Bản án số 43/2021/DS-PT ngày 22/01/2021 của TAND tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (ghi giá chuyển nhượng thấp hơn thực tế để trốn thuế)

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 43/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 43/2021/DS-PT ngày 22/01/2021 của TAND tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (ghi giá chuyển nhượng thấp hơn thực tế để trốn thuế)
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tiền Giang
Số hiệu: 43/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hiệp Phương Hồng T và Nguyễn Ngọc P tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (ghi giá chuyển nhượng thấp hơn thực tế để trốn thuế)
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 43/2021/DS-PT
Ngày: 22- 01-2021
V/v tranh chấp: “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ánh Phương;
Ông Trần Văn Đạt.
- Thư phiên tòa: Thị Thanh n - Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20, 22 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 531/2020/TLPT-DS
ngày 30 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp Hp đng chuyn nhưng quyn s dng
đt.
Do Bản án dân sự thẩm số 311/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020
của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 639/2020/QĐ-PT ngày
07 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hiệp Phương Hồng T, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C,Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Theo văn bản ủy quyền ngày 03/02/2020, tại Văn phòng công chứng N số
2
công chứng 1073, quyển số 01/2020TP/CC-SCC/HĐGD.
- Bị đơn:
Anh Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954.
Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Theo văn bản y quyền ngày 04/3/2020, tại Văn phòng công chứng N, s
công chứng 2632, quyển số 01/2020/CC-SCC/HĐGD.
- Ngưi có quyền li, nghĩa vliên quan:
1. Bà Huỳnh Th N, sinh năm 1968 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Hoàng P, sinh năm 1985 (có mặt).
Địa chỉ: 117/9 đường H, phường 5, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
Theo văn bản ủy quyền ngày 21/8/2020, lập tại Văn phòng công chứng H,
số công chứng 1120, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGĐ.
2. Anh Lê Văn C, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
3. Anh Lê Văn N, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
4/ Anh Lê Huỳnh N, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã Tân L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Th N, sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Theo văn bản ủy quyền lập ngày 23/6/2020 tại Văn phòng công chứng A,
số công chứng: 4052, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD.
- Người làm chứng: Anh Lê Phước S, sinh năm 1982.
Địa chỉ: 27A ấp 3, xã T, thành ph M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Ngưi kháng o: Nời có quyn lợi, nga vụ liên quan Hunh Thị N, Lê
Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo án sơ thẩm;
Nguyên đơn ông Nguyễn Hiệp Phương Hồng T người đại diện theo ủy
quyền là ông Nguyễn Hoàng A thống nhất trình bày:
Ngày 08/10/2019, anh Nguyễn Hiệp Phương Hồng T có nhận chuyển
nhượng của anh Nguyễn Ngọc P, địa chỉ: ấp B, H, huyện C, tỉnh Tiền Giang
thửa đất số 62; tờ bản đồ số 11; diện tích 152,2m
2
(trong đó đất nông thôn
34,2m
2
, đất trồng cây lâu năm 118m
2
); địa chỉ thửa đất: ấp T, T, huyện C,
tỉnh Tiền Giang, trên thửa đất một căn n cấp 4, giá chuyển nhượng
1.000.000.000 đồng, anh T đã giao đủ số tiền 1.000.000.000đồng cho anh P.
Trước khi nhận chuyển nhượng anh T đến xem nhà nhiều lần, khi đến cổng
rào khóa, không ai, anh P mcổng rào cho anh T vào xem nhà. Sau khi
nhận chuyển nhượng anh T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(không cấp giấy mới chỉ thay đổi không tin chủ sở hữu). Tuy nhiên, khi anh
T yêu cầu giao đất nhà thì anh P cố ý tránh không thực hiện. Khi anh T
đến nhận đất và nhà thì bà Huỳnh Thị N là người đã bán đất và nhà cho anh P
các con của bà N gồm Lê Văn C, Lê Văn N Huỳnh N sinh sống trong căn
nhà trên, không chịu giao nhà và đất cho anh T.
Nay anh Nguyễn Hiệp Phương Hồng T yêu cầu anh Nguyễn Ngọc P
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị N, anh Văn N,
anh Văn C, anh Huỳnh N giao cho anh T diện tích đất 152,2m
2
thửa đất
số 62, tờ bản đồ số 11, địa chỉ thửa đất ấp T, T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
căn nhà trên đất, yêu cầu thực hiện ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn anh Nguyễn Ngọc P và đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn T
thống nhất trình bày:
Ngày 08/10/2019 anh P chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hiệp Phương
Hồng T thửa đất số 62; tờ bản đồ số 11; diện tích 152,2m
2
(trong đó đất nông
thôn 34,2m
2
, đất trồng cây lâu năm 118m
2
), địa chỉ thửa đất: ấp T, T, huyện
C, tỉnh Tiền Giang, trên thửa đất một căn nhà cấp 4, giá chuyển nhượng theo
hợp đồng 10.000.000đồng. Giá thực tế 250.000.000đồng, tuy nhiên anh P
chỉ nhận được 220.000.000đng, còn 30.000.000đồng anh T trừ tiền huê hồng.
4
Nguồn gốc thửa đất nhà này là do anh P nhận chuyển nhượng của
Huỳnh Thị N vào ngày 20/5/2016 với giá là 100.000.000đồng. Bên cạnh hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, anh P N lập văn bản
thỏa thuận tài sản trên đất 01 căn nhà do N xây dựng, nchưa chủ
quyền. anh P cho N lại trên căn nhà trọng hạn 12 tháng kể tngày công
chứng hợp đồng, sau đó N phải giao lại căn nhà cho anh P. Nay anh P đồng ý
giao nhà và đất cho anh T.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị N thì anh P không đồng ý. anh P
khẳng định không việc cho vay tiền như N anh Ca trình bày, anh P đã
giao đủ số tiền 100.000.000 đồng cho N, giao làm 02 lần: Lần thứ nhất theo
giấy nhận tiền bán đất n ngày 21/9/2015 anh P giao cho N số tiền
60.000.000đồng, lần thứ hai anh P giao cho N 40.000.000đồng nên N đã
viết Giấy nhận tiền bán nhà bán đất ngày 20/5/2016 với số tiền là
100.000.000đồng cho anh P.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị N đại diện theo ủy
quyền là chị Huỳnh Hoàng P thống nhất trình bày:
N chủ sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 62; tờ
bản đồ số 11; diện tích 152,2m
2,
địa chỉ thửa đất: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền
Giang 01 căn nhà trên đất. Vào khoảng tháng 11 năm 2015, con bà là anh
Văn C vay của anh Nguyễn Ngọc P số tiền 60.000.000đồng. Để vay được số
tiền nay anh P yêu cầu và bà đã ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất và
căn nhà nói trên cho anh P để đảm bảo cho nghĩa vụ trả tiền vay của anh Lê Văn
C. anh P cam kết không sang tên khi nào Văn C trả đủ tiền vay thì anh P
sẽ đến phòng công chứng hủy hợp đồng chuyển nhượng để trả lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho bà.
Ngoài số tiền của anh Ca vay 60.000.000đồng, cá nhân bà có vay của anh P
số tiền 16.000.000 đồng, cụ thể vay làm 03 lần, lần đầu tháng 01/2016 vay
10.000.000 đồng có làm biên nhận, lần 2 ngày 29/4/2016 vay 3.000.000 đồng
làm biên nhận, lần 3 khoảng 01 tháng sau anh P đưa thêm 3.000.000 đồng không
làm giấy tờ, 20 tây hàng tháng anh P đều ra nhà lấy lãi. Ngày 20/6/2018
5
viết gộp lại thành giấy cam kết mượn tiền với số tiền 6.000.000 đồng. Đối với
giấy cam kết mượn tiền ngày 20/3/2018, số tiền 26.400.000 đồng bao gồm tiền
gốc của số tiền vay 16.000.000 đồng cộng thêm tiền lãi do không đóng.
Các giấy biên nhận do anh P giữ, bà không có giữ giấy tờ gì.
Đối với số tiền 60.000.000 đồng do Văn C vay năm 2015, khi vay
Văn C có viết biên nhận bằng giấy tay cho anh P. Lúc đầu, Lê Văn C đưa bà giữ
bản chính, nhưng sau đó anh P lấy lại, nên bà không còn giữ bất cứ giấy tờ gì về
số tiền này.
Đối với giấy nhận tiền bán nhà bán đất ngày 21/9/2015 số tiền
60.000.000đ tiền vay của Văn C. Giấy nhận tiền bán nhà và đất ngày
20/5/2016 chỉ tên, không biết nội dung. Cả hai giấy nhận tiền bán n
đất này các con của không tên, người tên thay cho Văn C,
Lê Văn N và Lê Huỳnh N.
Nay đối với yêu cầu của anh T không đồng ý yêu cầu độc lập yêu
cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh P, đồng
ý trả lại số tiền vay của anh Lê Văn C là 60.000.000 đồng và của bà là
16.000.000 đồng yêu cầu hủy phần xác nhận nội dung thay đổi chủ sở hữu
ngày 28/6/2018 của Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện C, tỉnh Tiền
Giang trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01421 do Ủy ban nhân
dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 17/6/2015.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn C trình bày:
Thống nhất ý kiến của mẹ anh là N, vào năm 2015 anh có vay của anh P
số tiền 60.000.000 đồng, lãi mỗi tháng 3.000.000 đồng, đóng lãi đầy đủ, khi
đóng lãi không có làm biên nhận hay giấy tờ gì, không có người làm chứng. Khi
vay số tiền 60.000.000đ anh viết biên nhận cho anh P, sau đó anh đưa bản
chính cho mẹ anh là bà N giữ, tuy nhiên sau đó anh P lấy lại nên anh không còn
giữ bất cứ giấy tờ gì. Đối với chữ trong giấy nhận tiền bán nhà bán đất
ngày 21/9/2015 và 20/5/2016 không phải chữ ký của anh.
Do không biết việc mẹ anh đã hợp đồng chuyển nhượng nhà đất trên
cho anh P nên vào năm 2016 tháng 6 năm 2019 anh bỏ tiền ra sửa chữa
6
nhà như lót gạch, đóng la phong, tô tường, xây thêm 01 bên của căn nhà. Tổng
chi phí xây dựng 177.831.000đồng. Nay đồng ý cùng mẹ anh N trả cho
anh P số tiền 60.000.000 đồng của anh vay số tiền N vay 16.000.000
đồng. Nếu Tòa án buộc phải giao nhà đất cho anh T, anh yêu cầu trả lại cho
anh số tiền mà anh đã bỏ ra sữa chữa nhà là 177.831.000đồng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn N đơn xin vắng mặt
trong suốt quá trình giải quyết vụ án và theo biên bản lấy lời khai ngày
04/8/2020 thì anh Na có ý kiến:
Anh con ruột của Huỳnh Thị N, anh không biết vviệc chuyển
nhượng nhà đất giữa mẹ anh với anh P. Anh không tên vào giấy nhận
tiền bán nhà và đất ngày 20/5/2016 lúc đó anh đang chấp hành án. Năm 2018
khi mãn hạn tù về anh có nghe nói anh Lê Văn C có cầm giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho anh P để vay 60.000.000, anh kêu đi chuộc lại, anh P cho
chuộc 180.000.000đồng nên chưa chuộc được. Anh không đồng ý bán nhà
đất cho anh P đây là nhà thờ của cha, mẹ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Huỳnh N trình bày:
Mẹ anh ký hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất cho anh P anh không biết.
Thật sự mẹ anh không bán nhà đất cho ah P chỉ mẹ anh anh
Văn C vay tiền của anh P. Anh không tên vào giấy nhận tiền bán nhà
và đất ngày 20/5/2016 và cũng không có nhận tiền.
Tại bản án dân sự thẩm số 311/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020
của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
- Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228; Bộ luật tố Tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 167, 168 ca Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ các Điều 500, 501, 502, 503 và khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân
sự 2015;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
7
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hiệp Phương Hồng T.
Buộc anh Nguyễn Ngọc P, Huỳnh Thị N, anh Văn C, anh Văn N,
anh Huỳnh N nghĩa vụ liên đới giao cho anh Nguyễn Hiệp Phương Hồng
T diện tích đất 152,2m
2
(trong đó đất tại nông thôn 34,2m
2
, đất trồng cây lâu
năm 118m
2
); thuộc thửa đất số 62; tờ bản đồ số 11, địa chỉ thửa đất: ấp T, T,
huyện C, tỉn Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01421
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 17/6/2015, đất vị trí tứ cận như sau:
Bắc giáp thửa đất số 14; Đông giáp thửa đất số 22; tây giáp tỉnh lộ 866, nam
giáp thửa số đất 18 (có sơ đồ kèm theo).
Và các tài sản trên đất gồm:
- Nhà chính: Diện tích (2,5mx3.8m)+(4mx4.2m)+(9,8mx3,8m)=63,54m
2
,
kết cấu: Cột tông đúc sẵn; vách tường 2 mặt; nền gạch men 70%, xi măng
30%; mái tole.
- Cổng rào: Diện tích 2,5m x 2m=5m
2
. Kết cấu: Trụ bê tông đúc sẵn; cổng
02 cánh khung sắt.
- Hàng rào: Diện tích 10,6m x 1,8m=19.08m
2
. Kết cấu: Trụ tông đúc
sẵn, tường xây D100>0,5m; khung sắt.
- Nhà vsinh: Diện tích 2,1m x 1.4m=2.94m
2
. Kết cấu: Cột gạch; vách
tường tô 2 mặt; nền gạch men; mái tole.
- Sân xi măng: Diện tích 78,32m
2
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của Huỳnh Thị N về việc
yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2016 giữa
Huỳnh Thị N anh Nguyễn Ngọc P đối với diện tích đất 152,2m
2
(trong đó
đất tại nông thôn 34,2m
2
, đất trồng cây lâu năm 118m
2
); thuộc thửa đất số 62;
tờ bản đồ số 11, địa chỉ thửa đất: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01421 do ủy ban nhân dân huyện C cấp
ngày 17/6/2015 yêu cầu hủy phần xác nhận nội dung thay đổi chủ sở hữu
ngày 28/6/2018 của Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện C, tỉnh Tiền
Giang trong giấy chứng nhận quyền sdụng đất số CH01421 do Ủy ban nhân
dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 17/6/2015.
8
3. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Hiệp Phương Hồng T, anh T hỗ
trợ cho anh Văn C số tiền 140.000.000đồng chi phí anh Văn C sửa
chữa, xây dựng nhà.
Kể từ ngày anh Văn C yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Hiệp
Phương Hồng T chậm thi hành stiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm
trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được thực
hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 12/10/2020, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị N,
Văn C kháng cáo bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Đại diện ủy quyền của Huỳnh Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng o
và trình bày: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa N và anh P
hợp đồng giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền năm 2015 do cần tiền nên
anh Văn C vay của anh Nguyễn Ngọc P số tiền 60.000.000 đồng, lãi
5%/tháng, để đảm bảo nợ vay nên anh P yêu cầu N phải ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất để làm tin, tin tưởng nên N đồng ý hợp
đồng chuyển nhượng thửa đất số 62 gắn liền căn nhà, không ngờ từ đó ông P
sang tên quyền sử dụng đất cho anh T.
Hai bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến: Về tố
tụng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử; Thư việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố
tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị
án là đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tòa án cấp thẩm chưa điều tra, làm việc vay tiền giữa
anh Lê Văn C, Huỳnh Thị N với anh Nguyễn Ngọc P. Đồng thời, Tòa án cấp
thẩm chưa m việc công chứng viên ghi nhầm số tiền chuyển nhượng
9
trong hợp đồng 10.000.000 đồng hay 100.000.000 đồng theo lời trình bày của
anh T. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy bản
án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa; trên sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của
các đương sự; căn cứ kết quả tranh tụng và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát
tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Huỳnh Thị N, anh Văn C thực
hiện đúng qui định theo Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự, thời hạn kháng o
đúng qui định Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án
cấp thẩm xác định quan hệ tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất” là đúng yêu cầu của đương sự, đúng qui định pháp luật.
[2] Về nội dung: Đối với kháng cáo của Huỳnh Thị N yêu cầu hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xét:
Đối với hợp đồng chuyển nhượng số công chứng số 4169, quyển số
01/2016 TP/CC ký ngày 20/5/2016 giữa Huỳnh Thị N với ông Nguyễn Ngọc
P, theo nội dung hợp đồng thì N chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc P
thửa đất số 62, tờ bản đồ số 11, diện tích 152,2m
2
trong đó đất tại nông thôn
34,2m
2
, đất cây lâu năm 118m
2
(trên đất căn nhà của N đang ở), tọa lạc ấp
T, T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, với giá 100.000.000 đồng. N nghĩa vụ
giao thửa đất số 62 nêu trên cho ông P.
Xét theo ông P trình bày: N thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất
nêu trên cho ông P với giá 100.000.000 đồng (hiện nay giá theo kết quả thẩm
định giá ngày 10/6/2020 giá đất 847.700.000 đồng, giá trị công trình xây dựng
trên đất 125.010.812 đồng. Tổng cộng 972.710.812 đồng). ng ngày hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên làm văn bản thỏa thuận tài
sản trên đất, nội dung ông P đồng ý để N được tiếp tục sử dụng căn nhà 12
10
tháng, ông P đã giao tiền đủ cho N. Lời trình bày của ông P không được N
thừa nhận, ngược lại N và các con bà cho rằng do cần tiền nên anh Văn C
(con của N) vay của ông P số tiền 60.000.000 đồng, lãi 5%. Để đảm bảo
nợ vay anh P yêu cầu bà N hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đ
làm tin. tin tưởng nên N đồng ý hợp đồng chuyển nhượng thửa đất
số 62. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2016
giữa với ông Nguyễn Ngọc P hợp đồng giả tạo. Lời trình bày của N v
hợp đồng vay thì ông P không thừa nhận.
Xét từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2016 đối với
thửa đất số 62 gắn liền với nhà ông Nguyễn Ngọc P đã làm thủ tục đăng
và được cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 62 nên N
các con cho rằng đây hợp đồng giả tạo (giả cách) có căn cứ, bởi: Căn
cứ lời khai của anh P tại Công an T ngày 09/11/2018 thừa nhận cho anh
Ca, bà N vay tiền. Đồng thời, chứng cứ về chênh lệch giá nhà, đất giá nhà đất tại
thời điểm chuyển nhượng N thừa nhận 100.000.000 đồng (giá nhà đất tại
thời điểm xét xử thẩm 972.710.812 đồng) nhưng N chỉ thừa nhận
chuyển nhượng cả nhà, đất 100.000.000 đồng là không thchấp nhận, cho
nên khẳng định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2016
giả tạo nên theo qui định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa N ông P bị hiệu. thế,
kháng cáo yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng ngày 20/5/2016 của N
cơ sở.
Tại giấy nhận tiền bán đất và nhà ngày 21/9/2015 (BL140) người làm
chứng là ông Nguyễn Mạnh T nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, ghi lời
khai của ông T để làm rõ nội dung giao nhận tiền giữa bà N anh P.
Tòa án cấp thẩm chưa điều tra làm hợp đồng vay tiền giữa anh C, bà
N với anh Nguyễn Hồng P theo các biên nhận vay do các bên cung cấp lời
thừa nhận của anh P tại Công an xã T. Để giải quyết hợp đồng vay hiệu lực bị
che giấu bởi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2016.
11
Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết hậu quả pháp lí của hợp đồng vô
hiệu (nếu các bên có yêu cầu).
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/10/2019 giữa
anh Nguyễn Ngọc P anh Nguyễn Hiệp Phương Hồng T, theo hợp đồng thì
anh P chuyển nhượng cho anh T thửa đất số 62, tờ bản đồ 11, diện tích 152,2m
2
đất ở, đất trồng cây lâu năm (trên đất có căn nhà của bà Huỳnh Thị N), tọa lạc ấp
T, T, huyện C, giá chuyển nhượng 10.000.000 đồng. Phía nguyên đơn cho
rằng giá chuyển nhượng thực tế 1.000.000.000 đồng nhưng để giảm thuế nên
chỉ ghi trong hợp đồng giá chuyển nhượng 10.000.000 đồng. Còn bị đơn thì
cho rằng giá chuyển nhượng hợp đồng là 250.000.000 đồng, anh P chỉ nhận
220.000.000 đồng anh T trừ tiền hhồng 30.000.000 đồng. Như vậy, các bên
kết hợp đồng đều thừa nhận giá 10.000.000 đồng ghi trong hợp đồng không
phải là giá thật.
Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của anh P cho rằng các bên thỏa thuận giá
ghi trong hợp đồng chuyển nhượng là 100.000.000 đồng nhưng công chứng viên
ghi nhầm 10.000.000 đồng. Do đó, cần phải xác minh, thu thập ý kiến công
chứng viên đsở xác định giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nêu trên là giả tạo nhằm mục đích trốn thuế.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp thẩm
chưa điều tra, xác minh đầy đgây ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ
án. Thiếu sót này của cấp sơ thẩm Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục được.
Do vậy, Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm đại diện Viện kiểm sát hủy án sơ
thẩm, giao hồ về Tòa án cấp thẩm giải quyết lại theo trình tự thẩm. Do
hủy ánthẩm nên Hội đồng xét xử chưa xem xét kháng cáo của Huỳnh Thị
N và anh Lê Văn C.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 B lut t tụng dân sự;
12
[1]. Hy bản án thẩm s 311/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án
nhân dân huyn C. Giao h vụ án về Tòa án nhân dân huyn C gii quyết
theo qui định.
[2]. V án phí: Huỳnh Th N, anh Lê Văn C không phải chịu án phí dân
s phúc thẩm. Hoàn lại N, anh C mi người 300.000 đồng tm ứng án phí
theo biên lai thu số 0003286; 0003285 ngày 12/10/2020 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyn C.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
13
i nhn:
- VKSND tnh Tin Giang;
- TAND huyn C.
- CCTHADS huyn C;
- Phòng KTNV & THA TAT;
- c đương s;
- u hồ sơ án văn.
TM. HI ĐỒNG T XỬ PHÚC THM
THM PHÁN-CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Th Diệp Thúy
Tải về
Bản án 43/2021/DS-PT Tiền Giang Bản án 43/2021/DS-PT Tiền Giang

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 43/2021/DS-PT Tiền Giang Bản án 43/2021/DS-PT Tiền Giang

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất