sơ thẩm đã xét xử Nguyễn Thị T v tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm
đ khoản 2 Điều 203 B lut hình s căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp
luật.
[2] Xét đơn kháng o của bị cáo Nguyễn Thị T xin được chuyn hình pht
chính là pht tin, Hội đồng xét xử thấy rằng: B cáo T người có đầy đủ nhận thức
và chịu trách nhiệm trước các hành vi của nh, nhưng hám lợi nên bị cáo đã thực
hiện hành vi bán 11 hóa đơn thuế giá trị gia tăng ghi khống cho Doanh nghiệp tư
nhân P Công ty T5 để thu lợi bất chính với số tiền 149.447.000 đồng. Hành vi
phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản kinh tế, ảnh hưởng xấu đến môi
trường sản xuất kinh doanh do Nhà nước quản lý, hành vi mua bán trái phép hóa đơn
trực tiếp dẫn đến việc thu lợi bất chính cho người phạm tội và gây thiệt hại cho ngân
sách nhà nước thông qua các hành vi như trốn thuế hoặc hoàn thuế trái pháp luật. Do
đó, cũng cần phải xphạt bị cáo mức án đủ nghiêm khắc mới đảm bảo được tính răn
đe, ci tạo, giáo dục đối với bị o nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng, phòng ngừa
chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn,
ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tại giai đoạn điều tra bị cáo tự nguyện
nộp 50.000.000 đồng vào số tài khoản 3949.0.9041445.00000 của Công an thành phố
Đ tại Kho bạc Nhà nước Khu vực XIII theo Giấy nộp tiền ngày 31/7/2025 của Ngân
hàng C1 - Chi nhánh phòng G nhằm khắc phục hậu quả; nhân thân tốt, chưa
tiền án, tiền sự. Sau khi xét xử xong trước khi mở phiên toà phúc thẩm, bị cáo T
xuất trình thêm các chứng cứ thể hiện bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự thành phố
Đà Nẵng xong toàn bộ các khoản tiền, gồm: T3 thu lợi bất chính, tiền phạt bổ sung
án phí hình sự thẩm (Biên lai thu tiền số 0000776 ngày 12/3/2026 số tiền
40.200.000 đồng, trong đó 40.000.000 đồng thi hành tiền phạt bổ sung 200.000
đồng án phí sự sơ thẩm; Biên lai thu số 0001307 ngày 16/4/2026 có số tiền
99.647.000 đồng, trong đó 99.447.000 đồng tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng
án phí hình sự sơ thẩm; có Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình hiện có 02 con nhỏ
cha mẹ già yếu, thường xuyên đau ốm, không còn khả năng lao động hiện đang
được bị cáo trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng… đây những tình tiết giảm trách nhiệm
hình sự mới được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét x nhn thy,
b cáo có nhiu tình tiết gim nh, quá trình gii quyết v án b cáo luôn thành khn
7
khai báo, nhn thức được hành vi vi phm ca mình và t ra vô cùng ăn năn, hối ci,
đã nộp li toàn b số tiền thu lợi bất chính, tiền phạt bổ sung án phí hình sự
thẩm, bn thân b cáo nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên Hội đồng xét x thy chưa cần
thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự
chuyn hình pht t pht tù sang hình pht chính là pht tin đối với bị cáo, cũng có
tác dụng răn đe cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, ích cho xã hội.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án thẩm, phạt
bị cáo bằng hình phạt tiền (là hình phạt chính) theo như ý kiến đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính đã áp dụng là hình phạt tiền, nên
không áp dng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị T. Đối
với số tiền 40.200.000 đồng bị cáo Nguyễn Thị T đã nộp tại Biên lai thu tiền số
0000776 ngày 12/3/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng sẽ được khấu
trừ vào hình phạt chính.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị T phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355 điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật T
tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T; Sửa bản án thẩm số 123/2025/HS-
ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng.
2. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 180.000.000đồng (Một trăm tám
mươi triệu đồng) về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị T đã nộp 40.200.000.000 đồng (Bốn mươi triệu
hai trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số 0000776 ngày 12/3/2026 của Thi hành
án dân sự thành phố Đà Nẵng, bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền là 139.800.000đồng
(Một trăm ba mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng).
3. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
8
Bị cáo Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
+Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- Phòng HS nghiệp vụ - CATP Đà Nẵng;
- THADS thành phố Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 10;
- VKSND khu vực 10;
- Toà án nhân dân khu vực 10;
- Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên t
Trần Hoài Sơn
Tải về
Bản án số 120/2026/HS-PT Bản án số 120/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 120/2026/HS-PT Bản án số 120/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất