Bản án số 440/2026/HS-ST ngày 09/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 440/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 440/2026/HS-ST ngày 09/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 440/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 440/2026/HS-ST Bản án số 440/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 440/2026/HS-ST Bản án số 440/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – HÀ NỘI
Bản án số: 440/2026/HS-ST
Ngày: 09/9/2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Ngô Thanh Xuân
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai (Giáo viên)
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lệ Quyên, Thư ký TAND Khu vực 5 – Hà Nội
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Văn Cường, Kiểm sát viên.
Ngày 09/9/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 438/2026/TLST-HS ngày
21/8/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 452/2026/QĐXXST-HS
ngày 24/8/2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN KIỀU A, sinh ngày 19/11/2008 (phạm tội khi
17 tuổi 06 tháng 23 ngày); giới tính: Nữ; CCCD số 03430800xxxx;
HKTT: thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên; trình độ học vấn: lớp 10/12; nghề
nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo:
Không; con ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thái H; Theo D chỉ bản số 1071
ngày 19/6/2026 và Trích lục tiền án, tiền sự của Công an thành phố H lập
ngày 06/8/2026 thể hiện: Không có Tiền án, tiền sự; Bị bắt khẩn cấp, tạm
giữ từ ngày 11/6/2026, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T -
Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
1) Bà Trần Thái H, sinh năm 1990; địa chỉ: số C ngõ H T, phường T,
tỉnh Hưng Yên (Có mặt).
2) Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1987; địa chỉ: TDP số B, phường T,
tỉnh Hưng Yên (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nghiêm Thị N – Trợ giúp viên
pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt).
* Người làm công tác xã hội tham gia tố tụng: Bà Vũ Thị Thu H1 –
Chuyên viên Phòng Văn hóa – Xã hội, UBND xã Đ, tỉnh Hưng Yên, tham
gia tố tụng phiên tòa hỗ trợ bị cáo Nguyễn Kiều A (Vắng mặt tại phiên tòa,
2
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết từ trước nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/05/2026,
Đ, H2 và Kiều A cùng nhau đi ăn và xem phim. Đến khoảng 21 giờ cùng
ngày cả ba đi về đến sảnh tòa nhà R1.05 khu đô thi Vinhomes O, xã G thì
Đ rủ H2, Kiều A sử dụng ma túy thì H2 và Kiều A đồng ý. Sau đó, Kiều A
sử dụng số tài khoản số 346389696 mang tên Trần Thái H (mẹ của Nguyễn
Kiều A) mở tại ngân hàng V chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản ngân
hàng C mở tại ngân hàng V1 của Đ và chuyển 700.000 đồng vào tài khoản
V2 số 9899996542 của H2 mục đích để Đ trả tiền mua ma túy và H2 trả
tiền thuê phòng để cả nhóm sử dụng ma túy. Sau khi nhận được tiền, H2 là
người liên hệ qua mạng xã hội thuê phòng 2215A tòa S2.01 V, xã G, Hà
Nội để nhóm sử dụng ma túy, còn Đ liên hệ qua Zalo với người có tên là
“Nguyễn Quang A1” để mua 2.000.000 đồng tiền ma túy Ketamine, Quang
A1 đồng ý bán và gửi mã QR để Đ chuyển tiền mua ma túy, hẹn giao dịch
tại khu vực tòa S2.01 Vinhome Ocean Park. Sau đó Đ chuyển 2.000.000
đồng vào tài khoản có tên “Trần Thị T”, số 093028699, mở tại ngân hàng
V để trả tiền mua ma túy.
Khoảng 00h10 ngày 11/06/2026, “Nguyễn Quang A1” gửi cho Đ
video nơi giấu ma túy tại hòm thư ở dưới hầm nhà xe B1 tòa S2.01 để Đ
xuống lấy. Đ xuống vị trí giấu ma túy và lấy ma túy mang lên phòng
2215A. Tại bàn ăn phòng khách, Đ đổ ma túy Ketamine ra và “xào” ma
túy, Đ sử dụng 2 đường Ketamine sau đó đưa cho H2 sử dụng. Khi Đ và
H2 đang sử dụng ma túy, thì Kiều A đi từ phòng ngủ ra, Đ đưa ma túy cho
Kiều A sử dụng. Đến khoảng 02 giờ ngày 11/6/2026, thì Cơ quan Công an
kiểm tra, phát hiện và đưa các đối tượng vê trụ sở làm rõ.
Thu giữ đồ vật, tài sản:
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000
đồng và 01 túi ni lông đều dính tinh thể màu trắng.
- 01 điện thoại di động Iphone 17 Promax màu trắng thu giữ của
Nguyễn Kiều A.
Tại Bản kết luận giám định số 5080/KL-KTHS ngày 20/6/2026
của phòng K (PC09) – Công an thành phố H xác định:
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000
đồng và 01 túi ni lông đều dính ma túy loại Ketamine.
Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Kiều A dương tính với
ma túy Ketamine.
3
Bản cáo trạng số 247/CT-VKSKV5 ngày 17/8/2026 của Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội đã truy tố Nguyễn Kiều A về tội “Tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật
Hình sự.
Tại phiên tòa:
* Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội truy tố là đúng
với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm
nhẹ mức án để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
* Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi
phạm tội, đánh giá nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội
đồng xét xử:
- Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 255, Điểm s Khoản 1 Điều 51, các
Điều 17, 58 và 38 của BLHS, Điều 12 và Khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp
người chưa thành niên: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kiều A phạm tội “Tổ chức
sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt chính: Đề nghị xử phạt bị cáo Kiều A từ 04 năm 04
tháng đến 04 năm 08 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo là người chưa thành
niên.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106
BLTTHS: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại iphone 17
Promax màu trắng thu giữ của Nguyễn Kiều A.
- Bị cáo phải chịu án phí HSST.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ:
+ Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh. Đề
nghị HĐXX cân nhắc khi lượng hình vì bị cáo khi phạm tội là người chưa
thành niên, chưa hoàn thiện về thể lực lẫn trí lực; bị cáo phạm tội lần đầu,
trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị cáo luôn thể hiện thái độ hợp tác,
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo do không được học hết phổ
thông nên nhận thức về xã hội và pháp luật đều hạn chế; hoàn cảnh gia đình
bố mẹ ly hôn, bị cáo ở với mẹ còn bố mải làm ăn xa có phần lơ là không
quan tâm sát sao... nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm
nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS, cho bị cáo được hưởng mức
án nhẹ hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo sớm trở về gia
đình có cơ hội làm lại cuộc đời.
- Đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: cháu Kiều A tuổi còn nh,
bị bạn b lôi kéo dụ dỗ, chưa nhận thức đầy đủ về mức độ sai trái của hành
vi nên đã nhất thời phạm tội. Cháu mắc phải lỗi lầm cũng một phần do sự
4
lơi lng quản lý của gia đình; tại phiên tòa hôm nay chúng tôi xin nhận lỗi
chưa làm tròn trách nhiệm trong việc giáo dục con. Gia đình tôi tha thiết đề
nghị HĐXX cho cháu được hưởng mức án thấp nhất để cháu có cơ hội sửa
sai, làm lại cuộc đời, gia đình có cơ hội uốn nắn và cam kết sẽ giám sát,
giáo dục cháu để trở thành công dân lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án
đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời
khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi
phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù
hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng
xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày
11/6/2026, Nguyễn Kiều A cùng Lê Vũ Duy Đ và Nguyễn Hoàng H2 đã
bàn bạc, thống nhất cùng nhau thực hiện một chuỗi các hành vi rủ rê, góp
tiền mua ma túy, bố trí, sắp xếp con người, địa điểm, chuẩn bị công cụ,
phương tiện để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể của bản thân và người
khác (cho từ 02 người trở lên). Trong đó, Nguyễn Kiều A là người trực tiếp
chuyển 2.000.000 đồng cho Đ để thanh toán tiền mua ma túy và 700.000
đồng cho H2 để thanh toán tiền thuê căn hộ làm địa điểm sử dụng. Đến
khoảng 02 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra kiểm tra phát hiện bắt
giữ cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Kiều A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b Khoản 2
Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội truy tố bị
cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
[2] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến
quyền kiểm soát các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh
hưởng đến sức khoẻ cộng đồng. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm theo quy
định của pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo thực hiện hành vi với vai
trò là người thực hành, giúp tạo điều kiện vật chất để việc tổ chức sử
dụng ma túy được thực hiện; vai trò thấp hơn người khởi xướng và người
trực tiếp mua, chuẩn bị ma túy.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; quá
trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo “thành khẩn khai báo” và thể hiện
5
thái độ “ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị cáo có ông, bà ngoại là người đã
tham gia công tác trong Quân đội. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 và Khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn thì phải áp
dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khi đời sống xã
hội một thời gian nhưng thấp hơn đề nghị của đại diện VKS cũng đủ để
giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo theo
quy định tại Khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự và Khoản 6 Điều 12 .
[5] Xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone 17 Promax, màu trắng thu giữ của Nguyễn Kiều A được sử dụng để
chuyển tiền cho Đ và D1 mua ma túy và thuê phòng. Do vậy cần tịch thu
sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 47
của Bộ luật Hình sự và Đ1 a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình
sự.
[6] Các vấn đề khác:
[6.1] Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Kiều A 17
tuổi 06 tháng 23 ngày. Căn cứ Luật tư pháp người chưa thành niên và
Hướng dẫn số 92/TANDTC-PL ngày 12/02/2026 của Tòa án nhân dân Tối
cao, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H đã tiến hành Tách vụ án Tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 11/6/2026 tại KĐT
Vinhomes Ocean P, xã G, Hà Nội để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử
riêng đối với Nguyễn Kiều A nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của người chưa
thành niên phạm tội là phù hợp.
Do Nguyễn Kiều A bị khởi tố về tội phạm rất nghiêm trọng nên căn
cứ Điểm d Khoản 2 Điều 38 Luật Tư pháp người chưa thành niên, các cơ
quan tiến hành tố tụng không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối
với Kiều A.
[6.2] Các vật chứng là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm
tội thu giữ của Lê Vũ Duy Đ và Nguyễn Hoàng H2 được tách và xử lý
cùng với việc xử lý Đ, H2 là đúng quy định.
[6.3] Đối với người bán ma túy cho Lê Vũ Duy Đ: Tài khoản ngân
hàng mang tên Trần Thị T được sử dụng để nhận tiền mua ma túy. Cơ quan
Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đang tiếp tục điều tra, làm rõ
người bán ma túy trong vụ án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” phát
hiện ngày 11/6/2026 tại xã G, Hà Nội (có bị can là Lê Vũ Duy Đ và
Nguyễn Hoàng H2), nên không xem xét, xử lý trong vụ án này.
6
[6.4] Đối với bà Trần Thái H: Quá trình điều tra xác định Nguyễn
Kiều A sử dụng tài khoản ngân hàng của bà Trần Thái H (mẹ đẻ của Kiều
A) để chuyển tiền, bà H không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra –
Công an thành phố H không xem xét, xử lý đối với bà Trần Thái H.
[6.5] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người đại diện
và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 255, Điểm s Khoản 1, Khoản 2
Điều 51, các Điều 17, 38, 46, 47 và 58 của Bộ luật Hình sự; các Điều 12,
38 và 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên; các Điều 106, 136, 331
và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kiều A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy”;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Kiều A 04 năm 03 tháng (bốn năm ba
tháng) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2026;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại Iphone
17 Promax màu trắng hiện đang lưu giữ tại Kho vật chứng thuộc Công an
thành phố H, theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày
09/9/2026.
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo được
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các bị cáo;
- VKSND KV5-Hà Nội;
- VKSND TP. Hà Nội;
- TAND TP. Hà Nội;
- PV06-Công an TP. Hà Nội;
- THAHS TAND KV5-Hà Nội;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 440/2026/HS-ST Bản án số 440/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 440/2026/HS-ST Bản án số 440/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất