Bản án số 410/2026/HS-ST ngày 26/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 410/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 410/2026/HS-ST ngày 26/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 410/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: hình sự
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 410/2026/HS-ST Bản án số 410/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 410/2026/HS-ST Bản án số 410/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
Bản án số: 410/2026/HSST
Ngày: 26/8/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIẾT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân 1) Bà Đàm Thị Kim Thanh
2) Ông Nguyễn Đình Hùng
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tú– Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 5 - Hà Nội.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội,
Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội đã xét xử công khai sơ thẩm trực tuyến vụ án
hình sự thụ lý số: 424/2026/HSST, ngày 12 tháng 8 năm 2026, theo quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 448/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2026 đối với các bị
cáo:
1. Họ và tên: Đặng Văn N, sinh ngày: 01/11/1993. Giới tính: Nam. Nơi sinh:
Hưng Yên. Số Căn cước công dân: ************. Tên gọi khác: Không. HKTT và
chỗ ở: Thôn C, xã N, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn
giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 4/12. Chức vụ trước
khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Họ tên bố: Đặng Văn T, sinh
năm 1963. Họ tên mẹ: Đỗ Thị B, sinh năm 1957. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị
can là con thứ nhất. Vợ: Bùi Thúy D, sinh năm: 1992. Có 02 con, lớn sinh năm
2013, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000561 lập
ngày 28/4/2026 tại Trại giam S (PC11B) Công anThành phố H và lý lịch bị can thể
hiện: Không
Nhân thân:
- Bản án số 219/HSST ngày 31/12/2013 TAND huyện Gia Lâm, Hà Nội xử
phạt 04 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; 39 tháng tù về tội Cưỡng đoạt
tài sản. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 43 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày
24/01/2013, ra trại ngày 31/8/2015. Nộp án phí HSST ngày 04/4/2014. Đã được xoá
án tích.
- Bản án số 19/HSST ngày 26/5/2020 TAND huyện Văn Giang, Hưng Yên xử
phạt 01 năm 04 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Hạn tù tính từ ngày
2
26/11/2019, ra trại ngày 05/02/2021. Nộp án phí HSST ngày 25/8/2020. Đã được
xoá án tích.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 22/4/2026, tạm giam từ ngày
28/4/2026 đến nay tại Trại tạm giam số 02- Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên
tòa.
2. Họ và tên: Trần Thị H, sinh ngày: 03/3/2004. Giới tính: Nữ. Nơi sinh.
Ninh Bình. Tên gọi khác: Không. HKTT và chỗ ở: Thôn P, xã N, tỉnh Ninh Bình.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Số Căn cước công dân:
************. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 6/12. Chức vụ
trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Họ tên bố: Trần Văn H1,
sinh năm 1971. Họ tên mẹ: Lương Thị C, sinh năm 1972 (đã chết). Gia đình bị cáo
có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Chồng: Trần Tuấn A, sinh năm 2002. Có 02
con, lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số
000000560 lập ngày 28/4/2026 tại Trại giam S (PC11B) Công an Thành phố H và lý
lịch bị can thể hiện: Không
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 22/4/2026, tạm giam từ ngày
28/4/2026 đến nay tại Trại tạm giam số 02- Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên
tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Đức H2, sinh ngày: 21/7/1997. Giới tính: Nam. Tên gọi
khác: Không. Nơi sinh: Thanh Hóa. HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố D, phường Đ,
tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Số Căn
cước công dân: ************. Nghề nghiệp: Lao động tự do.Trình độ học vấn:
12/12. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Họ tên
bố: Nguyễn Đức C1 (đã chết). Họ tên mẹ: Phan Thị L, sinh năm 1972. Gia đình bị
cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Phạm Thị Hương T1, sinh năm 2000.
Có 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000559 lập
ngày 28/4/2026 tại Trại giam S (PC11B) Công an Thành phố H và lý lịch bị can
thể hiện:
- Tiền án: Bản án số 88/HSST ngày 16/5/2024 TAND tỉnh Thanh Hoá xử
phạt 09 tháng tù về tội Che giấu tội phạm. Hạn tù tính từ ngày 09/10/2023, ra trại
ngày 09/7/2024, chưa được xoá án tích. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm.
- Nhân thân: 01 tiền sự năm 2021 về hành vi Cố ý gây thương tích.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 22/4/2026, tạm giam từ ngày
28/4/2026 đến nay tại Trại tạm giam số 02- Công an Thành phố H. Có mặt tại
phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 21/4/2026, Nguyễn Đức H2 cùng Nguyễn
Kim G, Quách Việt L1 từ Thanh Hóa ra H chơi với bạn Nguyễn Huyền T2 và Vũ
Thị N1. Sau khi ăn tối xong H2 nhắn tin báo cho N biết là H2 cùng bạn từ Thanh
Hóa R chơi nên bảo N thuê phòng và mua ma tuý để nhóm của H2 cùng N sử
dụng, N đồng ý. Một lúc sau N báo lại sử dụng ma tuý ở phòng không an toàn nên
3
N bảo H2 đưa mọi người đến quán K, địa chỉ: phố D, xã N, Hưng Yên. Tiếp đến N
rủ Trần Thị H đến quán K đặt phòng hát trước rồi gửi vị trí cho H2. Trong lúc chờ
H2 đến, N bảo H đi mua 5 viên ma túy kẹo và 02 chỉ Ketamine, hết bao nhiêu tiền
hôm sau N trả. Sau đó H liên lạc với một đối tượng qua ứng dụng Telegram hỏi
mua 05 viên ma tuý kẹo và 02 chỉ ma ma tuý Ketamine hết 3.250.000 đồng.
Khoảng 40 phút sau nhóm của H2 gồm H2, G, N1, T2, L1 đến quán hát. Một lúc
thì H đi ra ngoài để lấy ma tuý. Theo chỉ dẫn của người bán, H nhận ma tuý tại vị
trí gần quán hát mà người này để sẵn ở đó, sau khi nhận được ma tuý H để tiền vào
đây rồi đi lên phòng hát. Tại đây để lên bàn túi ni lông bên trong có 02 túi nhỏ,
một túi chứa 05 viên ma túy kẹo màu vàng và 01 túi ma tuý Ketamine. H cầm ma
túy kẹo bẻ làm đôi rồi đưa cho mỗi người 1/2 viên để sử dụng bằng hình thức uống
với nước ngọt và nước lọc và pha chung vào nước ngọt để uống (N1, T2 không sử
dụng ma tuý kẹo). Còn 1,5 viên kẹo không sử dụng hết, trước khi ra khỏi quán H
đã ném vào nhà vệ sinh tiêu huỷ. Một lúc sau N đưa cho H tờ tiền 10.000 VNĐ để
H cuốn thành tẩu hút, tiếp đến H đổ ma tuý Ketamine ra đĩa, dùng bật lửa hơ nóng
đĩa, sử dụng thẻ cứng có sẵn trong phòng hát để xào ma tuý Ketamine rồi kẻ thành
các đường mời G, N, H2 mỗi người sử dụng 02 đường. Quá trình sử dụng H2 cũng
đưa đĩa ma tuý Ketamine cho N và L1 mỗi người sử dụng một lần. L1 sử dụng
xong thì để đĩa xuống bàn. H cũng tự cầm đĩa ma tuý Ketamine sử dụng rồi đưa
cho N1. N1 sử dụng xong thì H cầm đĩa ma tuý đưa cho T2 sử dụng. Sau khi sử
dụng hết số ma tuý trên, N bảo H gọi thêm 01 chỉ ketamine nữa để các đối tượng
cùng sử dụng. Sau đó cũng với cách thức như lần trước, H mua thêm 01 chỉ ma tuý
Ketamine rồi mang vào phòng để lên bàn để mọi người biết và sử dụng tiếp. Đến
khoảng 4h00 ngày 22/4/2026 H2 bảo N thuê phòng ở khu đô thị V cả nhóm nghỉ
ngơi và tiếp tục sử dụng ma tuý nên N bảo H tìm thuê một căn hộ ở khu đô thị
trên. Sau đó H lên mạng xã hội facebook tìm thuê căn hộ 1707 toà P4 V, xã G, Hà
Nội của anh Đinh Văn N2 (sinh năm: 1973, HKTT: Xóm B, xã X, tỉnh Ninh Bình).
Trước khi về, H gạt nốt số ma tuý Ketamine ở trên đĩa gói vào một tờ tiền để mang
về phòng thuê ở khu đô thị V để cả nhóm sử dụng tiếp. Sau đó cả nhóm đi taxi đến
sảnh P4 Vinhome O, H là người lấy chìa khóa phòng 1707 tòa P4 theo chỉ dẫn rồi
cả nhóm đi lên phòng. Tại đây H lấy đĩa có sẵn ở phòng bếp, còn thẻ cứng màu
trắng là thẻ đi thang máy, rồi N2 tiếp tục đưa cho H tờ tiền 10.000 đồng để H cuốn
tẩu hút sử dụng ma túy, H đổ ma túy ra đĩa hơ nóng, xào ke. Do không có bật lửa
nên N2 đi mua bật lửa mang lên phòng đưa cho H để H xào ketamine. Sau đó, H
kẻ ma túy Ketamine cho N2 và H sử dụng còn G, T2, H2, N1 không sử dụng mà đi
vào phòng ngủ, L1 không sử dụng mà nằm ngủ tại ghế sôfa. Khoảng 06h ngày
22/4/2026 Cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. N2 đã cầm đĩa sứ có ma
túy, tờ tiền và thẻ cứng đi ra ngoài ban công của ném xuống dưới đất nhưng thẻ
cứng và tờ tiền rơi lại trong phòng còn đĩa sứ rơi xuống tầng 1 vỡ thành nhiều
mảnh.
Vật chứng thu giữ:
- Tại mặt bàn uống nước (phòng khách): 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 VNĐ; 01
mảnh băng dính dưới chân bàn uống nước; (tất cả đều dính tinh thể màu trắng).
4
- Tại cửa ra ban công: 01 thẻ cứng màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000
VNĐ; 01 đôi dép màu đen; 01 vỏ túi nilong kích thước (2x2cm) (tất cả đều dính tinh
thể màu trắng).
- Xác định từ hướng ban công phòng 1707 xuống dưới sân cỏ phía sau tòa nhà
có nhiều mảnh sứ trắng trên bề mặt dính tinh thể màu trắng. Đặng Văn N khai nhận
khi Cơ quan công an kiểm tra do lo sợ nên N đã ném chiếc đĩa trên từ ban công căn
hộ xuống dưới đất.
- 01 điện thoại di động Iphone màu tím của Đặng Văn N; 01 điện thoại di động
Iphone 13 Promax màu vàng của Trần Thị H; 01 điện thoại di động Iphone màu
vàng của Nguyễn Đức H2.
Kết luận giám định số 3997/KL-KTHS ngày 01/5/2026 của Phòng K1- Công
an thành phố H kết luận:
- 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 VNĐ có dính ma tuý loại Ketamine.
- 01 mảnh băng dính có dính ma tuý loại Ketamine.
- 01 thẻ cứng màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ, 01 đôi dép màu đen,
01 túi nilong kích thước (2x2cm) đều có dính ma tuý loại Ketamine.
- Các mảnh sứ màu trắng đều có dính ma tuý loại Ketamine.
Tại bản cáo trạng số 227/CT-VKSKV5 ngày 06 tháng 8 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội đã truy tố các bị cáo Đặng Văn N, Trần Thị
H, Nguyễn Đức H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội danh và
hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Các bị cáo khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo
trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung sự
việc, đánh giá lời khai của các bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên
quyết định truy tố đối với các bị cáo; trình bày lời luận tội và đề nghị như sau:
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều
17, Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt: Đặng Văn N từ 07 năm 06 tháng đến 07
năm 09 tháng tù.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt: Trần Thị Hiền từ 07 năm 03 tháng
đến 07 năm 06 tháng tù.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52; Điều 38 Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn
Đức H2 từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì bị cáo đang bị tạm
giam, không có thu nhập.
Về tang vật: Đề nghị án dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự: Tịch thu sung công 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 VNĐ; 01 tờ tiền mệnh
5
giá 10.000 VNĐ; 01 điện thoại di động Iphone màu tím; 01 điện thoại di động
Iphone 13 Promax màu vàng; 01 điện thoại di động Iphone màu vàng. Tịch thu tiêu
01 mảnh băng dính; 01 túi nilong kích thước (2x2cm); 01 thẻ cứng màu trắng; 01
đôi dép màu đen; các mảnh sứ màu trắng.
Về dân sự: Không
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Thành phố
Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ vào lời nhận tội của các bị cáo
tại cơ quan điều tra thấy phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/4/2026 tại
quán K, phố D, xã N, Hưng Yên và Phòng 1707 toà P4 Khu đô thị V, xã G, Hà Nội,
Nguyễn Đức H2, Đặng Văn N, Trần Thị H có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy cho nhiều người thì bị phát hiện bắt giữ trong đó H2 là người khởi
xướng bảo N thuê phòng, mua ma tuý, đưa đĩa ma tuý Ketamine cho N và Quách
Việt L1 sử dụng; Nghĩa là người trả tiền mua ma tuý, trả tiền phòng hát, trả tiền thuê
phòng để sử dụng ma tuý; cung cấp dụng cụ hút ma tuý là tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền
10.000 đồng; H là người trực tiếp mua ma tuý, liên lạc thuê phòng, chuẩn bị đĩa sứ,
đổ ma tuý ra đĩa để xào; thực hiện việc kẻ ma tuý để các đối tượng cùng sử dụng.
Hành vi phạm tội lần này của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản
2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 5 – Hà Nội truy tố các bị cáo theo tội danh và hình phạt như nội
dung bản cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
[3]. Về nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị cáo H chưa có tiền
án tiền sự; Bị cáo N về nhân thân có 02 tiền án. Hai tiền án của bị cáo đã được xóa
theo quy định của pháp luật nhưng điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo
H2 có 01 tiền sự đã hết thời hiệu và có 01 tiền án năm 2024 bị Tòa án nhân dân tỉnh
Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội che giấu tội phạm. Ra trại ngày 09/7/2024.
Đối chiếu với quy định của pháp luật thì chưa được xóa án tích. Hành vi phạm tội
lần này của bị cáo là tái phạm theo quy định tại Điều 53 của Bộ luật hình sự. Quá
trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn
6
hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ
luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo H2 bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy
định tại điển h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo trong đó H2 là người khởi
xướng bảo N thuê phòng, mua ma tuý, đưa đĩa ma tuý Ketamine cho N và Quách
Việt L1 sử dụng; Nghĩa là người trả tiền mua ma tuý, trả tiền phòng hát, trả tiền thuê
phòng để sử dụng ma tuý; cung cấp dụng cụ hút ma tuý là tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền
10.000 đồng; H là người trực tiếp mua ma tuý, liên lạc thuê phòng, chuẩn bị đĩa sứ,
đổ ma tuý ra đĩa để xào; thực hiện việc kẻ ma tuý để các đối tượng cùng sử dụng.
[4].Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi
phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm
hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với các
bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục
bị cáo.
Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt
bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng: Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 VNĐ; 01 tờ tiền mệnh
giá 10.000 VNĐ (nằm trong 01 phong bì theo biên bản đóng gói, niêm phong và
giao nhận lại đối tượng giám định ngày 22/4/2026 của công an thành phố H); 01
điện thoại di động Iphone màu tím; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu
vàng; 01 điện thoại di động Iphone màu vàng là vật chứng và tài sản liên quan đến
hành vi phạm tội của các bị cáo cho tịch thu sung công
Đối với 01 mảnh băng dính; 01 túi nilong kích thước (2x2cm); 01 thẻ cứng
màu trắng; các mảnh sứ màu trắng là vật chứng của vụ án và 01 đôi dép màu đen bị
cáo không nhận lại (nằm trong 01 phong bì theo biên bản đóng gói, niêm phong và
giao nhận lại đối tượng giám định ngày 22/4/2026 của công an thành phố H) cho
tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về dân sự: Không
[7]. Các vấn đề khác:
Kết quả xét nghiệm nước tiểu: Đặng Văn N, Nguyễn Đức H2, Trần Thị H,
Nguyễn Kim G, Quách Việt L1 dương tính với ma tuý MDMA, Methamphetamine,
Ketamine; Nguyễn Huyền T2, Vũ Thị Ngọc dương T3 với ma tuý Ketamine. Các bị
can đều không trong diện quản lý theo Luật Phòng, chống ma túy nên Cơ quan điều
tra không có căn cứ xử lý về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại
Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Kim G, Quách Việt L1, Nguyễn Huyền T2 và Vũ Thị N1, các
đối tượng đều không trong diện quản lý theo Luật Phòng, chống ma túy nên Cơ
quan điều tra không có căn cứ xử lý về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý theo
quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an
thành phố H đã xử phạt hành chính các đối tượng trên về hành vi Sử dụng trái phép
chất ma tuý quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30, mục 2, Chương II Nghị định số
7
282/2025/NĐCP ngày 30/10/2025 của Chính phủ và thông báo về chính quyền địa
phương để tiếp tục quản lý.
Đối với người bán ma tuý cho H tại khu vực xã N, Hưng Yên do H khai không
biết nhân thân lai lịch của người này; liên lạc với người này qua ứng dụng T4, sau
khi mua được ma tuý H đã xoá tin nhắn nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều
tra, xác minh làm rõ.
Đối với anh Đinh Văn N2 là chủ sở hữu căn hộ 1707 toà P4 Khu đô thị V, xã
G, Hà Nội, quá trình điều tra xác định ngày 22/4/2026 qua môi giới, anh cho thuê
căn hộ trên mục đích để khách nghỉ ngơi. Việc các đối tượng sử dụng ma tuý tại đây
anh không biết nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.
Đối với anh Cao Bá M (Sinh năm: 1971, HKTT: Phố Dầu, xã N, V, Hưng Yên)
là chủ quán K, quá trình điều tra xác định ngày 21/4/2026 anh cho các đối tượng
thuê phòng để hát karaoke. Việc các đối tượng sử dụng ma tuý tại phòng hát anh
không biết nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N; bị cáo Trần Thị H và bị cáo Nguyễn Đức H2
phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
1.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1
Điều 51; Điều 38 và điều 58 của Bộ luật hình sự
Xử phạt: Đặng Văn N 7 năm 06 tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2026.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1
Điều 51; Điều 38 và điều 58 của Bộ luật hình sự
Xử phạt: Trần Thị H 7 năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2026.
1.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1
Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và điều 58 của Bộ luật hình sự
Xử phạt: Nguyễn Đức H2 8 năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2026.
2. Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự. Áp dụng các Điều 106, 135, 299,
326, 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội; Luật thi hành án.
2.1. Xử lý vật chứng:
2.1.2: Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh băng dính; 01 túi nilong kích thước (2x2cm);
01 thẻ cứng màu trắng; các mảnh sứ màu trắng và 01 đôi dép màu đen (nằm trong
01 phong bì theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám
định ngày 22/4/2026 của công an thành phố H)
8
2.1.3: Tịch thu sung công: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 VNĐ; 01 tờ tiền mệnh giá
10.000 VNĐ (nằm trong 01 phong bì theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao
nhận lại đối tượng giám định ngày 22/4/2026 của công an thành phố H); 01 điện
thoại di động Iphone màu tím; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu vàng;
01 điện thoại di động Iphone màu vàng.
Tất cả đều đang lưu giữ tại Công an Thành phố H theo biên bản giao nhận vật
chứng ngày 05/8/2026.
3. Về dân sự: Không
4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6 và 7 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- Người tham gia tố tụng;
- VKS ND khu vực 5 – Hà Nội;
- TAND Thành phố Hà Nội,
- VKSND TP Hà Nội;
- Phòng quản lý hồ sơ nghiệp vụ Công
An Thành phố Hà Nội;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 –
Hà Nội
- Bộ tư pháp
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
Hoàng Thị Thu Nga
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 410/2026/HS-ST Bản án số 410/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 410/2026/HS-ST Bản án số 410/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất