Bản án số 418/2026/HS-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 418/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 418/2026/HS-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 418/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Lê Văn T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 418/2026/HS-ST Bản án số 418/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 418/2026/HS-ST Bản án số 418/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
------------------------
Bản án số: 418/2026/HS-ST
Ngày: 27/08/2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----------------------------------------------
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Thạch Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà
Bà Trần Thị Thu Hạnh
- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Tuấn Minh - Thư ký Toà án nhân dân khu
vực 5 - Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 08 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà
Nội Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 405/2026/HSST ngày
07 tháng 08 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
444/2026/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 08 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn T1; sinh ngày 18/12/1987 tại Hà Nội; số CCCD: 001xxxxxxxxx;
Hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã P1, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số F, ngõ G TDP
Đ1, phường T1, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con
ông: Lê Văn L1; Con bà: Nguyễn Thị Y1; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con
thứ nhất.
Nhân thân: Bản án số 88/2020/HSST ngày 24/06/2020 của Tòa án nhân
dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài
sản. Thời hạn tù tính từ ngày 23/03/2020. Chấp hành án xong về địa phương
ngày 14/12/2020. Xác minh thi hành án, bị cáo đã nộp án phí theo biên lai số
1800 ngày 29/09/2020. (Đã được xóa án tích).
Tiền sự: 01 tiền sự: Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 22/01/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về việc áp dụng biện pháp hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng kể từ ngày
04/01/2024. Chấp hành xong ngày 04/09/2025. (chưa được xóa).
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 12/01/2026, tạm giam từ ngày
21/01/2026 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).
2
2. Cà Văn T2; sinh ngày 01/01/1990 tại Sơn La; số CCCD:
014xxxxxxxxx; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản M, xã C1, tỉnh Sơn La; Chỗ
ở: Số F, ngõ G TDP Đ1, phường T1, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân
tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 0/12; Nghề nghiệp: Lao
động tự do; Con ông: Cà Văn D1; Con bà: Cà Thị L2; Vợ là Lò Thị K, sinh năm
1989; có 04 con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2023; Gia đình có 02 anh chị
em, bị cáo là con thứ nhất.
Nhân thân: Bản án số 73/2022/HSST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân
dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản,
thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2021. Chấp hành xong về địa phương ngày
03/05/2022. Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. (Đã được xóa án
tích).
Tiền sự: 01 tiền sự: Quyết định số 47/2023/QĐ-TA ngày 30/08/2023 của
của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội về việc áp dụng biện
pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 16 tháng kể từ
ngày 01/08/2023. Chấp hành xong ngày 01/12/2024. (chưa được xóa).
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 12/01/2026, tạm giam từ ngày
21/01/2026 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).
3. La Văn T3, sinh ngày 28/08/1988 tại Lai Châu; số CCCD:
012xxxxxxxxx; Hộ khẩu thường trú: Bản C2, xã T2, tỉnh Lai Châu; Chỗ ở: Số F,
ngõ G TDP Đ1, phường T1, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự
do; Con ông: La Văn B; Con bà: Lù Thị Y2; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là
con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: 01 tiền án.
Bản án số 40/2024/HSST ngày 12/03/2024, Tòa án nhân dân huyện Tân
Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính
từ ngày 13/12/2023. Chấp hành xong hình phạt tù về địa phương ngày
13/10/2024 (Chưa được xóa án tích).
Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 12/01/2026, tạm giam từ ngày
21/01/2026 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).
- Bị hại:
+ Chị Lý Thị T4, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn L, xã P1, thành phố Hà Nội.
(Xin xét xử vắng mặt).
+ Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1997; Trú tại: Thôn O, xã P1, thành phố Hà Nội.
(Xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trung D2, sinh năm
1990; Trú tại: H B, phường N1, thành phố Hà Nội. (Xin xét xử vắng mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn T2: Bà Đinh Thị Phương M - Trợ giúp
3
viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/01/2026, Công an xã Phù Đổng tiếp nhận đơn trình báo của chị
Lý Thị T4 (Sinh năm:1976, nơi thường trú: Thôn L, xã P1, Hà Nội) về việc
khoảng 11 giờ 40 phút ngày 09/01/2026, chị T4 bị mất trộm 01 xe mô tô nhãn
hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 29N1-xxx.xx tại cửa nhà.
Sau khi tiếp nhận đơn trình báo của chị Lý Thị T4, Tổ công tác Công an
xã Phù Đổng phối hợp với Công an phường Từ Sơn, Bắc Ninh tiến hành rà soát
camera theo hướng bỏ chạy của đối tượng. Khi đến khu vực ngõ G, TDP Đ1,
phường T1, Bắc Ninh, tổ công tác phát hiện 02 đối tượng nam giới đang đứng
trước cửa số nhà F, trong đó có 01 đối tượng mặc áo khoác dài tay, có mũ trùm
đầu, màu xanh, tím than, quần bò sáng màu, nhiều vết rách ở quần, đeo túi chéo
màu đen, đi giày thể thao màu trắng, xanh, có nhiều đặc điểm tương đồng với
đối tượng trộm cắp tài sản do chị T4 cung cấp. Tiến hành kiểm tra hành chính
đối tượng thứ nhất tự khai tên là Cà Văn T2 (Sinh năm: 1990, nơi thường trú:
Bản M, xã C1, tỉnh Sơn La). Qua đấu tranh tại chỗ, T2 khai nhận hành vi trộm
cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 29N1-xxx.xx vào ngày
09/01/2026 tại khu vực N2, xã P1, Hà Nội. Kiểm tra trên người T2, tổ công tác
tiếp tục phát hiện trong túi quần bò phía sau bên trái của T2 có 01 gói giấy màu
trắng, kiểm tra bên trong có chất bột màu trắng. T2 khai nhận đây là ma túy do
đối tượng tên T1 đưa cho T2 đem đi bán cho một người đàn ông tên P. Chiếc xe
máy mà T2 trộm cắp được, T2 bán lại cho T1 và chiếc xe đang cất giấu tại số
nhà F và T1 đang ở trong phòng. Đối tượng nam giới còn lại tự khai nhận là La
Văn T3 (Sinh năm: 1988, nơi thường trú: Bản C2, xã T2, tỉnh Lai Châu) hiện ở
tại số nhà F nói trên. Tổ công tác đưa 02 đối tượng vào trong nhà số F để tiếp
tục kiểm tra, phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đã qua sử dụng,
BKS: 30H8-xxxx và 01 đối tượng nam giới. Tại chỗ nam thanh niên tự khai tên
Lê Văn T1 (Sinh năm: 1987, nơi thường trú: Thôn H, xã P1, Hà Nội). Kiểm tra
trên người T1 phát hiện bên trong tất chân phải của T1 đang đi có 01 (một) túi
nilong màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, T1 khai nhận chất
bột màu trắng bên trong túi nilong màu trắng là ma túy Heroin và T1 vừa đưa
cho T2 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma
túy Heroin để T2 đem đi bán hộ T1 cho một người tên P. Đối với chiếc xe máy
BKS: 30H8-xxxx, là xe máy T1 mua lại của T2 với giá 900.000 đồng. Sau đó,
T1 đã tháo BKS: 29N1-xxx.xx và thay vào đó là BKS: 30H8-xxxx. Kiểm tra tại
góc tường cạnh chỗ dựng xe máy phát hiện thêm BKS: 29N1-xxx.xx.
Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và mời những
người liên quan về trụ sở để giải quyết.
Vật chứng tạm giữ :
4
Của Lê Văn T1: 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng; 01 xe máy nhãn
hiệu Honda Wave màu đỏ đen bạc BKS: 30H8-xxxx; số khung: 39…; số máy:
JA… đã qua sử dụng; 01 BKS 29N1-xxx.xx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Redmi Note 14 màu đen đã qua sử dụng.
Của Cà Văn T2: 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di
động nhãn hiệu Samsung Galaxy J12 màu vàng, màn hình máy nứt vỡ, đã qua
sử dụng.
Của La Văn T3: 01 điện thoại di động kiểu dáng Masstel màu đen đã qua
sử dụng.
Quá trình điều tra xác định trong khoảng thời gian từ ngày 09/01/2026
đến ngày 10/01/2026 các bị can thực hiện nhiều hành vi phạm tội, cụ thể:
* Hành vi trộm cắp của Cà Văn T2 và Lê Văn T1:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 09/01/2026 Cà Văn T2 đi bộ một mình xem
có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi qua ngôi nhà tại thôn L N2, T2 thấy 01 xe
máy Honda Wave màu đỏ dựng trước cửa, không khóa cổ, khóa càng, chìa khóa
cắm sẵn, không có ai trông coi. T2 đi đến dắt xe xuống đường, sau đó nổ máy
phóng về nhà trọ tại số nhà F khu vực ngõ G, TDP Đ1, phường T1, Bắc Ninh.
T2 bán xe máy này cho Lê Văn T1 với giá 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng)
(Do trước đó khoảng đầu tháng 12/2025, T2 và T1 thống nhất khi T2 trộm cắp
được xe máy nào đẹp thì mang về bán cho T1). T1 không đưa tiền cho T2 mà trừ
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) trước đó T2 mua nợ ma túy của T1 và đưa
thêm cho T2 lượng ma túy có giá tương đương 600.000 đồng (sáu trăm nghìn
đồng). T2 đã sử dụng hết số ma túy trên. Sau khi nhận chiếc xe mô tô này từ T2,
T1 đã tháo BKS 29N1-xxx.xx ra và lắp thay bằng BKS: 30H8-xxxx. Sau đó, T1
cất BKS: 29N1-xxx.xx ở góc tường cạnh chỗ dựng xe mô tô trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2026
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã P1 kết luận: Giá trị xe mô
tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 29N1-xxx.xx đã qua sử dụng là:
10.500.000 đồng (Mười triệu, năm trăm nghìn đồng)
Về nguồn gốc xe mô tô BKS: 29N1-xxx.xx chị T4 trình bày: Khoảng
tháng 03/2018 chị T4 mua và đăng ký đứng tên chính chủ xe máy Honda Wave,
Biển kiểm soát: 29N1-xxxxx. Khoảng 11 giờ 35 phút, ngày 09/01/2026, sau khi
đi giải quyết công việc cá nhân xong, chị T4 điều khiển xe mô tô trên để trước
cửa nhà tại địa chỉ: Thôn L, xã P1, thành phố Hà Nội và đi vào trong nhà. Khi
nghe tiếng nổ xe mô tô ở trước nhà, chị T4 chạy ra thì thấy một nam thanh niên
mặc áo khoác màu xanh, quần sáng màu ngồi trên chiếc mô tô, phóng xe chạy
về hướng T1, Bắc Ninh. Chị T4 có đuổi theo nhưng không kịp, biết là chiếc xe
đã bị trộm cắp nên chị T4 đã đến công an xã Phù Đổng để trình báo sự việc trên.
Tra cứu thông tin đối với xe mô tô BKS 29N1-xxx.xx kết quả: Chủ xe Lý
Thị T4 (Địa chỉ: Xóm L, N2, G, Hà Nội). Xe có nhãn hiệu: Honda, số loại:
5
WAVE, Màu sơn: Đỏ đen bạc, số khung: RL… và số máy: JA…. Ngày
11/05/2026 Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử lý
vật chứng trả xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29N1-xxx.xx, số khung:
RL…, số máy: JA… cho chị T4.
Về dân sự: Sau khi nhận tài sản, chị T4 không yêu cầu gì khác và đề nghị
xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vụ thứ 2:
Khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 05/01/2026, Cà Văn T2 đi bộ lang thang
xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi T2 đi đến khu vực nhà số I thôn J N2,
xã P1, T2 phát hiện 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave, BKS: 99H8-xxxx dựng
ở rìa đường, chìa khóa cắm ở ổ khóa, không có ai trông giữ. T2 đi tới, ngồi lên
xe và đạp nổ máy đi về phòng trọ. T2 đã bán lại chiếc xe này cho một người đàn
ông không quen biết tại khu vực T1, Bắc Ninh với giá 1.000.000 đồng. (Hiện
không thu hồi được chiếc xe trên).
Xác minh nguồn gốc chiếc xe BKS: 99H8-xxxx xác định: Đăng ký xe
mang tên Dương Văn V (SN: 1960; HKTT: S, C3, T1, Bắc Ninh, CCCD số:
027xxxxxxxxx). Khoảng tháng 06/2024 do có nhu cầu mua xe Wave cũ để đi lại
nên chị Hoàng Thị C (SN: 1997; HKTT: Thôn O, xã P1, Hà Nội) đến khu vực
trung tâm thành phố T1, Bắc Ninh tìm mua. Khi chị C đi qua một vài cửa hàng
bán xe cũ để tìm mua xe máy Wave thì gặp ông V đang rao bán cho cửa hàng
chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave BKS: 99H8-xxxx, số khung:
RL…, số máy: HC…, màu đỏ đen với giá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng). Chị
C quan sát xem qua chiếc xe ông V đem bán thấy vẫn còn chất lượng nên chị C
hỏi chủ quán bán chiếc xe trên qua tay giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Chủ
quán đồng ý và bảo coi như ông V bán cho chị C. Lúc đó, chủ quán bảo ông V
viết giấy bán xe cho chị C. Sau khi giao dịch thanh toán tiền thành công, ông V
viết giấy bán xe đưa cho chị C, bàn giao xe và giấy tờ liên quan đối với chiếc xe
mô tô trên. Sau đó, chị C mang xe về để sử dụng nhưng chưa đi làm thủ tục sang
tên theo quy định. Khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 05/01/2026 chị C điều khiển xe
máy đến xưởng sửa chữa quần áo ở số nhà I, thôn J xã P1, chìa khóa xe vẫn cắm
ở ổ khóa. Khi chị C đi vào trong xưởng thì bị một đối tượng nam thanh niên lấy
trộm xe máy, chị C đuổi theo nhưng không kịp. Do bận công việc nên chị không
đến Cơ quan công an trình báo ngay. Đến nay chị đề nghị giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2026
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã P1 kết luận: Giá trị xe mô
tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 99H8-xxxx đã qua sử dụng là: 9.300.000 đồng
(chín triệu, ba trăm nghìn đồng)
Về dân sự: Mặc dù đã được thông báo kết quả định giá xe nhưng chị C chỉ
yêu cầu bị cáo bồi thường 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) và đề nghị xử lý bị
cáo theo quy định của pháp luật. Hiện bị cáo T2 chưa bồi thường
6
Vụ thứ ba:
Khoảng giữa tháng 12/2025, Cà Văn T2 đang đi bộ lang thang ở khu vực
nghĩa trang P3, phường T1, tỉnh Bắc Ninh thấy 01 (một) chiếc xe đạp điện màu
xanh không có ai trông giữ, không có biển kiểm soát, không có chìa khóa trên
xe. T2 áp sát, tiếp cận đấu dây để mở khóa chiếc xe đạp điện này rồi điều khiển
xe chạy về khu vực đầu ngõ G, TDP Đ1, phường T1, Bắc Ninh để tìm người
mua. Tại đây, T2 bán chiếc xe đạp này cho một nam thanh niên đi đường (nhân
thân lai lịch không xác định) giá 1.100.000 đồng (một triệu, một trăm nghìn
đồng). T2 cầm tiền rồi bàn giao chiếc xe đạp điện cho nam thanh niên trên. Toàn
bộ số tiền bán được T2 đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ tư:
Khoảng cuối tháng 12/2025, Cà Văn T2 đi bộ lang thang ở khu vực vòng
xuyến Đ2 thuộc Đ3, phường T1, tỉnh Bắc Ninh thấy 01 (một) chiếc xe mô tô
nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, không có biển kiểm soát, không có ai
trông giữ, vẫn cắm chìa khóa xe. T2 ngồi lên xe mở khóa, bật đề nổ máy xe rồi
điều khiển xe mô tô này về khu vực đầu ngõ G, TDP Đ1, phường T1, Bắc Ninh.
Tại đây, T2 bán chiếc xe mô tô này cho một nam thanh niên đi đường (nhân thân
lai lịch không xác định) giá khoảng 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn
đồng). Toàn bộ số tiền trên thì T2 đã dùng vào việc tiêu xài cá nhân hết.
Căn cứ vào lời khai của Cà Văn T2, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác
minh, rà soát, phối hợp với Báo An ninh thủ đô đăng báo truy tìm chủ sở hữu,
tìm người bị hại của 02 vụ trộm cắp tài sản và truy tìm vật chứng (vụ thứ 3 và
4). Tuy nhiên, đến nay chưa xác định được người bị hại, không thu hồi được tài
sản. Ngoài lời khai của Cà Văn T2, không thu thu thập được tài liệu chứng cứ gì
khác nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Cà Văn T2 về hai lần trộm cắp tài sản
này.
* Hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý của Lê Văn T1, La Văn T3,
Cà Văn T2:
Trên cơ sở tài liệu điều tra thu thập được xác minh vụ án Mua bán trái
phép chất ma túy xảy ra trên địa bàn phường T1, Bắc Ninh nên Cơ quan cảnh sát
điều tra – Công an thành phố Hà Nội đã có Công văn số 1401/CV-CSMT-Đ5
ngày 13/03/2026 gửi Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh để tiếp
nhận hồ sơ cùng vật chứng liên quan đến Mua bán trái phép chất ma túy để thụ
lý giải quyết theo thẩm quyền. Sau đó, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh
Bắc Ninh đã có Công văn phúc đáp số 1015/CV-CSMT ngày 20/03/2026 với nội
dung: Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hà Nội đã điều tra làm rõ
hành vi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra khai thác mở rộng còn làm rõ thêm
hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Do đó căn cứ khoản 4 Điều 163 của Bộ
luật tố tụng hình sự, xác định thẩm quyền khởi tố điều tra hành vi Mua bán trái
phép chất ma túy tại số F ngõ G TDP Đ1, phường T1, tỉnh Bắc Ninh thuộc Cơ
quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên, nơi phát hiện tội
7
phạm xảy ra tại xã P1, thành phố Hà Nội. Do vậy, để đảm bảo nguyên tắc có lợi
cho các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan cảnh sát điều tra
– Công an tỉnh Bắc Ninh đồng ý cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành
phố Hà Nội tiếp tục điều tra giải quyết cả vụ án Mua bán trái phép chất ma túy
theo đúng quy định của pháp luật.
Kết quả điều tra xác định như sau:
Khoảng tháng 12/2025, Lê Văn T1 đến phòng trọ của La Văn T3 và Cà
Văn T2 ở nhờ. Dù biết rõ T1 là người bán ma túy, quá trình sinh hoạt cùng nhau
T3 chứng kiến nhiều lần T1 mua ma túy mang về phòng trọ dùng dao lam chia
nhỏ ma túy thành từng gói để bán kiếm lời nhưng T3 vẫn cho T1 ở cùng mục
đích để mua được ma túy rẻ hơn để sử dụng. T3 cũng chứng kiến nhiều lần T1
giao ma túy cho T2 để T2 mang đi bán cho khách và được T1 trả công bằng ma
túy. T1 trả tiền thuê nhà cho T3 bằng việc thỉnh thoảng T3 mua ma túy của T1
để sử dụng mà không phải trả tiền, T2 phải trả cho T3 tiền nhà 200.000 đồng
(hai trăm nghìn đồng)/01 tháng. T3 thường xuyên mua ma túy của T1 để sử
dụng cho bản thân. Sáng ngày 09/01/2025, T3 mua của T1 100.000 đồng (một
trăm nghìn đồng) ma túy Heroin, T1 đưa cho T3 01 gói để sử dụng cho bản thân.
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 09/01/2026, khi T1 đang ở phòng trọ cùng
với T3 thì T2 điều khiển 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu
đỏ, BKS: 29N1-xxx.xx về hỏi T1 “Anh có lấy xe này không?”. T1 thấy chiếc xe
còn mới và vì đang không có xe đi nên T1 bảo “có”. Sau khi xem, quan sát chiếc
xe mô tô trên, T1 bảo T2 để lại cho T1 chiếc xe với giá 900.000 đồng (chín trăm
nghìn đồng) và trả tiền mua xe cho T2 bằng ma túy Heroin, T2 đồng ý. Lúc đó,
T1 bảo do trước đó T2 mua 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ma túy Heroin
của T1 nhưng chưa trả tiền cho T1 nên T1 sẽ trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) và bán thêm cho T2 lượng ma túy có giá tương đương 600.000 đồng (sáu
trăm nghìn đồng). Số ma túy này T2 đã sử dụng hết cho bản thân tại phòng trọ.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T1 đi bộ lên khu vực phường Đ4,
tỉnh Bắc Ninh mục đích tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây T1 gặp một
người đàn ông không quen biết đứng ở ven đường và hỏi mua của người đàn
ông 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) tiền ma túy Heroin, người đàn ông
đồng ý bán ma túy cho T1. T1 đưa tiền cho người đàn ông này thì người đàn ông
đưa lại cho T1 01 (một) gói giấy bạc màu trắng. T1 cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi
về phòng trọ. Khi về đến phòng trọ T1 mở gói giấy bạc vừa mua được ra thì thấy
bên trong có chứa chất bột màu trắng. T1 đổ toàn bộ chất bột màu trắng trong
gói giấy bạc vào 01 túi nilong màu trắng và vứt tờ giấy bạc đi. Sau đó, T1 lấy
một nửa chất bột màu trắng bên trong túi nilong ra và cho vào 01 (một) tờ giấy
màu trắng gói lại rồi cất tất cả vào bên trong chiếc tất chân đang đi bên chân
phải rồi đi ngủ. Quá trình T1 mua ma túy về chia tại phòng trọ thì La Văn T3 và
Cà Văn T2 đều biết và chứng kiến sự việc. Sau đó, đến khoảng 08 giờ 30 phút,
ngày 10/01/2026, La Văn T3 đi làm còn Cà Văn T2 và Lê Văn T1 vẫn ở phòng
8
trọ thì có 01 người đàn ông tên P (nhân thân lai lịch không xác định) gọi điện
cho T1 để hỏi mua 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền ma túy Heroin và P
bảo nợ tiền thì T1 đồng ý. T1 đưa cho T2 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong
có chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin và bảo T2 mang đi bán cho P. T2
cầm gói ma túy T1 đưa và ra khỏi phòng trọ để mang đi bán cho P thì gặp T3 ở
cửa phòng trọ, T3 hỏi T2 đi đâu thì T2 bảo đi giao hàng cho T1 (T3 hiểu là T1
đã chia ma túy rồi nhờ T2 đi giao cho khách).
Ngay lúc này, Cơ quan công an đã có mặt tại phòng trọ tiến hành kiểm tra
hành chính theo quy định. Quá trình làm việc, cơ quan Công an phát hiện bên
trong túi quần phía sau bên trái chiếc quần T2 đang mặc có 01 (một) gói giấy
màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, T1 và T2 đều khai nhận
chất bột màu trắng ở trên là ma tuý Heroin. Số ma túy này là do T1 đưa cho T2
để đi bán cho P. Ngoài ra, Cơ quan công an phát hiện bên trong tất chân phải
của T1 đang đi có 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa chất bột màu
trắng. Tại chỗ, T1 khai nhận chất bột màu trắng bên trong túi nilong màu trắng
là ma túy Heroin của T1 mua về với mục đích để bán.
Ngoài ra, T1 khai nhận bản thân đã bán ma túy cho nhiều đối tượng
nhưng T1 không biết nhân thân lai lịch của những người này và nhiều lần T1
giao ma túy cho T2 để mang đi bán cho khách nhưng T1 không nhớ cụ thể
khách mua, ngày, giờ, số lượng ma túy đã giao cho T2. Lời khai của Lê Văn T1
phù hợp với lời khai của Cà Văn T2 và La Văn T3.
Tại Bản kết luận giám định ma túy số 724 ngày 18 tháng 01 năm 2026
của Phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
Tang vật thu giữ của Lê Văn T1: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi
nilông là ma tuý loại Heroin, khối lượng: 0,470 gam.
Tang vật thu giữ của Cà Văn T2: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói
giấy là ma tuý loại Heroin, khối lượng: 0,220 gam./.
Trong 03 mẫu nước tiểu của Lê Văn T1, Cà Văn T2, La Văn T3 cùng thu
ngày 10/01/2026 đều có tìm thấy ma túy loại Morphin và có 6-Mam (6-mam là
sản phẩm chuyển hóa của ma túy Heroin trong cơ thể con người).
Tại cơ quan công an, Cà Văn T2, Lê Văn T1 và La Văn T3 khai nhận
hành vi phạm tội như trên. La Văn T3 khai nhận: phòng trọ tại số F ngõ G TDP
Đ1, phường T1, tỉnh Bắc Ninh là do T3 được anh Nguyễn Thạc D3 (Sinh năm:
1994, nơi thường trú: Số K đường T3, phường T1, tỉnh Bắc Ninh) cho ở nhờ do
T3 làm đầu bếp cho cửa hàng ăn uống của anh D3. Sau đó, T3 cho Lê Văn T1 và
Cà Văn T2 ở. Quá trình sinh sống ăn ở cùng nhau, T3 nhiều lần biết T1 cất giấu,
chia ma túy để bán cho khách để kiếm lời nhưng T3 vẫn đồng ý để T1 ở lại, T3
được hưởng lợi là số tiền đóng trọ thì T1 sẽ đưa lượng ma túy tương ứng cho T3
để T3 sử dụng. Ngoài ra, T1 và T3 khai nhận ngày 09/01/2026, T1 bán 100.000
đồng (một trăm nghìn) tiền ma tuý Heroin cho La Văn T3 tại nhà trọ ở số F ngõ
G TDP Đ1, phường T1, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình điều tra xác định Lê Văn T1,
9
La Văn T3, Cà Văn T2 đều sử dụng ma túy Heroin. Nguồn gốc ma túy của T3
và T2 sử dụng là do mua của T1 mà có. Lần gần nhất T1, T3, T2 sử dụng vào
ma túy vào ngày 09/01/2026. Do T1, T3, T2 không sử dụng ma túy cùng với
nhau, T3 không biết thời điểm T2 và T1 sử dụng ma túy tại địa chỉ số F ngõ G
TDP Đ1, phường T1, tỉnh Bắc Ninh do đó không đủ tài liệu, căn cứ chứng minh
La Văn T3 có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với các lần mua bán trái phép chất ma túy trước đó của Lê Văn T1 và
Cà Văn T2, lời khai của các bị cáo và lời khai của La Văn T3 là người chứng
kiến đều thể hiện các bị cáo không nhớ cụ thể ngày giao, lượng ma túy mang đi
giao, số tiền giao dịch mua bán ma túy, nhân thân lai lịch đối tượng mua ma túy,
Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng. Do đó Cơ quan điều tra không
đủ căn cứ để kết luận về những lần Mua bán trái phép chất ma túy này của các bị
cáo.
Đối với chủ nhà số F ngõ G Tổ dân phố Đ1, phường T1, Bắc Ninh là anh
Nguyễn Thạc D3 (SN: 1994, Chỗ ở: Số K đường T3, phường T1, Bắc Ninh)
trình bày trước thời điểm xảy ra vụ án trên La Văn T3 là nhân viên nhà hàng B
(Địa chỉ N T3, phường T1, tỉnh Bắc Ninh) do anh D3 quản lý. Do biết T3 chưa
có nhà để ở và anh D3 có căn nhà số F ngõ G TDP Đ1, phường T1, tỉnh Bắc
Ninh chưa sử dụng đến nên anh D3 cho T3 đến ở nhờ. Anh D3 không biết T3 sử
dụng phòng trọ để mua bán và sử dụng ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không
đề cập xử lý.
Đối với Lê Văn T1, Cà Văn T2 và La Văn T3 qua xét nghiệm cho kết quả
đều dương tính với chất ma tuý. Tiến hành xác minh tại địa phương nơi đăng ký
thường trú đối với: Cà Văn T2, Lê Văn T1 và La Văn T3 kết quả: sau khi chấp
hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Cà Văn T2 và Lê Văn
T1 đều không về địa phương. Cả ba đều không thuộc diện quản lý cai nghiện
theo quy định của Luật phòng chống ma túy và Điều 256a của Bộ luật hình sự.
Ngày 11/05/2026, Phòng PC04- Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử
phạt hành chính đối với Cà Văn T2, Lê Văn T1 và La Văn T3 về hành vi Sử
dụng trái phép chất ma túy với mức phạt tiền 1.500.000 đồng (một triệu, năm
trăm nghìn đồng/01 người.
Đối với BKS: 30H8-xxxx tạm giữ tại phòng trọ số F ngõ G TDP Đ1, T1,
Bắc Ninh, Lê Văn T1 khai nhặt được trên đường, Tiến hành xác minh xác định
BKS trên của chủ xe là anh Nguyễn Trung D2 (Sinh năm: 1990, HKTT: H B,
phường N1, Hà Nội). Anh D2 trình bày: Khoảng tháng 03/2006 anh D2 mua
mới chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số máy: HC…, số khung:
RL…, màu đỏ xám đen. Sau đó, anh D2 đến cơ quan công an làm thủ tục đứng
tên đăng ký chính chủ và được cơ quan công an cấp biển số 30H8-xxxx. Từ đó
đến nay anh D2 vẫn sử dụng chiếc xe mô tô trên. Khoảng tháng 12/2025, anh
D2 điều khiển chiếc xe mô tô trên đi giải quyết công việc cá nhân ở khu vực T1,
Bắc Ninh. Sau khi giải quyết công việc xong anh D2 điều khiển xe mô tô trên về
10
nhà, địa chỉ H B, phường N1, Hà Nội. Quá trình đi về nhà do đi vội vàng không
để ý nên biển số xe được lắp phía sau đuôi xe bị rơi. Khi về đến này anh D2 mới
phát hiện. Do từ nhà đến T1 xa nên anh cũng không quay lại tìm. Nay anh cũng
đã làm lại biển số xe nên anh không lấy lại biển số xe đã mất nữa và đề nghị cơ
quan công an giải quyết vụ việc trên theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Văn T1 và các đối tượng đã mua ma
túy của T1 do T1 khai không biết nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không
đủ cơ sở xác minh làm rõ và xử lý.
Đối với 02 gói ma túy Heroin có tổng khối lượng là 0,690 gam (sau giám
định còn 0,630 gam) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy
J2 màu vàng tạm giữ của Cà Văn T2, 01 điện thoại di động kiểu dáng Mastel
màu đen bên trong lắp sim 037xxxxxxx tạm giữ của La Văn T3, 01 điện thoại di
động nhãn hiệu Redmi note 14 màu đen bên trong lắp số sim 035xxxxxxx tạm
giữ của Lê Văn T1, chuyển Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKSKV5 ngày 28/05/2026, Viện Kiểm sát
nhân dân khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Văn T1 về tội “Mua bán trái
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Trộm
cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị
cáo Cà Văn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1
Điều 251 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ
luật Hình sự; truy tố bị cáo La Văn T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn T1, Cà Văn T2, La Văn T3 đã khai nhận
toàn bộ hành vi của các bị cáo theo đúng như nội dung đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên
tòa: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của
các bị cáo tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Văn T1 đã
đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm
b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều
173 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Cà Văn T2 đã đủ yếu tố cấu thành
tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và tội
“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
hành vi của bị cáo La Văn T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép
chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, đối với hành vi trộm cắp tài sản thì bị
cáo Cà Văn T2 đóng vai trò là người khởi xướng, thực hành tích cực, bị cáo Lê
Văn T1 đóng vai trò là người giúp sức. Đối với hành vi mua bán trái phép chất
ma túy thì bị cáo Lê Văn T1 đóng vai trò là người khởi xướng, thực hành tích
cực, còn bị cáo Cà Văn T2 đóng vai trò là người thực hành, bị cáo La Văn T3
đóng vai trò là người giúp sức.
11
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1
Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo
Lê Văn T1.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình
sự đối với bị cáo Cà Văn T2.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo
La Văn T3.
Về hình phạt:
- Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng đến 08
(tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và từ 01 (một) năm đến 01
(một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung
của hai tội từ 08 (tám) năm 09 (chín) tháng đến 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2026.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Cà Văn T2 từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng đến 03
(ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và từ 01 (một)
năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình
phạt chung của hai tội từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2026.
- Đề nghị xử phạt bị cáo La Văn T3 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 07
(bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2026.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn
định, không có tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối
với các bị cáo.
Về dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều
586; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Cà Văn T2 phải bồi thường cho chị Hoàng Thị C số tiền
4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Chị Lý Thị T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự
nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của
Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đề nghị cho tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong nên trong có
01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng trong là ma túy heroin có chữ ký
của Giám định viên, Cán bộ niêm phong, người chứng kiến và dấu hình điểm
chỉ ngón tay của Cà Văn T2 theo kết luận giám định số 724/KL-KTHS ngày
12
18/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội; 01 (một) phong bì
niêm phong bên trong có 01 túi ni lông chứa chất bột màu trắng trong là ma túy
heroin có chữ ký của Giám định viên, Cán bộ niêm phong, người chứng kiến và
đối tượng liên quan theo kết luận giám định số 724/KL-KTHS ngày 18/01/2026
của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội do liên quan đến hành vi phạm
tội; 01(một) biển kiểm soát 30H8-xxxx theo kết luận giám định số 3174/KL-
KTHS ngày 10/041/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội do
không còn giá trị sử dụng.
- Đề nghị cho tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động
nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 màu vàng, màn hình vỡ nứt, không kiểm tra chất
lượng bên trong, đã qua sử dụng thu giữ của Cà Văn T2 được cho vào phong bì
niêm phong có dấu đỏ của Cơ quan cảng sát điều tra và Điều tra viên; 01 (một)
điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 14, màu đen bên trong có lắp sim, đã
qua sử dụng thu giữ của Lê Văn T1 được cho vào phong bì niêm phong có dấu
đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên do liên quan đến hành vi phạm
tội.
- Đề nghị cho thi hành trả lại bị cáo La Văn T3 01 (một) điện thoại di động
kiểu dáng Masstel màu đen bên trong có lắp sim, đã qua sử dụng thu giữ của La
Văn T3 được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ của Cơ quan cảng sát điều
tra và Điều tra viên do không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cho tạm
giữ lại để đảm bảo thi hành án về án phí.
Đối với chủ nhà số F ngõ G TDP Đ1, phường T1, Bắc Ninh là anh
Nguyễn Thạc D3 không biết T3 sử dụng phòng trọ để mua bán và sử dụng ma
túy. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Lê Văn T1, Cà Văn T2 và La Văn T3 cả ba đều không thuộc diện
quản lý cai nghiện theo quy định của Luật phòng chống ma túy và Điều 256a
của Bộ luật hình sự. Ngày 11/05/2026, Phòng PC04- Công an thành phố Hà Nội
đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Cà Văn T2, Lê Văn T1 và La Văn
T3 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với mức phạt tiền 1.500.000 đồng
(một triệu, năm trăm nghìn đồng)/01 người.
Đối với BKS 30H8-xxxx anh Nguyễn Trung D2 đã làm lại biển số xe nên
anh không lấy lại biển số xe đã mất nữa và đề nghị cơ quan công an giải quyết
vụ việc trên theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Văn T1 và các đối tượng đã mua ma
túy của T1 do T1 khai không biết nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không
đủ cơ sở xác minh làm rõ và xử lý.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn T1 và La Văn T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật. Bị cáo Cà Văn T2 là người dân tộc thiểu số cư trú ở
vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên
được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
13
Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn T2 trình bày quan điểm bào chữa với
nội dung: Nhất trí quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà
Nội về tội danh, điều khoản, truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy
nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi và nhân thân của bị cáo T2, bị
cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt
khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Tại cơ quan điều tra cũng như tại
phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị cho bị cáo
hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2
Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án
phí và đã có đơn xin miễn án phí theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa, trở thành người
công dân có ích cho xã hội.
Nói lời sau cùng, các bị cáo biết là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng
xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an
thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù
hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp
pháp.
[2] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ
quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết
luận định giá tài sản, kết luận giám định, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có
trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
- Ngày 05/01/2026, tại cửa nhà số I thôn J N2, xã P1, thành phố Hà Nội,
bị cáo Cà Văn T2 đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy Honda Wave màu đỏ BKS:
99H8-xxxx trị giá 9.300.000 đồng (chín triệu, ba trăm nghìn đồng) của chị
Hoàng Thị C.
- Ngày 09/01/2026, tại thôn L N2, xã P1, thành phố Hà Nội, bị cáo Cà
Văn T2 và Lê Văn T1 có hành vi trộm cắp 01 xe máy Honda Wave màu đỏ đen
bạc BKS: 29N1-xxx.xx trị giá 10.500.000 đồng (mười triệu, năm trăm nghìn
đồng) của chị Lý Thị T4.
14
- Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2025 đến ngày 09/01/2026, tại nhà
số F ngõ G TDP Đ1, phường T1, tỉnh Bắc Ninh, La Văn T3 có hành vi cho Lê
Văn T1 ở nhờ và sử dụng nhà làm nơi chia, cất giấu ma túy để T1 và T2 thực
hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cụ thể:
+ Ngày 09/01/2026, Lê Văn T1 có hành vi bán trái phép 100.000 đồng
(một trăm nghìn đồng) ma túy Heroin cho La Văn T3 và 03 gói Heroin với giá
900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) cho Cà Văn T2.
+ Ngày 10/01/2026, Lê Văn T1 có hành vi bán trái phép 0,220 gam
Heroin và tàng trữ 0,470 gam Heroin mục đích để bán kiếm lời.
+ Ngày 10/01/2026, Cà Văn T2 có hành vi bán trái phép 0,220 gam
Heroin bị phát hiện bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Lê Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Trộm
cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; hành vi
của bị cáo Cà Văn T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma
túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định
tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo La Văn T3 đã đủ
yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội truy tố các bị cáo về
tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến
chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã
hội, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh các tội
phạm khác. Ngoài ra, các bị cáo Lê Văn T1 và Cà Văn T2 còn có hành vi cố ý
xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm mất
trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đã
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành
vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội
do các bị cáo gây ra.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, đối với hành vi trộm cắp tài sản thì bị
cáo Cà Văn T2 đóng vai trò là người khởi xướng, thực hành tích cực, bị cáo Lê
Văn T1 đóng vai trò là người giúp sức. Đối với hành vi mua bán trái phép chất
ma túy thì bị cáo Lê Văn T1 đóng vai trò là người khởi xướng, thực hành tích
cực, còn bị cáo Cà Văn T2 đóng vai trò là người thực hành, bị cáo La Văn T3
đóng vai trò là người giúp sức.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.
15
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T2 phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết
tăng nặng TNHS quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị
cáo T3 có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm và
bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của
Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị
cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử cho các bị cáo
hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự, bị cáo T2 là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế
xã hội đặc biệt khó khăn nên hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại
khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị
cáo thực hiện, nhân thân của các bị cáo, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ
TNHS, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn
nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng
giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập
ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các
bị cáo.
[4] Về dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1
Điều 586; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Cà Văn T2 phải bồi thường cho chị Hoàng Thị C số tiền
4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Chị Lý Thị T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sư
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106
của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Cho tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong nên trong có 01 gói
giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng trong là ma túy heroin có chữ ký của
Giám định viên, Cán bộ niêm phong, người chứng kiến và dấu hình điểm chỉ
ngón tay của Cà Văn T2 theo kết luận giám định số 724/KL-KTHS ngày
18/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội; 01 (một) phong bì
niêm phong bên trong có 01 túi ni lông chứa chất bột màu trắng trong là ma túy
heroin có chữ ký của Giám định viên, Cán bộ niêm phong, người chứng kiến và
đối tượng liên quan theo kết luận giám định số 724/KL-KTHS ngày 18/01/2026
của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội do liên quan đến hành vi phạm
tội; 01(một) biển kiểm soát 30H8-xxxx theo kết luận giám định số 3174/KL-
KTHS ngày 10/041/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội do
không còn giá trị sử dụng.
16
- Cho tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn
hiệu Samsung Galaxy J2 màu vàng, màn hình vỡ nứt, không kiểm tra chất lượng
bên trong, đã qua sử dụng thu giữ của Cà Văn T2 được cho vào phong bì niêm
phong có dấu đỏ của Cơ quan cảng sát điều tra và Điều tra viên; 01 (một) điện
thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 14, màu đen bên trong có lắp sim, đã qua
sử dụng thu giữ của Lê Văn T1 được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ
của Cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên do liên quan đến hành vi phạm tội.
- Cho thi hành trả lại bị cáo La Văn T3 01 (một) điện thoại di động kiểu
dáng Masstel màu đen bên trong có lắp sim, đã qua sử dụng thu giữ của La Văn
T3 được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ của Cơ quan cảng sát điều tra
và Điều tra viên do không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cho tạm giữ lại
để đảm bảo thi hành án về án phí.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội đề nghị áp dụng hình
phạt tù là hình phạt chính, không áp dụng hình phạt bổ sung; về dân sự và xử lý
vật chứng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Đối với Lê Văn T1, Cà Văn T2 và La Văn T3 cả ba đều không thuộc diện
quản lý cai nghiện theo quy định của Luật phòng chống ma túy và Điều 256a
của Bộ luật hình sự. Ngày 11/05/2026, Phòng PC04- Công an thành phố Hà Nội
đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Cà Văn T2, Lê Văn T1 và La Văn
T3 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với mức phạt tiền 1.500.000 đồng
(một triệu, năm trăm nghìn đồng)/01 người.
Đối với BKS 30H8-xxxx anh Nguyễn Trung D2 đã làm lại biển số xe nên
anh không lấy lại biển số xe đã mất nữa và đề nghị cơ quan công an giải quyết
vụ việc trên theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Văn T1 và các đối tượng đã mua ma
túy của T1 do T1 khai không biết nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không
đủ cơ sở xác minh làm rõ và xử lý.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Cà Văn T2 là có căn
cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo Lê Văn T1 và La Văn T3 phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Cà Văn T2 là người dân tộc thiểu số cư
trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí
nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 và Cà Văn T2 phạm tội: “Mua bán trái phép
chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”; bị cáo La Văn T3 phạm tội: “Mua bán trái
phép chất ma túy”.
17
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1
Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo
Lê Văn T1.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T1 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội Mua bán
trái phép chất ma túy và 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình
phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 12/01/2026.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình
sự đối với bị cáo Cà Văn T2.
Xử phạt: Bị cáo Cà Văn T2 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán
trái phép chất ma túy và 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù
tính từ ngày 12/01/2026.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo
La Văn T3.
Xử phạt: Bị cáo La Văn T3 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính
từ ngày 12/01/2026.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều
586; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Cà Văn T2 phải bồi thường cho chị Hoàng Thị C số tiền
4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106
của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Cho tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong nên trong có 01 gói
giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng trong là ma túy heroin có chữ ký của
Giám định viên, Cán bộ niêm phong, người chứng kiến và dấu hình điểm chỉ
ngón tay của Cà Văn T2 theo kết luận giám định số 724/KL-KTHS ngày
18/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội; 01 (một) phong bì
niêm phong bên trong có 01 túi ni lông chứa chất bột màu trắng trong là ma túy
heroin có chữ ký của Giám định viên, Cán bộ niêm phong, người chứng kiến và
đối tượng liên quan theo kết luận giám định số 724/KL-KTHS ngày 18/01/2026
của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội do liên quan đến hành vi phạm
tội; 01(một) biển kiểm soát 30H8-xxxx theo kết luận giám định số 3174/KL-
18
KTHS ngày 10/041/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội do
không còn giá trị sử dụng.
- Cho tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn
hiệu Samsung Galaxy J2 màu vàng, màn hình vỡ nứt, không kiểm tra chất lượng
bên trong, đã qua sử dụng thu giữ của Cà Văn T2 được cho vào phong bì niêm
phong có dấu đỏ của Cơ quan cảng sát điều tra và Điều tra viên; 01 (một) điện
thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 14, màu đen bên trong có lắp sim, đã qua
sử dụng thu giữ của Lê Văn T1 được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ
của Cơ quan cảnh sát điều tra và Điều tra viên do liên quan đến hành vi phạm tội.
- Cho thi hành trả lại bị cáo La Văn T3 01 (một) điện thoại di động kiểu
dáng Masstel màu đen bên trong có lắp sim, đã qua sử dụng thu giữ của La Văn
T3 được cho vào phong bì niêm phong có dấu đỏ của Cơ quan cảng sát điều tra
và Điều tra viên do không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cho tạm giữ lại
để đảm bảo thi hành án về án phí.
(Hiện đang được lưu giữ tại kho của Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 -
Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số 2026/KV5-GN/THA-CA ngày
08/06/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hà Nội và
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Hà Nội).
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2025 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn T1 và La Văn T3 mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Cà Văn T2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống
đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về
những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật./.
6. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc có đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi
hành) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng nên phải
19
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36,
72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 34 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND T.p Hà Nội;
- VKSND T.p Hà Nội;
- Sở Tư pháp T.p Hà Nội;
- VKSND khu vực 5 - Hà Nội;
- THADS TP Hà Nội;
- Phòng THADS khu vực 5 - Hà Nội;
- PV06 – Công an T.p Hà Nội;
- Thi hành án hình sự;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Lưu HS, VP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Thạch Thị Hằng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 418/2026/HS-ST Bản án số 418/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 418/2026/HS-ST Bản án số 418/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất