Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 44/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tam Bình (TAND tỉnh Vĩnh Long)
Số hiệu: 44/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/05/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nà và bà Dung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TAM BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 44/2024/DS-ST
Ngày: 02 5 2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Tiến
2. Ông Nguyễn Văn Mua
Tphiên tòa: Sơn Thị Chanh Thu - Thư Tòa án nhân dân huyện Tam
Bình, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham
gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến
hành xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 156/2022/TLST-DS ngày 21
tháng 02 năm 2022, vviệc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST DS ngày 04 tháng
3 năm 2024 Quyết định hoãn phiên toà số: 44/2024/QĐST DS ngày 25 tháng 3
năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương A N, sinh năm 1978 (Có mặt)
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Bà Mai Kim D, sinh năm 1956 (Có mặt)
Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện theo ủy quyền của bà D: Anh Lê Thanh V, sinh năm 1976 (Có mặt)
Nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Mai Thị M, sinh năm 1960 (Có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
2/ Ông Mai Văn B, sinh năm 1966 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
2
3/ Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1952 (Có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 19/4/2022, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
Trương A N trình bày:
Vào ngày 18/12/2012, Trương A N nhận chuyển nhượng phần đất từ ông
Mai Văn B thửa 67, tờ bản đồ số 32, diện tích đo đạc thực tế là 263,7m
2
, loại đất ở và
trồng cây lâu năm do Mai Kim D đứng tên giấy chứng nhận quyền đất, tọa lạc ấp
M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long với giá 20.000.000 đồng, có làm hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất có chứng thực của Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Long.
Khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại nhà N gồm có ông B, công
chứng viên, N ông Đ, ngoài ra không ai khác và hợp đồng chuyển nhượng
ngày 18/12/2012 đã ch sẵn của công chứng viên đóng dấu sẳn trước.
Chữ của D trong hợp đồng D trước, tại thời điểm tên tại nhà N
thì D không mặt. N giao tiền 20.000.000đồng cho ông B, lúc giao tiền
không mặt D ông B giấy ủy quyền từ D, việc giao tiền làm biên
nhận, nhưng N không giữ giấy. Bà N cũng không thấy bất kỳ giấy tờ ủy quyền nào
từ bà D cho ông B mà chỉ nghe ông B nói miệng.
Từ khi mua đất từ năm 2012 cho đến nay bà N không trực tiếp quản lý sử dụng, bà N
chỉ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực tế thì không có canh tác.
Khi nhận chuyển nhượng thì bà N chỉ xem trên giấy tờ là bà D đứng tên, ông B cũng
chỉ vị trí phần đất cho N biết nên bà N đồng ý hợp đồng chứ không đi xem
đất. Khi chuyển nhượng đất thì không căn nhà, đến năm 2021 thì D mới xây
nhà, khi xây thì bà N không hay biết.
Từ năm 2012 đến năm 2021, tmới biết trên đất N mua gắn căn nhà của
D, N biết do mẹ bà Phan Thị C và em trai Trương Bình T, sinh đi lại phần
đất đó đxem về nói lại với N. do anh T đi lại xem vào khoảng năm
2017, bà N bán phần đất này lại cho anh T với giá 50.000.000 đồng, việc mua bán
chỉ nói miệng không làm giấy tờ, N đã nhận đủ tiền của anh T giao nhưng chưa
làm thủ tục sang tên qua cho anh T. Hiện nay phần đất này bà N vẫn đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay bà N yêu cầu bà D và bà M có trách nhiệm liên đới di dời nhà và trả lại phần đất
thửa 67, tbản đồ s32, diện tích đo đạc thực tế là 263,7m
2
, loại đất trồng cây
lâu năm doTrương A N đứng tên giấy chứng nhận quyền đất, tọa lạc ấp M, xã M,
huyện T, tỉnh Vĩnh Longbà N không bồi hoàn tiền di dời. Trong trường hợp bà D,
M không di dời nhà trả đất cho N thì N yêu cầu D, M trách nhiệm
liên đới trả lại số tiền đất theo gthị trường hiện nay 250.000.000đồng. Ngoài ra
không có yêu cầu gì thêm.
- Bị đơn bà Mai Kim D có anh Lê Thanh V là đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Mai Kim D phần đất tại thửa 67, tờ bản đồ s32, diện tích đo đạc thực tế
263,7m
2
, loại đất ở và trồng cây lâu năm do bà Mai Kim D đứng tên giấy chứng nhận
3
quyền đất, tọa lạc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, trên đất gắn căn nhà do
nhà nước xây dựng cho Mai Thị M (em ruột D) người khuyết tật, căn nhà
được xây dựng vào năm 2020, M D cùng sinh sống trong nhà này. Nguồn
gốc đất của cha mẹ để lại cho D vào khoảng 1992, bà D quản sử dụng đất từ
năm 1992 đến năm 2008 thì mới đo đạc được cấp giấy chứng nhận quyền quyền
sử dụng đất năm 2009.
Vào năm 2012, ông Mai Văn B (em ruột bà D) muốn vay tiền ngân hàng nên đến gặp
D mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 67 thế chấp vay tiền của
ngân hàng, không biết vay ngân hàng nào với số tiền là 5.000.000đồng và hứa với bà
D là 20 ngày sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng sau đó thì ông B
không trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho D. D tên cho ông B
vay tiền nhưng nội dụng thì không biết vì D không biết chữ chỉ biết viết tên D
thôi.
Đến năm 2016, ông Đặng Văn Đ qua gặp bà D nói ông B đã cầm cố thửa đất của
ông B cho ông Đ rồi nhưng chỉ nghe nói bằng miệng chứ không thấy được giấy cầm
cố đất với giá 20.000.000đồng. Ngày 01/4/2016 D thỏa thuận với ông Đ xin
chuộc lại D đã đưa cho ông Đ 10.000.000đồng vào ngày 01/4/2016 làm
biên nhận chữ ký của ông Đ,ly do D giao tiền cho ông Đ phần đất ông B cố
cho ông Đ có sử dụng chung đường nước với bà D. Riêng số tiền 10.000.000đồng bà
D đã đưa ông Đ D không ý kiến hay yêu cầu trong vụ kiện này để D
giải quyết riêng với ông Đ.
Khi xây nhà thì bà D có báo cho ông Đặng Văn Đ biết ông Đ có nói là xây thì cứ xây
đi chừng nào có tiền thì trả sau.
Trong quá trình sử dụng đất từ năm 1992 đến năm 2019 trên đất nhà của D
bà M đang sinh sống không ai tranh chấp, đến năm 2020 thì được nhà nước cất
nhà tình thương, sau khi xây nhà tình thương được hơn một năm thì phía N mới
ra tranh chấp. Việc tranh chấp xảy ra là vào ngày 02/2/2022, mẹ bà Trương A N là bà
Phan Thị C qua gặp D nói ông B đã bán đất này cho Trương A N kêu
D phải dở nhà để trả lại đất. D nói không có bán nên hai bên xảy ra tranh chấp và
dẫn đến việc N khởi kiện bà D.
D thừa nhận chữ trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
18/12/2012 của bà, khi tên thì ông B dẫn D đi Vĩnh Long ký, D không
biết chỗ đó chỗ nào, khi tên D không đọc nội dung cũng không ai đọc
cho D nghe, ông B chỉ nói với D để vay tiền ngân hàng 5.000.000đồng
chứ không có nói là bán đất gì hết.
Nay D không đồng ý di dời nhà ra khỏi phần đất và yêu cầu tiếp tục quản sử
dụng phần đất tại thửa 67, tờ bản đồ số 32, diện tích 263,7m
2
, loại đất và trồng
cây lâu năm do bà Trương A N đứng tên giấy chứng nhận quyền đất, tọa lạc ấp M,
M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mai Thị M vắng mặt văn bản trình
bày:
M em của Mai Kim D, sống chung với bà D tại phần đất đang tranh chấp
4
với bà Trương A N.
Vào năm 2020, bà Mai Kim D được Ủy ban nhân dân M quyết định trao tặng nhà
tình thương, tổng diện tích xây dựng 36m
2
, giá trị 70.000.000đồng, được xây
dựng từ nguồn kinh phí địa phương tài trợ của Công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên xổ số kiến thiết tỉnh B, đất toạ lạc tại ấp M, M, huyện T, tỉnh Vĩnh
Long.
Nay bà Mai Thị M thống nhất theo lời trình bày của Mai Kim D, ngoài ra không
có ý kiến gì khác.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn Đ vắng mặt ý kiến trình
bày:
Ông Đ không quan hệ họ hàng với N, D, M, ông B. Tại thời điểm
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N, ông B và công chứng viên thì
ông Đ không có chứng kiến, chỉ có ông Đ điện thoại hỏi bà N, ông B thủ tục làm hợp
đồng diễn biến và đã thực hiện như thế nào và biết số tiền cầm là 20.000.000đồng.
Năm 2012, ông Đ chỉ cầm cố phần đất tại thửa 68, tờ bản đồ 32, diện tích 303,5m
2
,
đất tọa lạc tại ấp M, M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long với giá 20.000.000đồng, thời
gian cầm 03 tháng nhưng đến nay thì ông B không chuộc lại đất. Riêng số tiền
10.000.000đồng D đưa cho ông Đ do trên thửa đất ông B cầm cho ông Đ
D sử dụng chung đường nước nên bà D muốn chuộc lại đất thay cho ông B.
Nay việc tranh chấp giữa Trương A N, Mai Kim D Mai Thị M thì ông
Đặng Văn Đ không có ý kiến và cũng không có yêu cầu gì vì không có liên quan đến
ông Đ. Ông Đặng Văn Đ có ý kiến xin vắng mặt.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình có ý kiến như sau:
Căn cứ Điều 127, Điều 131, Điều 500, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 39 Luật Công chứng năm 2006; điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số
02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147, 165 Bộ
luật tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 1 Điều 26, khoản
3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Điều
2 Luật người cao tuổi năm 2009.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương A N.
Vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 18/12/2012 giữa bà Mai Kim D
Trương A N đối với phần đất thửa 67, tờ bản đồ số 32, diện tích 263,7m
2
, loại đất
ở trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Buộc Mai Kim D nghĩa vụ trả cho Trương A N số tiền chuyển
nhượng đất 20.000.000đ tiền bồi thường thiệt hại 18.777.500đồng. Tổng
cộng buộc Mai Kim D nghĩa vụ trả cho Trương A N số tiền
38.777.500đồng.
Bà Mai Kim D tiếp tục quản lý sử dụng phần đất thửa 67, tờ bản đồ số 32, diện
tích 263,7m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp M, M, huyện T, tỉnh Vĩnh
Long do Trương A N đứng tên giấy chứng nhận quyền đất. Trên đất gắn căn
nhà của bà Mai Thị M gồm nhà chính: nhà độc lập, khung cột bêtông cốt thép, không
5
móng, tường xây gạch, lót gạch men, mái tole không trần, diện tích 40,8m
2
, thành
tiền 66.631.279đồng; nhà phụ: vách lá, cột tông, nền láng xi măng, diện tích
28,8m
2
, thành tiền 10.738.759đồng.
Bà Mai Kim D nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng
đất theo quy định của luật đất đai.
- Về chi phí khảo sát, đo đạc và định giá tài sản 3.317.000đồng. Buộc bà
Trươg A N1 , bà Mai Kim D mỗi người có nghĩa vụ nộp 1.658.500đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Trương A N có nghĩa vụ nộp tổng cộng 10.861.125đồng.
Miễn toàn bộ án phí cho Mai Kim D.
Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại Phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trương A N yêu
cầu trả lại phần đất tại thửa 67, tờ bản đồ số 32, diện tích 263,7m
2
, loại đất ở và trồng
cây lâu năm do bà Trương A N đứng tên giấy chứng nhận quyền đất, tọa lạc ấp M, xã
M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tài sản
tranh chấp bất động sản bị đơn huyện T nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều
35, điểm a và c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân snăm 2015, vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.
Về thủ tục tố tụng: Ông Mai Văn B đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần
thứ hai vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt ông B. Mai Thị M, ông Đặng Văn Đ có đơn yêu cầu Tòa án
xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà M, ông Đ theo
quy định tại khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa thẩm: Trương A N vẫn giữ nguyên yêu cầu yêu cầu D,
M trách nhiệm liên đới di dời nhà trả lại phần đất thửa 67, tờ bản đồ số 32,
diện tích 263,7 m
2
, loại đất và trồng cây lâu năm do Trương A N đứng tên giấy
chứng nhận quyền đất, tọa lạc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, bà N không bồi
hoàn tiền di dời. Trong trường hợp D, M không di dời nhà trả đất cho N thì
N yêu cầu bà D, bà M trách nhiệm liên đới trả lại số tiền đất theo giá thị trường
hiện nay là 250.000.000đồng. Bị đơn là Mai Kim D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Mai Thị M không đồng ý theo yêu của bà Trương A N.
Xét “Hợp đồng chuyển nhượng đất” ngày 18/12/2012 giữa Mai Kim D
Trương A N.
Tại phiên tòa, mặc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tuân thủ
6
đúng quy định của pháp luật về nội dung hình thức hợp đồng nhưng Trương A
N và bà Mai Kim D đều thừa nhận tại thời điểm “hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất” ngày 18/12/2012 giữa N bà D tại thửa 67, tờ bản đồ số 32, diện
tích 263,7m
2
, loại đất ở và trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh
Long do bà Trương A N đứng tên giấy chứng nhận quyền đất thì bà N và bà D không
trực tiếp đến Văn phòng C1 mà chỉ có bà D và ông B còn bà N thì ký tại nhà bà N, có
ông B công chứng viên không mặt D nhưng trong hợp đồng ghi địa điểm
công chứng tại số F đường M, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long không
đúng, vi phạm theo quy định tại Điều 39 Luật Công chứng năm 2006 về địa điểm
công chứng.
Hơn nữa, D là người không biết chữ nhưng công chứng viên không đọc lại
nội dung hợp đồng cho D nghe mà để cho D tự đọc lại hợp đồng. Mặt khác, từ
lúc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đến nay bà A N không trực
tiếp quản canh tác phần đất nêu trên. Hiện nay trên đất có gắn căn nhà tình thương
được Ủy ban nhân dân xã M xét cấp cho bà Mai Thị M là người khuyết tật.
Do đó, đã đủ n cứ chứng minh Hợp đồng chuyển nhượng đất” ngày
18/12/2012 bị vô hiệu theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 “Khi một
bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bđe doạ, cưỡng ép thì quyền
yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó hiệu” nên buộc Mai Kim D
trách nhiệm trả cho bà Trương A N số tiền 20.000.000đồng theo quy định tại Điều
131 Bộ luật dân sự năm 2015.
Các đương sự đều thống nhất giá đất đất 330.000đồng/m
2
đất vườn
150.000đồng/m
2
Về lỗi thiệt hại khi hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu: Do N bà D tại thời đểm
kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 67, tờ bản đồ số 32, diện
tích 263,7m
2
, loại đất ở và trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh
Long do Trương A N đứng tên giấy chứng nhận quyền đất không mặt đầy đủ
của bên bán và bên mua nhưng vẫn thực hiện hợp đồng xét về lỗi, thiệt hại phía bà N
D đều lỗi ngang nhau theo hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị
quyết số 02/2004/NQ – HĐTP ngày 10/8/2004 của Tòa án nhân dân tối cao là có căn
cứ được tính như sau: [(100m
2
x 330.000đồng/m
2
) + (163,7m
2
x 150.000đồng/m
2
)]
20.000.000đồng = 37.555.000đồng. Do lỗi ngang nhau nên N và D mỗi người
phải chịu là 18.777.500đồng. Bà D có trách nhiệm hoàn lại cho bà N số tiền
18.777.500đồng tương ứng giá trị đất mà bà N đã mua.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của bà
Trương A N.
[2.1]. hiệu “Hợp đồng chuyển nhượng đất” ngày 18/12/2012 giữa Mai Kim D
và bà Trương A N.
Buộc bà Mai Kim D trách nhiệm trả cho bà Trương A N số tiền là
38.777.500đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành
7
án chưa thi hành án xong thì phải chịu thêm phần lãi suất theo quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với khoản thời gian chưa thi hành
án xong.
Mai Kim D tiếp tục quản sử dụng phần đất tại thửa 67, tờ bản đồ số 32,
diện tích 263,7m
2
, loại đất ở và trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp M, M, huyện T, tỉnh
Vĩnh Long do Trương A N đứng tên giấy chứng nhận quyền đất gồm các mốc 1,
2, 3, 4, 5, 6, 1. Trên đất gắn căn nhà của Mai Thị M gồm nhà chính: nhà độc
lập, khung cột bêtông cốt thép, không móng, tường xây gạch, lót gạch men, mái tole
không trần, diện tích 40,8m
2
, thành tiền 66.631.279đồng; nhà phụ: vách lá, cột
tông, nền láng xi măng, diện tích 28,8m
2
, thành tiền 10.738.759đồng.
Kích thước, hình thể, giáp giới các thửa đất nêu trên được xác định theo trích
đo bản đồ địa chính khu đất. Các đương sự nghĩa vụ đến quan thẩm quyền
đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
[2.2]. Về chi phí khảo sát, đo đạc định giá tài sản 3.317.000đồng. Buộc Mai
Kim D Trương A N mỗi người nộp 1.658.500đồng. Bà Trương A N đã nộp tạm
ứng 5.317.000đồng nên N được nhận lại số tiền còn thừa 2.000.000đồng (đã
nhận xong) và bà D có trách nhiệm hoàn lại cho bà N số tiền là 1.658.500đồng.
[2.3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Mai Kim D người cao tuổi nên bà D được miễn tiền án phí theo quy định tại
điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Trương A N phải chịu tiền án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu không được
chấp nhận là (250.000.000đồng 38.777.500đồng) x 5% = 10.561.125đồng và
300.000đồng tiền án phí vô hiệu hợp đồng. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
N đã nộp là 6.250.000đồng theo biên lai thu số No 0013943 ngày 04/3/2024
300.000đồng theo biên lai thu số No 0013943 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Tam Bình nên N phải nộp thêm số tiền là 4.311.125đồng.
[2.4]. Đối với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên Tòa là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 21, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 165 Bộ luật tố tụng dân sự
2015; Điều 127, Điều 131, Điều 500, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm c tiểu
mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số 02/2004/NQ HĐTP ngày 10/8/2004 của Tòa án nhân
dân tối cao; Điều 39 Luật Công chứng năm 2006; Điều 2 Luật người cao tuổi năm
2009; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 1 Điều 26, khoản 3 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương A N.
hiệu “Hợp đồng chuyển nhượng đất” ngày 18/12/2012 giữa Mai Kim D
Trương A N.
8
Buộc bà Mai Kim D trách nhiệm trả cho bà Trương A N số tiền
38.777.500đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành
án chưa thi hành án xong thì phải chịu thêm phần lãi suất theo quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với khoản thời gian chưa thi hành
án xong.
Mai Kim D tiếp tục quản sử dụng phần đất tại thửa 67, tờ bản đồ số 32,
diện tích 263,7m
2
, loại đất ở và trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp M, M, huyện T, tỉnh
Vĩnh Long do Trương A N đứng tên giấy chứng nhận quyền đất gồm các mốc 1,
2, 3, 4, 5, 6, 1. Trên đất gắn căn nhà của Mai Thị M gồm nhà chính: nhà độc
lập, khung cột bêtông cốt thép, không móng, tường xây gạch, lót gạch men, mái tole
không trần, diện tích 40,8m
2
, thành tiền 66.631.279đồng; nhà phụ: vách lá, cột
tông, nền láng xi măng, diện tích 28,8m
2
, thành tiền 10.738.759đồng.
Kích thước, hình thể, giáp giới các thửa đất nêu trên được xác định theo trích
đo bản đồ địa chính khu đất. Các đương sự nghĩa vụ đến quan thẩm quyền
đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
2/ Về chi phí khảo sát, đo đạc và định giá tài sản là 3.317.000đồng. Buộc bà Mai Kim
D và Trương A N mỗi người nộp 1.658.500đồng. Bà Trương A N đã nộp tạm ứng
là 5.317.000đồng nênN được nhận lại số tiền còn thừa là 2.000.000đồng (đã nhận
xong) và bà D trách nhiệm hoàn lại cho bà N số tiền là 1.658.500đồng.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Mai Kim D người cao tuổi nên bà D được miễn tiền án phí theo quy định tại
điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Trương A N phải chịu tiền án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu không được
chấp nhận 10.561.125đồng 300.000đồng tiền án phí hiệu hợp đồng. Được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí N đã nộp 6.250.000đồng theo biên lai thu
số No 0013943 ngày 04/3/2024 300.000đồng theo biên lai thu số No 0013943
ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình nên N phải nộp
thêm số tiền là 4.311.125đồng.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người
được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, hạn kháng cáo 15
ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
9
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND huyện Tam Bình;
- Chi cục THADS huyện Tam Bình;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(ĐÃ KÝ)
Trần Thị Hồng Chi
Tải về
Bản án số 44/2024/DS-ST Bản án số 44/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 44/2024/DS-ST Bản án số 44/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất