Bản án số 422/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 422/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 422/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 422/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: hủy án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 422/2026/DS-PT Bản án số 422/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 422/2026/DS-PT Bản án số 422/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 422/2026/DS-PT
Ngày: 09/9/2026
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Âu và bà Nguyễn Thị Thu Trang;
Thư ký phiên tòa: Bà Trn Thị Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Lương Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 172/2026/TLPT-DS ngày 15 tháng 6
năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 328/2026/QĐ-PT ngày
14 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Mạnh Thế T, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn P, xã X, tỉnh
Đắk Lắk - Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tâm H, sinh
năm 1973; địa chỉ: A T, phường T, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH S, nay là Công ty TNHH H1.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hoàng T1 - Vắng mặt.
Địa chỉ: C N, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ liên lạc: 241 Đại lộ N, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Ông Nguyễn Đức T2, sinh năm 1976
Địa chỉ: Tổ C, phường P, tỉnh Gia Lai.
Nơi ở: Nhà trọ Trn Ngọc L, số D đường Đ, tổ A, khu phố Đ, Thành phố
Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
- Ông Đào Kim L1, sinh năm 1962
Địa chỉ: Khu phố P, phường T, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Mạnh Thế T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 30/5/2016, ông Mạnh Thế T và Công ty TNHH S ký Hợp đồng mua
bán gỗ cao su số 107BH/HĐMB. Hai bên thỏa thuận về quy cách gỗ, giá bán, thời
hạn, địa điểm giao hàng và phương thức thanh toán. Sau khi ký hợp đồng, từ ngày
06/6/2016, ông T giao gỗ vào kho của Công ty TNHH S tại Xưởng ván lạng A,
Khu công nghiệp B, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên (cũ). Theo số liệu nguyên đơn
trình bày, ông T đã giao gỗ 12 ln; mỗi ln đều có phiếu cân xe, khối lượng gỗ và
số liệu ghi trên sổ. Đến ngày 14/7/2016, tổng khối lượng gỗ đã giao là 315 tấn,
thành tiền: 315 tấn × 1.100.000 đồng/tấn = 346.500.000 đồng. Ngày 01/7/2016,
ông Lê Hoàng T1 - Giám đốc Công ty S chuyển khoản cho ông T 100.000.000
đồng. Kể từ ngày 14/7/2016, ông T nhiều ln liên hệ yêu cu thanh toán nhưng
Công ty không trả, vi phạm Điều 3 của hợp đồng về phương thức thanh toán.
Nguyên đơn yêu cu Công ty TNHH S, nay là Công ty TNHH H1, thanh toán số
tiền còn thiếu 246.500.000 đồng và tiền lãi từ ngày 15/11/2016 đến ngày
26/01/2026 là 220.962.600 đồng; tổng cộng 467.462.600 đồng.
- Quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn Công ty TNHH S do ông Lê Hoàng
T1 - Giám đốc, người đại diện theo pháp luật, trình bày: Ông Nguyễn Đức T2 và
ông Mạnh Thế T thỏa thuận mua bán gỗ để ông T2 gia công rồi bán lại cho Công
ty S; nội dung này được thể hiện bằng hợp đồng gia công giữa Công ty và ông T2.
Sau khi thỏa thuận giữa ông T2 và ông T hoàn thành, các ông đến Công ty để lập
hợp đồng đứng tên Công ty thông qua ông Đào Kim L1 ký. Hợp đồng mua bán gỗ
số 107BH/HĐMB ngày 30/5/2016 không có giá trị pháp lý vì Phó Giám đốc ký khi
không được Giám đốc ủy quyền. Công ty chưa bao giờ nhận gỗ do ông T giao. Ông
T có nhắn tin cho ông T1 với nội dung nhờ giúp vì ông T2 còn nợ ông T khoảng
250.000.000 đồng tiền gỗ. Bị đơn không đồng ý yêu cu khởi kiện và đề nghị Tòa
án giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Kim L1 trình bày: Việc
mua bán gỗ cao su do ông Nguyễn Đức T2 và ông Mạnh Thế T giao kết, thống nhất
với nhau. Sau đó, ông T đến Công ty TNHH S nhờ ký hợp đồng mua bán gỗ giữa
ông T và Công ty lập ngày 30/5/2016; thực tế không có việc ông T giao gỗ cho
3
Công ty. Vì vậy, Công ty không liên quan và không có trách nhiệm trả nợ cho ông
T. Ông L1 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức T2 vắng mặt
trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2026/DS-ST ngày 26/01/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk, đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 30; Điều 39, các điều 93, 94, 95, 227 và 228 Bộ luật
Tố tụng dân sự; Điều 142 Bộ luật Dân sự.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cu khởi kiện của nguyên đơn ông Mạnh
Thế T về việc yêu cu Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH H1) trả số tiền
246.500.000 đồng và tiền lãi 220.962.600 đồng; tổng cộng cả gốc và lãi là
467.462.600 đồng (bốn trăm sáu mươi bảy triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn sáu
trăm đồng) về khoản hợp đồng mua bán hàng hóa
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 27/01/2026, nguyên đơn ông Mạnh Thế T kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận
toàn bộ yêu cu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên yêu cu kháng cáo.
Nguyên đơn cho rằng bản án sơ thẩm đánh giá tài liệu, chứng cứ chưa đy đủ; Hợp
đồng mua bán gỗ cao su số 107BH/HĐMB là có thật, hợp đồng có đóng dấu Công
ty, việc giao nhận hàng đã được thể hiện qua các phiếu cân xe, sổ ghi chép và khoản
tiền 100.000.000 đồng do ông Lê Hoàng T1 chuyển cho ông T. Vì vậy, nguyên đơn
đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm; trong quá trình giải quyết vụ án, bị
đơn không đồng ý với yêu cu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến: Về tố
tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa và những người
tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về nội
dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật
Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm
giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Mạnh Thế T kháng cáo trong thời hạn luật
định và đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên được xem xét theo thủ
tục phúc thẩm.
4
Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296
Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn khẳng định ông và Công ty TNHH S
có ký kết Hợp đồng mua bán gỗ cao su số 107BH/HĐMB ngày 30/5/2016. Để thực
hiện hợp đồng, trong thời gian từ ngày 06/6/2016 đến ngày 14/7/2016, nguyên đơn
đã nhiều ln thuê xe chở tổng cộng 315 tấn gỗ vào kho Xưởng ván lạng An Hoàng
của Công ty S, thành tiền 346.500.000 đồng. Công ty TNHH S đã thanh toán
100.000.000 đồng; người trực tiếp chuyển khoản vào ngày 01/7/2016 là ông Lê
Hoàng T1, Giám đốc Công ty. Số tiền còn lại chưa thanh toán là 246.500.000 đồng.
Theo Hợp đồng mua bán gỗ cao su số 107BH/HĐMB ngày 30/5/2016 giữa
Công ty TNHH S (Bên A) và ông Mạnh Thế T (Bên B), hai bên thỏa thuận mua
bán gỗ bì cao su, số lượng 70 tấn, đơn giá 1.100.000 đồng/tấn, thành tiền
77.000.000 đồng. Bên B giao hàng tại bãi của Bên A ở X ván lạng A, Khu công
nghiệp B, xã S, huyện S. Bình quân mỗi ngày, Bên B giao cho Bên A tối thiểu 60
tấn. Bên B cho Bên A nợ tiền của 200 tấn hàng đu tiên trong vòng 07 ngày làm
việc. Sau 200 tấn hàng, Bên A tạm ứng cho Bên B 80% tiền hàng. Sau hai tun, hai
bên tiến hành đối chiếu, chốt khối lượng và thanh toán; Bên A giữ lại 5% tiền hàng
của Bên B. Đại diện Bên A là ông Đào Kim L1, Phó Giám đốc Công ty, ký và đóng
dấu; đại diện Bên B là ông Mạnh Thế T ký, viết họ tên xác nhận (BL 09-10).
Mặc dù lời khai của các đương sự có sự mâu thuẫn, Công ty S cho rằng Hợp
đồng mua bán gỗ cao su số 107BH/HĐMB ngày 30/5/2016 không có giá trị pháp
lý. Vì, ông Đào Kim L1 là Phó Giám đốc Công ty ký hợp đồng với ông Mạnh Thế
T khi không được Giám đốc Công ty ủy nhiệm, ủy quyền. Theo bị đơn, việc mua
bán gỗ thực tế được xác lập giữa ông Nguyễn Đức T2 và ông Mạnh Thế T. Sau đó,
ông T2 gia công và bán lại số gỗ này cho Công ty S. Ông Đào Kim L1 khai; thực
tế ông T không giao gỗ cho Công ty nên Công ty không có trách nhiệm thanh toán,
việc mua bán gỗ là giữa ông T và ông T2 còn Công ty S ký hợp đồng mua bán gỗ
với ông T ngày 30/5/2016 là do ông Thiên N ký. Tuy nhiên, trong quá trình giải
quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành đối chất giữa các đương sự và
chưa thu thập đy đủ chứng cứ để xác định có hay không việc Giám đốc Công ty S
ủy nhiệm, ủy quyền cho ông Đào Kim L1 thực hiện công việc nhân danh người đại
diện theo pháp luật của Công ty. Nhưng lại xác định hợp đồng không phát sinh hiệu
lực do Phó Giám đốc ký khi không được Giám đốc ủy nhiệm, ủy quyền; đồng thời
chỉ căn cứ Điều lệ Công ty lập ngày 08/10/2009 để xác định phạm vi ủy quyền là
chưa bảo đảm tính khách quan. Theo Công văn phúc đáp số 62/ĐKKD ngày
25/5/2017 của Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đu tư tỉnh P
(cũ), Công ty S đăng ký thành lập ln đu ngày 14/10/2009, đăng ký thay đổi ln
thứ nhất ngày 19/12/2012 và đăng ký thay đổi ln thứ tư ngày 05/6/2016 (có hồ sơ
kèm theo). Vì vậy, cn thu thập đy đủ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và Điều lệ
5
Công ty qua các ln thay đổi để xác định thẩm quyền, phạm vi đại diện tại thời
điểm giao kết hợp đồng ngày 30/5/2016.
Về quá trình thực hiện hợp đồng, ông T trình bày đã thuê xe chở tổng cộng
315 tấn gỗ, trị giá 315 tấn × 1.100.000 đồng/tấn = 346.500.000 đồng vào kho
Xưởng ván lạng An Hoàng của Công ty S. Việc nhập kho được thể hiện qua 12
phiếu cân xe từ ngày 06/6/2016 đến ngày 14/7/2016, trong đó ghi số phiếu, biển số
xe, ngày giờ cân và khối lượng hàng; tuy nhiên, các phiếu cân không có chữ ký xác
nhận tại mục người cân và khách hàng (BL 11-16). Nguyên đơn còn cung cấp 01
giấy nhập hàng viết trên giấy học sinh, có ghi ngày, tháng, năm; cuối giấy có nội
dung “Tính tròn 315 tấn”, có chữ ký và họ tên Nguyễn Đức T2 (BL 17). Tại đơn
tố giác gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, ông T trình bày ông
Nguyễn Đức T2 là quản đốc phân xưởng, người ký xác nhận nhập hàng. Trong quá
trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành ủy thác, niêm yết văn bản
tố tụng cho ông Nguyễn Đức T2 nhưng không thực hiện được. Tuy nhiên, Tòa án
cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định ông Nguyễn Đức T2 có
phải là quản đốc phân xưởng của Công ty S vào năm 2016 hay không và chữ ký,
chữ viết mang tên Nguyễn Đức T2 do ai ký, viết. Mặc dù 12 phiếu cân xe do nguyên
đơn cung cấp có ghi cụ thể số phiếu, biển số xe, ngày giờ cân và khối lượng hàng,
Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ quy trình nhập hàng, hệ thống sổ sách của Công
ty và chưa xác minh người, phương tiện vận chuyển để xác định ông T có giao 315
tấn gỗ vào kho của Công ty S hay không. Như vậy, việc thu thập chứng cứ là chưa
đy đủ.
Ngày 01/7/2016, ông Lê Hoàng T1 chuyển 100.000.000 đồng từ tài khoản
số 040046265191 đến tài khoản số 040046901071 của ông Mạnh Thế T, với nội
dung “Trả tiền mua gỗ cao su” (BL 113). Ông T1 là người đại diện theo pháp luật
của Công ty S và không thừa nhận có việc mua bán gỗ với ông T. Tuy nhiên, trên
thực tế ông T1 có chuyển tiền cho ông T với nội dung nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm
căn cứ việc ông T1 không thừa nhận hiệu lực của Hợp đồng mua bán gỗ cao su
ngày 30/5/2016 để không chấp nhận yêu cu khởi kiện của nguyên đơn. Nhưng
chưa làm rõ ngoài hợp đồng ngày 30/5/2016 giữa ông T với Công ty S hoặc cá nhân
ông T1 có giao dịch mua bán gỗ nào khác hay không và khoản tiền trên được thanh
toán cho giao dịch nào.
Xét thấy, Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cu khởi kiện của nguyên
đơn về việc buộc Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH H1) thanh toán số tiền
gốc 246.500.000 đồng và 220.962.600 đồng tiền lãi trong khi chứng cứ chưa được
thu thập đy đủ, chưa bảo đảm việc giải quyết vụ án khách quan, toàn diện. Những
thiếu sót này không thể khắc phục tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, cn chấp nhận
kháng cáo của ông Mạnh Thế T, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
6
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Do bản án sơ thẩm bị hủy
nên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng được xác định lại khi
giải quyết lại vụ án.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy, ông Mạnh Thế
T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật
Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Mạnh Thế T.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk, giao hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại
thủ tục chung.
[2] Về án phí:
[2.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Do hủy toàn bộ bản án sơ thẩm nên án phí dân
sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết lại theo quy định của pháp
luật.
[2.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Mạnh Thế T không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Mạnh Thế T 300.000 đồng tiền tạm ứng án
phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0002281 ngày 09/3/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND KV11 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS KV11 - Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị My My
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 422/2026/DS-PT Bản án số 422/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 422/2026/DS-PT Bản án số 422/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất