Bản án số 42/2019/DS-ST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 42/2019/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 42/2019/DS-ST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Cần Đước (TAND tỉnh Long An)
Số hiệu: 42/2019/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà ở
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN C
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH LONG AN
Bản án số: 42/2019/DS-ST
Ngày: 23- 9 - 2019
V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất; hợp đồng thuê nhà, đất
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Thi.
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Sương.
- Thư phiên tòa: Huỳnh Thủy Tiên - Thư Tòa án nhân dân huyện
C, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2018/TLST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2018 v
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà, đất
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9
năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đặng Thị Tuyết H, sinh năm: 1973. Địa chỉ: Số nhà 14/4,
p 1A, xã A, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trọng Th, sinh năm:
1972. Địa chỉ: Số n14/4, p 1A, A, huyện B, tỉnh Long An người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 07/02/2017) (có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1940;
2.2. Ông Lê Văn T, sinh năm: 1936;
Cùng địa chỉ: Số nhà 23, Tổ 3, Khu phố 8, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long
An.
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm: 1973.
Địa chỉ: Số nhà 70, Khu phố 8, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An người đại
diện theo ủy quyền của bị đơn (văn bản ủy quyền ngày 14/6/2017) (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Thị Tuyết Tr, sinh năm: 1971 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.2. Ông D, sinh năm: 1980 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.3. Cháu Lê Thành D1, sinh năm: 2006;
Người đại diện theo pháp luật cho cháu Dinh: Ông D, sinh năm: 1980 (có
đơn xin xét xử vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số 23, Tổ 3, Khu phố 8, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
3.4. Cháu Đỗ Hoàng P, sinh năm: 2001;
Địa chỉ: Số nhà 23, Tổ 3, Khu phố 8, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật cho cháu P: Thị T, sinh năm: 1974 (có
đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp 6, xã Phước Tuy, huyện C, tỉnh Long An.
3.5. Bà Lê Thị Đ, sinh năm: 1965 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
3.6. Văn phòng Công chứng B Người đại diện theo pháp luật Ông
Dương Tấn T2 Trưởng văn phòng (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: 154, 155, đường Nguyễn Văn Siêu, ấp T, xã Th, huyện B, tỉnh Long
An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 29/3/2017 các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơnĐặng Thị Tuyết H ủy quyền cho ông Trọng Th
trình bày: Ngày 05/9/2011, vợ chồng bà Nguyễn Thị Nh, ông Lê Văn T có chuyển
nhượng cho Đặng Thị Tuyết H thửa đất s157, tờ bản đồ số 5 (nay thửa đất
số 72, tờ bản đồ số 6), diện tích 193m
2
, loại đất đô thị và tài sản gắn liền với đất
căn nhà cấp 4 trên thửa đất (nhà chưa quyền sở hữu nhà), tọa lạc tại thị
trấn C, huyện C, tỉnh Long An. Hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được công chứng tại Văn phòng công chứng B. Giá chuyển nhượng trên
hợp đồng thể hiện 80.000.000 đồng nhưng thực tế thỏa thuận bên ngoài giá
chuyển nhượng 250.000.000 đồng. Cùng ngày 05/9/2011, H đã giao đủ số
tiền 250.000.000 đồng cho Nh, hai bên có làm biên nhận tiền nhà đất do Nh
ký tên, lăn tay Lê Thị Đ là con của bà Nh ký tên chứng kiến. Không có sự
việc bà Đ vay tiền của bà H. Đồng thời, cùng ngày 05/9/2011 bà Nh, ông T đã giao
nhà đất cho H việc này ng được thể hiện tại Điều 3 của hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2011 như sau: “Bên A nghĩa vụ giao thửa
đất nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này cùng giấy tờ về quyền sử dụng đất giao
toàn bộ tài sản, vật kiến trúc, nhà ở, các công trình xây dựng khác, cây trồng trên
thửa đất trên cho bên B sở hữu vào thời điểm khi ký xong hợp đồng giao dịch”.
Đến ngày 10/4/2014, H được Uỷ ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất số BT 842859, số vào sổ cấp GCN: CH 02234 đối với
3
thửa đất số 72, tờ bản đồ số 6, diện tích 193m
2
, loại đất tại đô thị, tọa lạc tại thị
trấn C, huyện C, tỉnh Long An. Nguyên nhân kéo dài thời gian đi đăng ký để được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do H làm kinh doanh, tìm người mua
nhà đất để bán lại khi đó sẽ để vợ chồng của Nh làm thủ tục sang tên cho người
mua lại sẽ thuận tiện hơn.
Do nhu cầu về chnên cùng ngày 05/9/2011, vợ chồng Nh, ông T
thuê lại nhà đất đã chuyển nhượng cho H để ở. H cùng vợ chồng của Nh
đã Hợp đồng thuê nhà, đất 02 lần, cả 02 hợp đồng đều không công chứng,
chứng thực (bà H không hiểu biết về pháp luật), cụ thể như sau:
Lần 01: Thời gian thuê nhà, đất từ ngày 05/9/2011 đến ngày 05/3/2012; giá
cho thuê mỗi tháng là 4.000.000 đồng, thanh toán tiền hàng tháng, vợ chồng của bà
Nh đã trả đầy đủ số tiền thuê nhà, đất là 24.000.000 đồng.
Lần 02: Thời gian thuê nhà, đất từ ngày 09/3/2012 đến ngày 09/3/2016; giá
cho thuê mỗi tháng 4.000.000 đồng, thanh toán tiền hàng tháng nhưng lần này
Nh, ông T không trả tiền thuê nhà đất đầy đủ. Đồng thời, hết thời gian thuê nhà
đất nhưng Nh, ông T cũng không giao trả nhà đất cho H. Tính đến tháng
3/2017 thì thời gian thuê nhà đất lên đến 60 tháng, số tiền thuê nhà đất
240.000.000 đồng nhưng đến tháng 3/2017, vợ chồng của Nh mới trả cho bà H
số tiền thuê nhà đất 30.000.000 đồng, làm biên nhận do Nh giữ, còn lại số
tiền 210.000.000 đồng chưa thanh toán nhưng do thấy vợ chồng Nh, ông T kinh
tế khó khăn nên H không yêu cầu vợ chồng của Nh, ông T phải trả số tiền
y.
Ông Th đồng ý với mảnh trích đo địa chính của Công ty TNHH phát triển đô
thị M được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày
25/8/2017, thửa đất số 72, có diện tích đo đạc thực tế là 208,6m
2
đồng ý giá nhà
đất thực tế tại thời điểm chuyển nhượng tháng 9/2011, giá đất 2.499.000đ/m
2
x
208,6m
2
= 521.291.400 đồng, công trình xây dựng trên đất gồm nhà chính, nhà
bếp, nhà vệ sinh tổng tr giá 92.515.000 đồng, tổng cộng nhà đất trị giá
613.806.400 đồng tại thời điểm định giá tháng 12/2017 932.293.000 đồng do
Công ty cổ phần thông tin thẩm định giá Miền Nam đã định giá ngày
29/12/2017.
Tại đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 26/8/2019 Đặng Thị Tuyết H
thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà, đất ngày 05/9/2011; hủy hợp
đồng thuê nhà, đất ngày 09/3/2012; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT
842859, số vào sổ cấp GCN: CH 02234 ngày 10/4/2014 Uỷ ban nhân dân
huyện C đã cấp cho H. Yêu cầu Nguyễn Thị Nh ông Văn T hoàn trả
cho H số tiền đã nhận 250.000.000 đồng bồi thường thiệt hại
682.293.000 đồng theo giá của chứng thư thẩm định tại thời điểm tháng 12/2017 là
932.293.000 đồng.
Tại phiên tòa, ông Lê Trọng Th đại diện cho bà H thay đổi, bổ sung như sau:
Đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2011; hủy hợp
đồng thuê nhà, đất ngày 05/9/2011 và hợp đồng thuê nhà, đất ngày 09/3/2012; hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 842859, số vào sổ cấp GCN: CH 02234
4
ngày 10/4/2014 Uỷ ban nhân dân huyện C đã cấp cho H. Yêu cầu
Nguyễn Thị Nh ông Văn T hoàn trả cho H số tiền đã nhận là 250.000.000
đồng tiền lãi theo quy định của pháp luật. do thay đổi yêu cầu khởi kiện
do phía bà Nh, ông T đã lớn tuổi và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
B đơn Nguyễn Thị Nh ông Văn T cùng ủy quyền cho ông
Huỳnh Văn T1 trình bày: Ông thống nhất với trình bày của đại diện nguyên đơn
về việc vợ chồng Nh, ông T có ký hợp đồng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 05/9/2011, hợp đồng thuê nhà, đất ngày 05/9/2011 và hợp đồng thuê
nhà, đất ngày 09/3/2012 đúng như ông Th đại diện cho H trình bày. do dẫn
đến Nh, ông T hợp đồng chuyển nhượng thuê nhà đất với H do con
của bà Nh, ông T là Lê Thị Đ có vay của bà H số tiền 250.000.000 đồng. Bà Nh,
ông T nghe Đ nói vay tiền trên giấy nợ lãi suất 4%/tháng nhưng thực tế lãi
lên đến 16%/tháng còn cụ thể hai bên thỏa thuận thời hạn vay như thế nào thì
Nh, ông T không biết không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Hiện nay
nhà đất do bà Nh, ông T đang quản lý sdụng hoàn toàn không việc Nh,
ông T giao nhà đất cho H như ông Th đại diện cho H đã nêu. Việc Nh,
ông T hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp đồng thuê nhà,
đất với H với mục đích để làm tin, đảm bảo cho số tiền vay của chị Đắng.
Nh cùng với chị Đắng n trong biên nhận tiền n đất ngày 05/9/2011
nhưng thực tế bà Nh không nhận số tiền 250.000.000 đồng của H mà chỉ để hợp
thức hóa giấy tờ đối với số tiền chị Đắng đã vay trước đó của H. Việc đại diện
nguyên đơn nêu chị Đắng tên làm chứng không đúng trong biên nhận tiền
không thể hiện chị Đắng người làm chứng. Do phía H nhiều lần đến nhà
Nh, ông T để đòi nợ chị Đắng nên Nh tr cho H tổng cộng số tiền
54.000.000 đồng như ông Th nêu nhưng không phải trả tiền thuê nhà trả lãi
thay cho chị Đắng.
Ông T1 đồng ý với mảnh trích đo địa chính của Công ty TNHH phát triển đô
thị M được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày
25/8/2017, thửa đất 72 có diện tích đo đạc thực tế là 208,6m
2
và đồng ý giá nhà đất
thực tế tại thời điểm chuyển nhượng tháng 9/2011, giá đất 2.499.000đ/m
2
x
208,6m
2
= 521.291.400 đồng, công trình xây dựng trên đất gồm nhà chính, nhà
bếp, nhà vệ sinh tổng tr giá 92.515.000 đồng, tổng cộng nhà đất trị giá
613.806.400 đồng tại thời điểm định giá tháng 12/2017 932.293.000 đồng do
Công ty cổ phần thông tin và thẩm định giá Miền Nam đã định giá ngày
29/12/2017. Hiện nay, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 (nay là thửa đất số 72, tờ bản
đồ số 6), diện tích 193m
2
, loại đất ở đô thị và tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp
4 cất trên thửa đất, tọa lạc tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, có con ông D,
Lê Thị Tuyết Tr, cháu Lê Thành D1 (con của ông D, cháu Đỗ Hoàng P (con của
Thị T) cùng nhưng đây tài sản riêng của Nh ông T, những người
trên không có liên quan.
Tại đơn phản tố ngày 20/02/2019, Nguyễn Thị Nh và ông Văn T trình
bày: Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2011;
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho H; hủy 02 hợp đồng thuê
nhà, đất vì đây là các hợp đồng giả tạo nhằm đảm bảo số tiền vay của Lê Thị Đ;
5
yêu cầu H phải trả lại cho Nh số tiền 54.000.000 đồng H đã nhận của
bà Nh, ông T.
Tại phiên tòa, ông Huỳnh Văn T1 đại diện cho Nh, ông T trình bày:
Nh, ông T yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày
05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà đất ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà, đất
ngày 09/3/2012; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 842859, số vào sổ
cấp GCN: CH 02234 ngày 10/4/2014 Uỷ ban nhân dân huyện C đã cấp cho
H; yêu cầu bà H trả lại 54.000.000 đồng. Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết
H yêu cầu Nguyễn Thị Nh và ông Lê Văn T hoàn trả cho bà H số tiền đã nhận
250.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật thì ông T1 không đồng ý.
Vì đây là số tiền này chị Đắng phải có trách nhiệm trả cho bà Đặng Thị Tuyết H.
Tại biên bản hòa giải ngày 26/8/2019 tại phiên tòa, ông Trọng Th
ông Huỳnh Văn T1 thống nhất không yêu cầu định giá thuê nhà tại 02 thời điểm
02 hợp đồng thuê nhà, đất và không yêu cầu định giá lại giá trị nhà đất thống
nhất lấy giá của chứng thư ngày 29/12/2017 để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Đ trình bày (tại biên
bản lấy lời khai ngày 07/3/2019): Đ Nguyễn Thị Tuyết H là bạn quen
biết trong buôn bán (bà Đ bán tôm chợ C chợ B). Do cần vốn làm ăn nên
bà Đ có vay tiền của bà H khoảng 04 đến 05 lần, cuối cùng chốt nợ lại là
250.000.000 đồng. Tuy nhiên thời gian bắt đầu vay thì bà không nhớ, quá trình vay
bà trả lãi suất ban đầu là 6%, sau này khôngkhả năng trả nên chỉ trả lãi 4%, tuy
nhiên trả lãi bao nhiêu thì bà không nhớ và bà cũng không yêu cầu Tòa án khấu trừ
lãi đã đóng quá cao vào tiền vốn. Khi mất khả năng chi trả thì H gây áp lực
buộc phải yêu cầu cha mẹ ruột Nguyễn Thị Nh và ông Văn T phải
lên B Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Đặng Thị Tuyết H
tại thửa đất 157, tờ bản đồ số 05 (nay đổi thành sổ mới là 72, tờ bản đồ số 06). Tuy
nhiên Nh, ông T không có nhận số tiền trong hợp đồng, trong hợp đồng chuyển
nhượng đó bà cũng có ký tên vào. Thực chất hợp đồng chuyển nhượng là hợp đồng
vay nên H yêu cầu bà Nh, ông T giao nhà đất nói trên thì không đồng ý.
đồng ý sẽ trả số tiền vay cho H 250.000.000 đồng lãi suất theo quy định
của pháp luật. Trước đây t tại số nhà 39, tổ 3, khu 8, thtrấn C, huyện C,
tỉnh Long An nhưng căn nhà này đã chuyển nhượng cho người khác. Hiện nay
đi làm mướn không nơi cố định. đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt
bà ở xa mỗi lần về C rất khó khăn.
Ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng B trình
bày tại công văn ngày 06/9/2019 nhƣ sau: Việc bị đơn yêu cầu hủy hợp đồng
công chứng ngày 05/9/2011 thì Văn phòng ng chứng không đồng ý. Chỉ trừ
trường hợp các bên thỏa thuận hủy thì Văn phòng Công chứng đồng ý. Tuy nhiên
việc xử như thế nào tTòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Văn phòng Công chứng B yêu cầu được xét xử vắng mặt.
Ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: cháu Đỗ Hoàng P do Thị
T đại diện theo pháp luật cho cháu P trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày
15/8/2017 nhƣ sau: mẹ ruột của cháu Đỗ Hoàng P, hiện cháu P hộ khẩu
sống cùng nhà với cha mẹ của là bà Nguyễn Thị Nh và ông Lê Văn T, cháu P
6
chỉ nhờ chứ không công sức đóng góp nên đối với nhà, đất của Nh, ông
T để bà Nh, ông T toàn quyền quyết định.
Ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Tuyết Tr, ông D
và cháu là Lê Thành D1 (ông D đại diện theo pháp luật cho cháu D1): Đã được
Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không nộp văn bản nêu ý kiến,
không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa đơn
yêu cầu xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công thụ giải
quyết vụ án đã xác định đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
về xác định cách tham gia tố tụng của các đương sự theo Điều 68; tiến hành xác
minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định từ Điều 93 đến Điều
97; tiến hành thụ lại ván, tuân thủ đúng quy định về trình tthụ vụ án, thụ
lý yêu cầu phản tố, giao nhận thông báo thụ lý cho đương sự và Viện kiểm sát theo
các Điều 195, 196, 202; tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ hòa giải theo đúng trình tự quy định tại Điều 210; xác định đúng
đầy đủ mối quan hệ tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố của c
đương sự; về thẩm quyền thụ giải quyết vụ án đúng theo quy định tại các Điều
26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc tuân thủ thời hạn chuẩn bị xét xử: Ngày 14/8/2018, Tòa án thụ lý lại
vụ án do Tòa án cấp phúc thẩm hủy để xét x lại, ngày 14/12/2018 Tòa án ra
Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, ngày 25/02/2019 Tòa án thụ đơn
phản tố của bị đơn là đúng quy định, đảm bảo tuân thủ về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư tại phiên tòa: Hội
đồng xét xử và thư đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng n sự
về việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng,
đồng thời chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Văn phòng Công chứng B, bà Lê Thị Đ,
chị Thị T đồng thời đại diện cho cháu Đỗ Hoàng P, Nguyễn Thị Tuyết Tr,
ông D đồng thời là đại diện cho cháu Lê Thành D1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên
căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
- Ý về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét
kết qutranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên a, đề nghị Hội
đồng xét xử:
- Ghi nhận việc rút yêu cầu bồi thường stiền số tiền 682.293.000 đồng của
nguyên đơn;
- Không chấp yêu cầu phản tố của bị đơn về đòi lại số tiền 54.000.000 đồng;
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về về hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà, đất;
7
- Buộc Nh, ông T Đ chịu trách nhiệm liên đới trả cho H số tiền
nợ vay 250.000.000 đồng lãi chậm trả theo quy định của pháp luật, khấu trừ số
tiền lãi đã đóng 54.000.000 vượt quá quy định vào số tiền vốn phải trả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ ván được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đặng Thị Tuyết H khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sdụng đất ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà, đất ngày 05/9/2011;
hủy hợp đồng thuê nhà, đất ngày 09/3/2012; hủy giấy chứng nhận quyền sdụng
đất sBT 842859, số vào sổ cấp GCN: CH 02234 ngày 10/4/2014; yêu cầu
Nguyễn Thị Nh ông Văn T hoàn trả cho H số tiền đã nhận chuyển quyền
sử dụng đất 250.000.000 đồng tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Nguyễn Thị Nh ông Văn T yêu cầu phản tố yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà, đất
ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê n, đất ngày 09/3/2012; hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BT 842859, số vào sổ cấp GCN: CH 02234 ngày 10/4/2014;
yêu cầu bà Đặng Thị Tuyết H phải trả lại cho Nh, ông T số tiền đã nhận
54.000.000 đồng. Theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật ttụng tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hợp đồng thuê nhà, đất; đòi tài sản thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
[1.2] Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn ThTuyết
Tr; ông D và cháu Lê Thành D1 (ông D đại diện theo pháp luật cho cháu Dinh);
cháu Đỗ Hoàng P (bà Thị T đại diện theo pháp luật cho cháu P); Thị Đ;
Văn phòng Công chứng B có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228
của Bộ luật Ttụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những
người trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 26/8/2019 và tại phiên tòa ông
Trọng Th đại diện cho Đặng Thị Tuyết H trình bày: Đồng ý hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà, đất
ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà, đất ngày 09/3/2012; hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BT 842859, số vào sổ cấp GCN: CH 02234 ngày 10/4/2014;
yêu cầu Nguyễn Thị Nh ông Văn T hoàn trả cho H stiền đã nhận
250.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
[2.2] Tại đơn phản tố ngày 20/02/2019 tại phiên tòa, ông Huỳnh Văn T1
đại diện cho Nh, ông T yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng
đất ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà, đất ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng
thuê nhà, đất ngày 09/3/2012; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT
842859, số vào sổ cấp GCN: CH 02234 ngày 10/4/2014 Uỷ ban nhân dân
huyện C đã cấp cho H. Đối với yêu cầu Nguyễn Thị Nh và ông Văn T
8
hoàn trả cho H số tiền đã nhận 250.000.000 đồng tiền lãi theo quy định
của pháp luật thì ông T1 không đồng ý mà số tiền này bà Đ phải có trách nhiệm trả
cho H. Đồng thời, Nh ông T yêu cầu H hoàn trả số tiền 54.000.000
đồng mà bà Nh và ông T đã trả lãi cho bà H.
[2.3] Xét thấy ông Trọng Th đại diện cho Đặng Thị Tuyết H ông
Huỳnh Văn T1 đại diện cho Nguyễn Thị Nh, ông Văn T đồng ý hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà,
đất ngày 05/9/2011; hủy hợp đồng thuê nhà, đất ngày 09/3/2012 nên Hội đồng xét
xử ghi nhận việc hủy các hợp đồng này. Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BT 842859, số vào sổ cấp GCN: CH 02234 ngày 10/4/2014
Uban nhân dân huyện C đã cấp cho H. Xét thấy việc Ủy ban nhân dân
huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho H tại thửa đất 157 (thửa
mới 72) dựa trên sở hợp đồng chuyển nhượng đúng trình tự thủ tục pháp
luật quy định nên không cần xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói
trên. căn cứ điểm d khoản 2 của Điều 106, 195 của Luật Đất đai; Điều 79
của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ. Văn phòng
đăng đất đai trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các
quyền theo quy định txác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp
hoặc lập hồ trình quan thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất khi có yêu cầu của bà Nh, ông T.
[2.4] Theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần thông tin thẩm
định giá Miền Nam ngày 29/12/2017 thì giá nhà đất thực tế tại thời điểm chuyển
nhượng tháng 9/2011 như sau: Giá đất là 2.499.000đ/m
2
x 208,6m
2
= 521.291.400
đồng; công trình xây dựng trên đất gồm nhà chính, nhà bếp, nhà vệ sinh có tổng trị
giá 92.515.000 đồng, tổng cộng nhà đất trị giá 613.806.400 đồng. Còn giá các
bên đương sthống nhất tại thời điểm chuyển nhượng 250.000.000 đồng. Qua
đó, cho thấy trị giá nhà đất thực tế so với trị giá nhà đất tại thời điểm chuyển
nhượng có sự chênh lệch rất lớn là 363.806.400 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai của bà Lê Thị Đ ngày 07/3/2019, bà Đ khai giữa bà
và bà Nguyễn Thị Tuyết H là bạn quen biết trong buôn bán. Do cần vốn làm ăn nên
Đ vay tiền của bà H tổng số tiền 250.000.000 đồng. Khi mất khả năng
chi trả thì H buộc phải yêu cầu cha mẹ ruột Nguyễn Thị Nhiễu
ông Văn T phải lên B Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
Đặng Thị Tuyết H tại thửa đất 157, tờ bản đsố 05 (nay đổi thành sổ mới là 72, t
bản đồ số 06). Bên cạnh đó, Nh, ông T trình bày trên thực tế không có việc giao
nhà đất cho H việc hợp đồng thuê nhà chỉ nhằm hợp thức việc trả tiền lãi
cho bà Đ.
Qua các phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ xác định việc H bà
Nh, ông T kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2011;
hợp đồng thuê nhà, đất ngày 05/9/2011; hợp đồng thuê nhà, đất ngày 09/3/2012
nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản giữa bà H Đ. Do đó, để giải quyết triệt
để nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết quan hệ vay tài sản giữa bà
H và bà Đ, bà Nh, ông T.
9
[2.5] Về trách nhiệm liên đới: Qua lời trình bày của ông T1 Đ cho
thấy, do bà Đ nợ tiền của H không có khả năng chi trả nên bà Nh và ông T dùng
tài sản của mình thửa đất 157, tờ bản đồ số 05 (nay đổi thành số mới 72, tờ
bản đồ số 06), diện tích đo đạc thực tế 208,6m
2
để bảo lãnh cho số tiền vay của
bà Đ và quá trình sau đó, bà Nhiễu và ông T cũng đứng ra trả lãi cho bà H thay cho
Đ số tiền 54.000.000 đồng. Qua đó, căn cứ vào Điều 298, 361, 363 Bộ luật
dân sự 2005 cần buộc Nguyễn Thị Nh, ông Văn T và bà Thị Đ phải
trách nhiệm liên đới trả số tiền gốc tiền lãi theo quy định của pháp luật cho
Đặng Thị Tuyết H.
[2.6] Số tiền gốc và lãi cần phải trả cụ thể được tính như sau:
[2.6.1] Đối với số tiền vay 250.000.000 đồng từ thời gian ngày 05/9/2011
đến ngày 09/3/2016 được xác định vay trong hạn (thể hiện thông qua hợp đồng
thuê nhà đất ngày 05/9/2011 hợp đồng thuê nhà ngày 09/3/2012) lãi suất
được tính 1,125%/tháng. Từ ngày 05/9/2011 đến ngày 05/3/2012, mỗi tháng
Nh và ông T trả 4.000.000 đồng tiền lãi. Do số tiền lãi này vượt quá quy định pháp
luật nên được xem xét khấu trừ vào tiền vốn như sau:
- Ngày 05/10/2011, trả 4.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là: 250.000.000
đồng x 1,125% = 2.812.500 đồng. Số tiền lãi còn là: 4.000.000 2.812.500 =
1.187.500 đồng. Được khấu trừ vào tiền vốn còn lại là: 250.000.000 đồng –
1.187.500 đồng = 248.812.500 đồng.
- Ngày 05/11/2011, trả 4.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là: 248.81.500 đồng
x 1,125% = 2.799.141 đồng. Số tiền lãi còn là: 4.000.000 đồng 2.799.141
đồng = 1.200.859 đồng. Được khấu trừ vào tiền vốn còn lại là: 248.812.500 đồng
1.200.859 đồng = 247.611.641 đồng.
- Ngày 05/12/2011, trả 4.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là: 247.611.641
đồng x 1,125% = 2.785.631 đồng. Số tiền lãi còn dư là: 4.000.000 đồng
2.785.631 đồng = 1.214.369 đồng. Được khấu trừ vào tiền vốn còn lại là:
247.611.641 đồng – 1.214.369 đồng = 246.397.272 đồng.
- Ngày 05/01/2012, trả 4.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là: 246.397.272
đồng x 1,125% = 2.771.969 đồng. Số tiền lãi còn dư là: 4.000.000 đồng
2.771.969 đồng = 1.228.031 đồng. Được khấu trừ vào tiền vốn còn lại là:
246.397.272 đồng – 1.228.031 đồng = 245.169.241 đồng.
- Ngày 05/02/2012, trả 4.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là: 245.169.241
đồng x 1,125% = 2.758.154 đồng. Số tiền lãi còn là: 4.000.000 đồng
2.758.154 đồng = 1.241.846 đồng. Được khấu trừ vào tiền vốn còn lại là:
245.169.241 đồng – 1.241.846 đồng = 243.927.395 đồng.
- Ngày 05/03/2012, trả 4.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là: 243.927.395
đồng x 1,125% = 2.744.183 đồng. Số tiền lãi còn là: 4.000.000 đồng
2.744.183 đồng = 1.255.817 đồng. Được khấu trừ vào tiền vốn còn lại là:
243.927.395 đồng 1.255.817 đồng = 242.671.578 đồng.
Như vậy, tính đến ngày 05/3/2012 số tiền gốc còn lại là: 242.671.578 đồng.
Lãi suất trên số tiền gốc 242.671.578 tiếp tục được tính từ ngày 05/3/2012
đến ngày 09/3/2016 là: 242.671.578 đồng x 48 tháng, 04 ngày x 1,125% =
131.406.659 đồng.
10
[2.6.2] Lãi suất trên số tiền gốc 242.671.578 đồng từ ngày 09/3/2016 đến
ngày 23/9/2019 được xem lãi suất quá hạn được tính như sau: 242.671.578
đồng x 36 tháng, 14 ngày x 0,75% = 66.370.676 đồng 30.000.000 đồng (tiền lãi
trả vào tháng 3/2017) = 36.370.676 đồng.
Như vậy tổng số tiền gốc lãi phải trả là: tiền gốc 242.671.578 đồng +
tiền lãi là (131.406.659 đồng + 36.370.676 đồng) = 410.448.913 đồng.
[2.7] Đối với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Nh ông Văn T buộc
Đặng Thị Tuyết H phải hoàn trả số tiền lãi 54.000.000 đồng mà bà H đã nhận là
không có cơ sở chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng:
Về án phí: Đặng Thị Tuyết H phải chịu án phí dân sự thẩm không
giá ngạch đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 02
hợp đồng thuê nhà, đất bị hiệu, trả lại cho H số tiền tạm ứng án phí còn dư.
Nh, ông T được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Thị Đ phải
chịu 1/3 số tiền án phí đối với số tiền phải trả cho bà H.
Về chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá: Do bản chất vụ án tranh
chấp hợp đồng vay chứ không phải tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, hợp
đồng thuê nhà, đất nên bà H phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá
là 10.191.000 đồng, bà H đã nộp xong.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sđược quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271
và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 137, 298, 361, 363, 471, 474 476 của Bluật dân s
2005;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Đặng Thị Tuyết H về tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà, đất với
Nguyễn Thị Nh, ông Lê Văn T, Lê Thị Đ.
Buộc Nguyễn Thị Nh, ông Văn T và Thị Đ phải chịu trách
nhiệm liên đới trả cho Đặng Thị Tuyết H số tiền nợ gốc là: 242.671.578 đồng,
số tiền lãi là: 167.777.335 đồng. Tổng cộng: 410.448.913 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị Nh, ông Văn T
về việc yêu cầu Đặng Thị Tuyết H trả lại số tiền 54.000.000 đồng.
11
3. Ghi nhận yêu cầu của bà Đặng Thị Tuyết H Nguyễn Thị Nh, ông Lê
Văn T về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
05/9/2011 đối với thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 (nay thửa đất số 72, tờ bản đồ
số 6), diện tích 193m
2
(diện tích đo đạc thực tế là 208,6m
2
), loại đất ở đô thị tọa lạc
tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; hủy hợp đồng thuê nhà, đất ngày 05/9/2011;
hủy hợp đồng thuê nhà, đất ngày 09/3/2012 giữa Đặng Thị Tuyết H
Nguyễn Thị Nh, ông Lê Văn T.
4. Bà Nguyễn Thị Nh, ông Văn T được quyền liên hệ với quan nhà
nước thẩm quyền xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp
hoặc yêu cầu quan thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa đất số 72, tờ bản đồ số 6, diện tích đo đạc thực tế là 208,6m
2
, loại đất ở đô
thị, tọa lạc tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An (theo mảnh trích đo địa chính của
Công ty TNHH phát triển đô thị M được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại
huyện C duyệt ngày 25/8/2017).
5. Về án phí, chi phí tố tụng :
Về án phí: Đặng Thị Tuyết H phải chịu 900.000 đồng án phí dân sự
thẩm không giá ngạch. H được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại
biên lai số 0000953 ngày 02/5/2018 biên lai số 0001558 ngày 26/8/2019 của
Chi cục thi hành án dân sự huyện C. Trả lại cho H 22.700.000 đồng. Miễn án
phí cho Nguyễn Thị Nh ông Văn T. Bà Thị Đ phải chịu 6.805.985
đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi p đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá: H phải 10.191.000
đồng, bà H đã nộp xong.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt được quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự được quỳên thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Long An;
- VKSND huyện C;
- Chi cục THADS huyện C;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Hữu Lộc
Tải về
Bản án số 42/2019/DS-ST Bản án số 42/2019/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất