Bản án số 40/2023/KDTM-PT ngày 13/03/2023 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 40/2023/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 40/2023/KDTM-PT ngày 13/03/2023 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh
Quan hệ pháp luật: Các tranh chấp trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 40/2023/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/03/2023
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần phát triển việc làm và hỗ trợ người khuyết tật T và Công ty TNHH thương mại và đào tạo M tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án s: 40/2023/KDTM - PT.
Ngày :13/3/2023
V/v: Tranh chấp Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Các Thẩm phán : Bà Ngô Tuyết Băng
Bà Lê Thúy Linh
Thư ký Toà án nhân dân TP Hà Nội ghi biên bản phiên toà : Ông Nguyễn Trung Kiên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Bà Phan Thị Tình - KSV
Ngày 13 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nội, xét xử
công khai vụ án Kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ số: 02/2023/TLPT - KDTM
ngày 4 tháng 1 năm 2023 về Tranh chấp Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 30/2022/ KDTM ST, ngày 29
tháng 09 năm 2022 của Tòa án nhân dân Huyện Thạch Thất bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s : 45/2023/ -PT ngày 13
tháng 2 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa : 78/2023/ -PT ngày 27 tháng 2 năm
2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần phát triển việc làm và hỗ trợ người khuyết tật T. (gọi
tắt: Công ty T)
Địa chỉ: Số 27, ngõ 23, phường Xuân La, quân Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Chu Thị N - Giám đốc.
Bị đơn: Công ty TNHH thương mại và đào tạo M. (gọi tắt:Công ty M)
Địa chỉ: Khu Dưới Đồng, xã Dị Nậu, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị P - Giám đốc.
Địa chỉ: số 17 ngõ 101, đưng Đê Tô Hoàng, Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Quốc Ngọc - Luật sư
của Văn phòng Luật sư Nguyên Ngọc, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Số 47 ngách 5, ngõ Gốc Đề, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Danh C- sinh năm 1980.
Địa chỉ: Thôn Đồng Sống, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội.
Nhã mặt. Công ty M, luật Ngọc đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Chính vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện các văn bản tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn
trình bày: Ngày 19/7/2016, Công ty M và Công ty T ký hợp đồng liên kết kinh doanh
số 01/LKKD/2016 để xây dựng kinh doanh bbơi M. Do mâu thuẫn trong quá trình
kinh doanh, nên ngày 21/4/2018 hai bên có làm Biên bản thanh lý hợp đồng, theo đó đến
ngày 21/10/2018 Công ty M phải thanh toán cho Công ty T số tiền 1.642.500.000
đồng. Nhưng sau đó Công ty M chỉ thanh toán cho Công ty T được số tiền
679.037.094. Số tiền còn lại là 963.462.906 đồng.
Do Công ty M không thanh toán nốt tiền, nên ngày 13/4/2019 Công ty T ủy
quyền cho ông Đỗ Danh Chính đại diện Công ty T tham gia giám sát kinh doanh của b
bơi M đđảm bảo tính khách quan trong hoạt động kinh doanh, phối hợp với Công ty M
để tổ chức kinh doanh thu lợi nhuận, đảm bảo chi trả số tiền nợ cho Công ty T theo Biên
bản thanh hợp đồng số 01/LKKD/2016 ngày 19/7/2016 giữa hai bên đã ngày
21/4/2018.
Tại đơn khởi kiện ngày 18/10/2021 Công ty T yêu cầu Tòa án buộc Công ty M
phải thanh toán trả Công ty T stiền gốc 963.462.906 đồng tiền lãi suất chậm thanh
toán theo mức lãi suất 12%/năm cho đến khi Tòa án xét xử vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Công ty M đơn đề nghị Tòa án đưa ông Đỗ Danh
Chính vào tham gia tố tụng trong vụ án vì liên quan đến khoản tiền 400.000.000 đồng do
Công ty M thanh toán trả Công ty T vào ngày 13/7/2019 thông qua ông Đỗ Danh Chính
là người nhận ủy quyền của Công ty T.
Thực tế Công ty T chưa được ông Chính thanh toán một khoản tiền nào liên quan
đến việc Công ty M trả nợ. Ngày 22/8/2022, sau khi Tòa án triệu tập ông Đỗ Danh
Chính đến làm việc thì ông Chính trao đổi với Công ty T về việc ông Chính nhận
số tiền 400.000.000 đồng từ Công ty M. Ông Chính có nhận trách nhiệm sau này sẽ giao
lại số tiền 400.000.000 đồng đã nhận từ Công ty M cho Công ty T.
Do ông Đỗ Danh Chính đã hứa danh dự nhân như vậy, nên Công ty T xin rút
một phần đơn khởi kiện, cụ thể như sau:
Công ty T xin t một phần đơn khởi kiện đối với số tiền 400.000.000 đồng mà
Công ty M đã giao cho ông Đỗ Danh Chính.
Công ty T chỉ đnghị Tòa án giải quyết buộc Công ty M thanh toán cho Công ty
T số tiền gốc 563.462.906 đồng và tiền lãi suất chậm thanh toán theo mức lãi suất
12%/năm cho đến khi trả hết nợ gốc.
Về phần lãi suất, Công ty T u cầu tính như sau:
- Mức lãi suất 12%/năm được áp dụng đối với stiền gốc 963.462.906 đồng từ
ngày 21/10/2018 đến ngày 13/7/2019 là: 84.274.420 đồng.
- Mức lãi suất 12%/năm được áp dụng đối với stiền gốc 563.462.906 đồng từ
ngày 14/7/2019 đến ngày 29/9/2022 là: 216.932.967 đồng.
Do vậy, Công ty T yêu cầu Công ty M thanh toán tổng số tiền lãi tính từ ngày
21/10/2018 đến ngày 29/9/2022 là 301.207.387 đồng và tiếp tục chịu khoản lãi phát sinh
kể từ ngày 30/9/2022 cho đến khi trả xong nợ gốc.
Công ty M trình bày: Công ty M xác nhận ngày 21/4/2018 giữa Công ty M
Công ty T đã ký thanh lý hợp đồng góp vốn xây dựng và kinh doanh bể bơi số
01/LKKD/2016 ngày 19/7/2016. Theo nội dung văn bản thanh thì Công ty M phải
thanh toán trả Công ty T tổng số tiền góp vốn 1.642.500.000 đồng. Ngày 22/9/2018
Công ty M đã thanh toán cho Công ty T được số tiền 679.037.094 đồng. Ngày
09/12/2018, hai bên thống nhất chốt số tiền còn lại phải thanh toán 963.462.906 đồng,
hai bên thống nhất sang năm 2019 thanh toán nốt. Ngày 13/7/2019, Công ty M thanh
toán tiếp cho Công ty T được số tiền 400.000.000 đồng thông qua ông Đỗ Danh Chính là
người nhận ủy quyền thu nợ của Công ty T.
Do vậy, Công ty M xác nhận hiện nay còn nợ Công ty T số tiền gốc
563.462.906 đồng và xin được thanh toán dần cho Công ty T mỗi tháng 25.000.000 đồng
vào ngày cuối tháng.
Đối với yêu cầu của Công ty T buộc Công ty M thanh toán khoản tiền lãi thì Công
ty M không đồng ý thanh toán đây hai bên thanh toán tiền góp vốn theo hợp đồng
chứ không phải tiền vay.
Luật của bị đơn trình bày: Tại Biên bản thanh hợp đồng giữa Công ty T
Công ty M thỏa thuận khoản tiền Công ty M phải thanh toán trả Công ty T bằng
nguồn tiền thu được từ việc hoạt động kinh doanh bể bơi chứ không phải bằng nguồn
tiền sẵn của Công ty M. Quá trình hoạt động của bể bơi thì Công ty T ng đã y
quyền cho ông Chính tham gia giám sát hoạt động để thu tiền về cho Công ty T. Hiện tại
do bể bơi không hoạt động được vì không khách nên không thu để thanh toán tiếp
cho Công ty T. Do vậy, ng ty M không vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho Công ty T nên
không đồng ý trả tiền lãi chậm thanh toán theo yêu cầu của Công ty T.
Tại văn bản ngày 22/8/2022 ông Đỗ Danh Chính trình bày: Ông Chính Chu
Thị Nhã - Giám đốc Công ty T quen biết nhau từ lâu.
Ngày 13/4/2019 ông Chính được Công ty T ủy quyền thực hiện việc giám sát hoạt
động kinh doanh của bể bơi M tại Dị Nậu đđảm bảo tính khách quan trong hoạt
động kinh doanh. Phối hợp cùng Công ty M để tổ chức kinh doanh, thu lợi nhuận, đảm
bảo chi trả số tiền là 900.000.000 đồng cho Công ty T theo hình thức trả nợ tại Biên bản
thanh hợp đồng số 01/LKKD/2016 ngày 19/7/2016 giữa Công ty T Công ty M đã
ngày 21/4/2018. Việc ủy quyền trên được thực hiện theo “Hợp đồng ủy quyền” số
1304/2019/HĐUQ-TN ngày 13/4/2019.
Quá trình thực hiện hợp đồng ủy quyền, ngày 13/7/2019 Công ty M đã thanh toán
cho ông số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Toàn bộ số tiền nhận tCông
ty M, ông Chính đã chuyển lại cho bà Chu Thị Nhã. Việc giao số tiền 400.000.000 đồng
giữa ông Chính với Nhã thì chỉ trao tay nói miệng với nhau, không lập biên bản
giao nhận tiền, nên ông không có chứng cứ để nộp cho Tòa án.
Sau khi ông Chính trao lại khoản tiền 400.000.000 đồng cho Nhã t ngày
26/7/2019 ông bà Nhã - Giám đốc Công ty T đã lập biên bản chấm dứt hợp đồng ủy
quyền số 1304/2019/HĐUQ-TN ngày 13/4/2019.
do công việc, nên ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông Chính
trong tất cả quá trình tố tụng và tại phiên tòa xét xử vụ án.
Bản án Kinh doanh thương mại thẩm s30/2022/ KDTM ST, ngày 29 tháng
09 năm 2022 của Tòa án nhân dân Huyện Thạch Thất đã quyết định như sau :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần phát triển việc làm và hỗ trợ
người khuyết tật T.
Buộc Công ty TNHH thương mại đào tạo M phải thanh toán cho Công ty cổ
phần phát triển việc làm hỗ trợ người khuyết tật T tổng số tiền tính đến ngày
29/9/2022 là: 813.355.651 đồng (Tám tm mười ba triệu, ba trăm năm mươi lăm nghìn,
sáu trăm năm mốt đồng). Trong đó: số tiền góp vốn (gốc) là 563.462.906 đồng, tiền lãi
chậm thanh toán là: 249.892.745 đồng.
Kể từ ngày 30/9/2022, Công ty TNHH thương mại và đào tạo M phải tiếp tục chịu
tiền lãi phát sinh đối với số nợ gốc chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại
Khoản 2 Điều 468 củ Bộ luật Dân sự.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần phát triển việc làm
và hỗ trợ người khuyết tật T đối với yêu cầu buộc Công ty TNHH thương mại và đào tạo
M trả khoản tiền nợ gốc 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) do Công ty cổ phần
phát triển việc làm và hỗ trợ người khuyết tật T rút yêu cầu.
3. Về án phí: Công ty TNHH thương mại và đào tạo M phải chịu 36.401.000 đồng
(Ba mươi sáu triệu bốn trăm linh một nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại
thẩm. Hoàn trả Công ty cổ phần phát triển việc làm htrợ người khuyết tật T số tiền
tạm ứng án phí đã nộp 25.600.000đ (Hai mươi lăm triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo
biên lai số 0025385 ngày 26/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất,
Thành phố Hà Nội.
Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Công ty M kháng cáo một phần bản án về lãi.
Tại cấp phúc thẩm:
- Công ty T trình bày: Để chia sẻ khó khăn do đại dịch COVID với Công ty M,
Công ty T rút 1 phần yêu cầu đòi lãi chỉ yêu cầu Công ty M trả cho Công ty T
149.892.745 đồng tiền lãi, những phần khác của Bản án sơ thẩm đề nghị giữ nguyên.
- Công ty M, luật trình bày: Trong quá trình Công ty M trả gốc cho Công ty T
hai bên đã chốt công nợ và xác định thời điểm thanh toán hết số nợ gốc còn lại
563.462.906 đồng ngoài ra không có bất kỳ khoản nào khác, vì vậy tiền lãi ( nếu có ) chỉ
phát sinh sau ngày 13/7/2020. Tuy nhiên năm 2020 , 2021 do dịch COVID bùng phát
nên bể bơi không được đưa vào hoạt động nên không doanh thu. Trong hợp đồng
các văn bản do hai bên ký kết không thỏa thuận lãi suất do vậy thời gian tính lãi được bắt
đầu kể từ ngày Đơn thi hành án chứ không phải sau ngày xét xử thẩm như Bản
án sơ thẩm tuyên. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu tính lãi của
Công ty T.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nội quan
điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố tiến hành thụ giải quyết vụ
án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đơn kháng cáo của ng ty T trong thời hạn Luật định và hợp lệ.
Ngày 21/4/2018 hai bên làm Biên bản thanh hợp đồng thỏa thuận đến
ngày 21/10/2018 Công ty M phải thanh toán cho Công ty T số tiền 1.642.500.000 đồng,
do vậy sau ngày 21/10/2018 Công ty M chưa thanh toán vi phạm nghĩa vụ thanh toán,
do vậy Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu đòi tiền lãi của Công ty T là căn cứ.
Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty T rút một phần yêu cầu đòi lãi, xét thấy sự tự
nguyện của Công ty T phù hợp pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự ghi nhận sự tự nguyện của Công ty T , sửa án sơ thẩm
về khoản tiền lãi.
- Án phí: Công ty M không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng : Đơn kháng cáo của Công ty M trong thời hạn Luật định
hợp lệ. Công ty M luật sư Đơn xin xét xvắng mặt phù hợp với khoản 2 điều
296 Bộ luật tố tụng dân sự, nên chấp nhận.
- Về nội dung:
- Ngày 19/7/2016, Công ty M Công ty T Hợp đồng liên kết kinh doanh số
01/LKKD/2016 để xây dựng và kinh doanh bể bơi M. Do mâu thuẫn trong quá trình kinh
doanh, nên ngày 21/4/2018 hai bên kết Biên bản thanh hợp đồng với nội dung:
Công ty M trách nhiệm thanh toán cho ng ty T 1.642.500.000 đồng, thời gian
thanh toán vào ngày 21/10/2018 .
Thy rng, hai bên kết Biên bản thanh lý hợp đồng ngày 21/4/2018 trên sở
t nguyn, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức hội, nội dung
hình thức của Biên bản thanh lý hợp đồng ngày 21/4/2018 phù hợp với quy định ca
pháp lut nên phát sinh hiu lc.
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ thể hiện Công ty M còn n Công ty T số
tiền gốc 563.462.906 đồng. Do vậy Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của Công ty T buộc Công ty M thanh toán số tiền gốc 563.462.906 đồng căn cứ
đúng pháp luật, nên được chấp nhận.
- V khon tin lãi:
Theo thỏa thuận nếu sau ngày 21/10/2018, ng ty M chưa thanh toán hết cho
Công ty T số tiền 1.642.500.000 đồng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do vậy việc Công
ty T yêu cầu Công ty M thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc là phù hợp với điu 357,
468 ca B lut Dân s năm 2015, vic Tòa án cp sơ thm chp nhn yêu cu khi kin
ca Công ty T buc Công ty M thanh toán tin lãi đối vi s n gc căn c, nên
đưc chp nhn.
Tuy nhiên ti phiên tòa phúc thm Công ty T đồng ý chia s khó khăn vi Công ty
M do đại dịch COVID giảm số tiền lãi là 100.000.000 đồng, chỉ yêu cầu Công ty phải trả
số tiền lãi 149.892.745 đồng, xét thấy sự tự nguyện của Công ty T là phù hợp pháp luật,
nên ghi nhận.Từ những phân tích trên căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
sửa bản án sơ thẩm về khoản tiền lãi.
- Về án phí: Công ty M không phải chịu án phí phúc thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nội phù hợp
với pháp luật.
Từ những nhận định trên!
Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 1 điều 148, khoản 2 điều 308, điều 313 Bộ luật tố
tụng dân sự.
Căn cứ điều 26, khoản 2 điều 29 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu , nộp, quản sdụng án
phí , lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Xử : Chấp nhận 1 phần kháng cáo của ng ty TNHH thương mại và đào tạo M.
Sửa Bản án Kinh doanh thương mại thẩm số 30/2022/ KDTM ST, ngày 29
tháng 09 năm 2022 của Tòa án nhân dân Huyện Thạch Thất và quyết định như sau :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần phát triển việc làm và hỗ trợ
người khuyết tật T.
Buộc Công ty TNHH thương mại đào tạo M phải thanh toán cho Công ty cổ
phần phát triển việc làm hỗ trợ người khuyết tật T tổng số tiền tính đến ngày
29/9/2022 là: 713.355.651 đồng ( Bảy trăm mười ba triệu, ba trăm năm mươi lăm nghìn,
sáu trăm năm mốt đồng). Trong đó: số tiền góp vốn (gốc) là 563.462.906 đồng, tiền lãi
chậm thanh toán là: 149.892.745 đồng.
Kể từ ngày 30/9/2022, Công ty TNHH thương mại và đào tạo M phải tiếp tục chịu
tiền lãi phát sinh đối với số nợ gốc chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại
Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự cho đến khi trả xong nợ gốc.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần phát triển việc làm
và hỗ trợ người khuyết tật T đối với yêu cầu buộc Công ty TNHH thương mại và đào tạo
M trả khoản tiền nợ gốc 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) và khoản tiền lãi
100.000.000 đồng do Công ty cổ phần phát triển việc làm hỗ trợ người khuyết tật T
rút yêu cầu.
3. Về án phí: Công ty TNHH thương mại và đào tạo M phải chịu 32.534.000 đồng
( làm tròn) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, được trừ vào số tiền 2.000.000 đồng
nộp tại biên lai số 25589 ngày 25/10/2022 Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất,
còn phải nộp 30.534.000 đồng.
Hoàn trả Công ty cổ phần phát triển việc làm hỗ trợ người khuyết tật T số tiền
tạm ứng án phí 25.600.000đ theo biên lai số 0025385 ngày 26/4/2022 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi
hành án được thi thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày 13/3/2023.
Nơi nhận:
- TAND huyện Thạch Thất .
- VKSND TP Hà nội .
- Đương sự.
- u.
TM. Hội đồng xét xử phúc thẩm
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Tải về
Bản án 40/2023/KDTM-PT Hà Nội Bản án 40/2023/KDTM-PT Hà Nội

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 40/2023/KDTM-PT Hà Nội Bản án 40/2023/KDTM-PT Hà Nội

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất