Bản án số 46/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 46/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 46/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 46/2025/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 46/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai |
Số hiệu: | 46/2025/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 27/06/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | BẢN ÁN |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƢỚC
Bản án số: 46/2025/DS-ST
Ngày: 27/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Xuân Thiều
Bà Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Vi - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Chơn
Thành, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa: Bà
Đỗ Thị Nở - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã
Chơn Thành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/20245/TLST-
DS, ngày 03/01/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: .112/2025/QĐXX-ST ngày 30/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số:
93/2025/QĐST-DS ngày 13/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh B , Sinh năm: 1979; Địa chỉ: Tổ 8, khu phố
Trung Lợi, phường H L , thị xã C T , tỉnh Bình Phước (Có mặt)
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H , sinh năm 1988;
Địa chỉ: Khu phố 3, phường Minh Hưng, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước (Có
mặt)
2. Bị đơn: Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Á , sinh năm 1990, Địa chỉ: Tổ 8, khu phố 3
B, phường M H , thị xã C Th , tỉnh Bình Phước (Có mặt).
Bà Nguyễn Thị D , sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ 8, khu phố 3 B, phường
M H , thị xã C T , tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh B và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H trình bày:
Vào ngày 29/9/2022 ông B có cho bà Á và bà D vay số tiền 250.000.000 đồng,
khi vay bà Á , bà D có thế chấp cho ông B một giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 520, tờ bản đồ số 1, có diện tích là 540,5m2, tọa lạc tại ấp 6, phường M H ,
2
thị xã C T , tỉnh Bình Phước, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 612963,
số vào sổ CS 13714, Được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp cho
Võ Thị Bích Tuyền, được thay đổi biến động tại trang 3 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị D vào ngày 28/6/2021. Bà D có làm giấy ủy
quyền cho ông Nguyễn Văn H tại phòng công chứng Trương Thanh H vào ngày
29/9/2022, số công chứng 00028432, quyển số 01/2022/TP/CC/HĐGD, vì số tiền
trên ông B vay ông H để đưa cho bà Á và bà D , thời hạn vay là 02 tháng với lãi
suất là 3%/tháng trong quá trình vay bà Á trả cho ông Bình được 05 tháng tiền lãi,
mỗi tháng là 7.500.000 đồng, sau đó Á không đóng lãi cũng không trả tiền gốc
cho ông Bình.
Nay ông B yêu cầu bà Á và bà D phải trả cho ông B số tiền gốc 275.000.000
đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/6/2023 đến 30/10/2024 là 73.040.000
đồng với lãi suất 1.66%/ tháng với số tiền gốc và lãi là 348.040.000 đồng và tiếp
tục tính lãi đến khi xét xử.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Á trình bày: Vào ngày 29/9/2022 bà Á có vay ông B
số tiền 250.000.000 đồng, để bà Á buôn bán, ông B và ông H là người đưa tiền
cho bà Á , thời hạn vay khi nào trả tiền thì báo trước cho ông B 01 tháng, lãi suất
là 3%/tháng. Khi vay ông B bắt thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(Thửa đất 520), vì thửa đất này mẹ bà Á là bà Nguyễn Thị D đứng tên nên bà D
đã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H (là em của ông Bình). Trong qúa trình vay
hàng tháng bà Á đóng lãi cho ông B từ 29/10/2022 đến 29/03/2023 mỗi tháng là
7.500.000 đồng. Còn tiền gốc thì bà Á chưa trả được cho ông B , còn số tiền
25.000.000 đồng không phải bà Á , bà D vay mà khi bà Á đòi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì ông B cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà D để
vay tiền chỗ khác nên số tiền 25.000.000 đồng ông B nói với bà Á là ông B chịu
trả lãi thay bà Á .
Nay ông B yêu cầu bà Á và bà Duyên trả cho ông B số tiền gốc là
275.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/6/2023 đến 30/10/2024 là
73.040.000 đồng và tiếp tục tính lãi đến khi xét xử thì bà Ánh chỉ đồng ý trả số
tiền gốc 250.000.000 đồng cho ông B , còn số tiền 25.000.000 đồng bà Á không
vay, còn tiền lãi phát sinh bà Á không đồng ý. Vì ông B là sai hẹn và cầm sổ của
bà Á đi cầm vay tiền của người khác, bà Á đã yêu cầu ông B trả sổ để bà Á trả
tiền nhưng ông B không trả sổ nên bà Á đã phải kiện ra Tòa án buộc ông B trả sổ
cho bà Á , Số tiền lãi bà Á đóng cho ông B là quá quy định pháp luật yêu cầu Tòa
án xem xét lại tiền lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày: Bà D không có vay tiền ông B mà con
gái bà D (tên Ánh) có tới nhà nhà bà D nói cho bà Á mượn sổ để vay tiền còn
vay tiền của ai thì tôi không rõ. Nhưng bà D có ra phòng công chứng Trương
Thanh H để thế chấp và làm giấy ủy quyền Nguyễn Văn H để cho bà Á vay tiền
với số tiền là 250.000.000 đồng, còn việc bà Á trả tiền cho ông B chưa thì bà D
không biết
Nay ông B yêu cầu bà D và Bà Á trả cho ông B số tiền gốc là
275.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/6/2023 đến 30/10/2024 là
73.040.000 đồng và tiếp tục tính lãi đến khi xét xử thì bà D không đồng ý với ý
kiến ông B . Vì bà Duyên không có vay tiền ông B , còn bà chỉ cho con giá bà Á
3
mượn sổ và ký hợp đồng ủy quyền cho ông H , còn việc con bà D (là Ánh) vay
của ông Bình thì bà Á trả không liên quan đến bà D .
Tại phiên tòa
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông H rút một phần yêu cầu khởi
kiện đối với tiền lãi và số tiền 25.000.000 đồng chỉ yêu cầu bà Á và bà D trả số
tiền 250.000.000 đồng tiền gốc và không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác
Bị đơn bà bà Á không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và không cung
cấp thêm chứng cứ, tài liệu gì thêm.
Bị đơn bà D Vắng mặt và không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu gì thêm.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ
án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc chấp hành theo quy định pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử
đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành theo quy định pháp luật của các đương sự, trong quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật tại các Điều 69, 70 và
Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn không chấp đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên
tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 92, Điều 147 Bộ luật tố tũng dân sự
Điều 280, 357,463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B ,. Buộc Nguyễn
Thị Á , Nguyễn Thị D phải trả cho ông B số tiền nợ gốc 250.000.000 đồng. Đối với
tiền lãi và 25.000.000 đồng tiền gốc tại phiên tòa ông H đã rút không yêu ầu Tòa án xem
xét nên đình chỉ đối với đối tiền lãi và 25.000.000 đồng tiền gốc. Việc đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn rút về lãi và một phần gốc là tự nguyện và phù hợp với quy định
pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
Buộc bà Á , bà D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và nội dung vụ án,
nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B khởi kiện bà Nguyễn Thị Á và bà Nguyễn Thị D vay
tiền, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về dân sự, trong đó quan hệ pháp luật
các bên tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều
26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Chương XVI mục 4 và các quy định khác có trong
Bộ luật dân sự năm 2015.
4
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Do tranh chấp về hợp đồng dân sự nên vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự và khi giải quyết Toà
án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nhân dân cấp huyện. Bị đơn bà Nguyễn Thị Á và
bà Nguyễn Nguyễn Thị D có địa chỉ tại tổ 8, khu phố 3, phường M H , thị xã C Th ,
tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã
Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Do ông Nguyễn Văn B có đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị
Á , bà Nguyễn Thị D nên Tòa án xác định ông B là nguyên đơn, bà Á , bà D là bị đơn
theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B , Hội đồng xét
xử nhận thấy:
[4.1]. Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn và đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp: Vào ngày 22/9/2022 ông B có cho Á , bà
D vay số tiền 2.50.000.000 đồng, bà D là người bảo lãnh thế chấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (thửa đất 520) để bà Á vay tiền, việc thế chấp vay tiền bằng cách bà
D ủy quyết toàn phần cho ông Nguyễn Văn H . Thời hạn vay là 02 tháng với lãi suất là
3%. Đến hạn trả nợ, bà bà Á , bà D không trả gốc và lãi cho ông B . Do đó ông B khởi
kiện yêu cầu bà Á , bà D phải thanh toán số tiền nợ gốc 275.000.000 đồng và tiền lãi
phát sinh tính từ ngày 01/6/2023 đến 30/10/2024 là 73.040.000 đồng và tiếp tục
tính lãi đến khi xét xử
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút về lãi với số tiền
73.040.000 đồng và số tiền gốc 25.000.000 đồng. Việc rút lãi và phần gốc là tự nguyện,
không ai ép buộc. Về phía bà Á thừa nhận việc bà Á có vay ông B số tiền là
250.000.000 đồng và có thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà D
để vay tiền, hai bên có làm hợp đồng ủy quyền tại văn phòng công chứng Trương Thanh
H , đến thời hạn trả nợ bà Á mang tiền đến trả để lấy sổ đỏ về thì ông B lại thế chấp cho
người khác để vay tiền nên không có có sổ đưa cho bà Á , vì vây bà Á đã khởi kiện yêu
cầu ông B trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ông B khởi kiện yêu cầu trả
số tiền 250.000.000 đồng thì bà Á đồng ý nhưng do ông B sai hẹn lúc bà Á có tiền thì
ông B không trả sổ nên khi nào có tiền thì bà Á trả cho ông B . Về phía bà D cho rằng
bà không vay ông B mà chỉ đồng ý cho con bà là bà Á mượn sổ để bà Á vay tiền, việc
vay tiền bà có ủy quyền thửa đất trên cho ông Nguyễn Văn H , tại phòng công chứng
Trương Thanh H chứ bà không vay của ông B , Nay ông B khởi kiện bà D cùng với bà
Á trả nợ cho ông Bình số tiền 250.000.000 đồng thì bà không đồng ý, vì số tiền nay bà
Á là người trực vay.
Từ những chứng cứ tài liệu và lời khai của các đương sự Hội đồng xét xử xét
thấy: Việc các đương sự đều thống nhất thừa nhận có vay số tiền 250.000.000 đồng vào
ngày 22/9/2025 và thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa đất 520) đứng
tên bà D bằng hình thức bà D bảo lãnh, ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H để vay số tiền
250.000.000 đồng, sự việc các đương sự thừa nhận không cần phải chứng minh tại Điều
92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Á
thừa nhận chưa trả tiền cho ông B là do ông Bình thế chấp giấy chứng nhận cho người

5
khác (Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa 520) và hợp đồng ủy quyền, bà
D đã khởi kiện ông B bằng bản án số 19/2024/DS-ST, ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân
dân thị xã Chơn Thành nên HĐXX không xem xét) cho rằng ông B có lỗi sai hẹn nên
khi nào bà Á có tiền mới thanh toán cho ông B , việc này không được nguyên đơn chấp
nhận và không có cơ sở để Hội đồng xét chấp nhận yêu cầu của bà Á . Về phía bà D
không đồng ý trả tiền cho ông B ., Vì bà D cho rằng, bà không vay ông B , nhưng chính
bà D là bảo lãnh cho bà Á mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp và ủy
quyền toàn quyền cho ông H tại văn phòng công chứng Trương Thanh H , để bà Á vay
số tiền 250.000.000 đồng của ông B nên việc ông B khởi kiện buộc bà D trả cho ông
Bình số tiền 250.000.000 đồng cùng với bà Á là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.
Đối với tiền lãi 73.040.000 đồng và tiền gốc 25.000.000 đồng tại phiên tòa
đại diện theo ủy quyền đã rút không yêu cầu bà Á , bà D phải trả, việc rút yêu cầu
là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông H
được Hội đồng xét xử chấp nhận, nên ông H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà
Á , bà D phải chịu án phí theo qui định. Cụ thể: 250.000.00 đồng x 5% = 12.500.000
đồng (Mười triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
[6]. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo
bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; 92,Điều 144,
147, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 280, 351, 429, 463, 466 và 469 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B .
Buộc bà Nguyễn Thị Ánh và bà Nguyễn Thị D có trách nhiệm trả cho ông
Nguyễn Văn B số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng)
Đình chỉ phần lãi lãi 73.040.000 đồng và tiền gốc 25.000.000 đồng mà
nguyên yêu cầu.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi
hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn B không phải chịu án phí dân sự
sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền 8.700.000đồng (Tám triệu bảy trăm
nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
theo biên lai số 0004686, ngày 31/12/2024.
6
Bà Nguyễn Thị Á , bà Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là
12.500.000 đồng ( Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng).
3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc niên yết.
4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui
định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Hồ Thị Xuân Thiều – Lƣơng Thị Thu An
THẨM PHÁN
CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lê Văn Ngọc
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Phước;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
- VKSND thị xã Chơn Thành;
- CCTHADS thị xã Chơn Thành;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Lê Văn Ngọc
8
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Phạm Xuân Đính – Lƣơng Thị Thu An
THẨM PHÁN
CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lê Văn Ngọc
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Bản án số 905/2025/DS-PT ngày 13/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Bản án số 865/2025/DS-PT ngày 05/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm