Bản án số 237/2026/DS-PT ngày 17/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 237/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 237/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 237/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 237/2026/DS-PT ngày 17/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 237/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 237/2026/DS-PT
Ngày 17-3-2026
“V/v Tranh chấp hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất và tài
sản gắng liền với đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tôn
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Kiến
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Nguyệt Quỳnh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 tháng 01, ngày 02 tháng 02 và ngày 17 tháng 3 năm
2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp (trụ sở 1), xét xử phúc thẩm
công khai vụ án thụ lý số 952/2025/TLPT-DS ngày 17/12/2025, về việc “Tranh
chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 203/2026/QĐ-PT ngày
08 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim H, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Ấp M, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của chị H: Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm
1996; (theo Văn bản ủy quyền ngày 16/4/2025)
Địa chỉ: A, N, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
2
2. Bị đơn: Chị Dương Thị Trúc L, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp K, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Chổ ở hiện nay: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm
1980;
Địa chỉ: Ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
Chổ ở hiện nay: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh Nguyễn Ngọc D, chị Dương Thị Trúc L có mặt tại phiên tòa. Anh
Nguyễn Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 09/01/2025 và chị Nguyễn Kim H
trình bày: Ngày 13/02/2023, chị Nguyễn Kim H có nhận chuyển nhượng từ chị
Dương Thị Trúc L phần diện tích đất 705m
2
, thửa đất số 24, tờ bản đồ 06, tọa
lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng
Tháp), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCN.QSDĐ) số H03040
do UBND huyện T cấp cho chị Dương Thị Trúc L ngày 01/8/2006 với giá
chuyển nhượng là 1.200.000.000 đồng. Chị H đã thanh toán đủ tiền chuyển
nhượng cho chị L, đến ngày 07/4/2023, chị H đã được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh T cấp GCN.QSDĐ số CS01958.
Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên, do chị L có nhu
cầu về chổ ở nên đã thỏa thuận với chị H sẽ thuê lại nhà, đất trên thửa đất nói
trên để ở trong thời gian là 12 tháng, giá thuê là 36.000.000 đồng/tháng, chị H
và chị L có lập hợp đồng thuê ngày 13/02/2023. Từ thời điểm ký hợp đồng
thuê, chị L không thực hiện việc thanh toán tiền thuê nhà, đất cho chị H, hiện
hợp đồng thuê cũng đã hết hạn.
Nay chị H yêu cầu:
Buộc chị Dương Thị Trúc L phải di dời toàn bộ tài sản đồ đạc trên đất để
trả lại phần diện tích đất 705m
2
, thửa đất số 24, tờ bản đồ 06, tọa lạc tại ấp T,
xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, GCN.QSDĐ số CS01958 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh T cấp cho chị Nguyễn Kim H ngày 07/4/2023. Thời hạn giao
trả nhà, đất là 01 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Buộc chị Dương Thị Trúc L phải trả tiền thuê đất tạm tính đến ngày
13/01/2025 là 828.000.000 đồng.
3
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh D là đại diện cho chị H trình bày:
Buộc chị Dương Thị Trúc L phải di dời toàn bộ tài sản đồ đạc trên đất để
trả lại căn nhà và phần diện tích đất 705m
2
, thửa đất số 24, tờ bản đồ 06, tọa lạc
tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, GCN.QSDĐ số CS01958 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho chị Nguyễn Kim H ngày 07/4/2023. Thời
hạn giao trả đất là 01 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Buộc chị Dương Thị Trúc L phải trả tiền thuê đất tính đến ngày
13/01/2025 là 828.000.000 đồng trừ đi 94.000.000 đồng tiền thuê nhà, đất mà
chị L đã đóng trước đó, yêu cầu thanh toán tiếp số tiền 734.000.000 đồng.
- Tại Biên bản hòa giải ngày 14/8/2025 và chị Dương Thị Trúc L trình
bày: Nguồn gốc phần diện tích đất 705m
2
, thửa đất số 24, tờ bản đồ 06, tọa lạc
tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp) là
do cha, mẹ tặng cho lại cho chị L. Khi cha, mẹ cho đất đã có căn nhà hiện hữu
trên đất, đến năm 2017 thì chị L có tiến hành sửa chữa lại. Đến năm 2018 -
2019 thì chị L và anh Nguyễn Văn H1 (sống chung như vợ, chồng với chị L,
không có đăng ký kết hôn) có sửa chữa thêm. Hiện căn nhà do chị L và anh H1
đang sinh sống, quản lý.
Thực tế, giữa chị L và chị H chỉ có quan hệ vay tiền, chị L có vay số tiền
1.100.000.000 đồng và cộng khoản lãi vào là 100.000.000 đồng nữa là
1.200.000.000 đồng từ chị H, nhưng chị H bắt buộc phải làm hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thì mới cho vay. Do đó, chị L mới ký kết hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá là 1.200.000.000 đồng cho chị H.
Đồng thời, chị H bắt chị L phải ký thêm hợp đồng thuê nhà, đất như nguyên
đơn đã trình bày. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì
chị H đã tự ý làm thủ tục để được đứng tên trên GCN.QSDĐ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, chị L không đồng ý trả lại nhà, đất
và không đồng ý trả lại tiền thuê nhà, đất, yêu cầu chị H phải trả lại quyền sử
dụng đất để chị L tự tìm người chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đồng ý trả
lại cho chị H số tiền 1.200.000.000 đồng nợ gốc và số tiền lãi theo quy định của
pháp luật, thực hiện trả tiền sau Tết Nguyên đán. Trường hợp chị H muốn lấy
luôn nhà, đất thì phải trả thêm tiền theo giá thị trường thì chị L đồng ý giao
toàn bộ nhà, đất cho chị H.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị L trình bày: Chị L không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Đồng ý trả lại cho chị H số tiền 1.200.000.000 đồng
nợ gốc và số tiền lãi theo quy định của pháp luật, thực hiện trả tiền sau Tết
4
Nguyên đán. Yêu cầu chị H trả lại quyền sử dụng đất cho chị L, trường hợp chị
H muốn lấy luôn nhà, đất thì phải trả thêm tiền theo giá thị trường thì chị L
đồng ý giao toàn bộ nhà, đất cho chị H.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05/9/2025 và tại phiên tòa anh Nguyễn
Văn H1 trình bày: Anh H1 và chị L sống chung như vợ, chồng từ năm 2018
đến nay, không có đăng ký kết hôn. Khi về sống với chị L thì trên phần đất
đang tranh chấp đã có căn nhà hiện hữu. Vào khoảng năm 2019, anh H1 và chị
L có sửa, chữa lại căn nhà. Việc chị L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho chị H, anh H1 có biết nhưng không có ký tên vào các giấy tờ
chuyển nhượng và thuê nhà, đất và không ý kiến gì. Mục đích ký các hợp đồng
là để làm tin đảm bảo cho việc chị L vay tiền của chị H. Đối với nội dung vụ
kiện, anh H1 thống nhất với toàn bộ ý kiến của chị L.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đồng Tháp, đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn
Kim H.
1.1. Buộc chị Dương Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn H1 phải di dời đồ
đạc đi nơi khác để trả lại quyền sử dụng 705m
2
, thửa đất số 24, tờ bản đồ 06,
tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng
Tháp), Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp GCN.QSDĐ số CS01958 ngày
07/4/2023 cho chị Nguyễn Kim H và các tài sản trên đất gồm:
Nhà 1 tầng: Diện tích sàn xây dựng: 120m
2
. Năm xây dựng: 2017; Kết
cấu: Tường gạch, mái tôn, nền lát gạch men; Hiện trạng: Tường gạch còn chịu
tải được, mái hao mòn theo thời gian, nền gạch còn sử dụng được.
Nhà kho: Diện tích sàn xây dựng: 20,5m
2
. Năm xây dựng: 2020; Kết cấu:
Tường gạch, mái tôn, nền lát gạch men; Hiện trạng: Tường gạch còn chịu tải
được, mái hao mòn theo thời gian, nền gạch còn sử dụng được.
Mái che: Diện tích sàn xây dựng: 55,6m
2
. Năm xây dựng: 2014; Kết cấu:
Khung gỗ, mái tôn, nền lát gạch tàu; Hiện trạng: Khung gỗ còn chịu tải được,
mái tôn đã cũ.
Hồ nước: Diện tích: 6,9m
3
. Năm xây dựng: 2020; Kết cấu: Tường gạch,
nền bê tông cốt thép; Hiện trạng: Tường gạch, nền bê tông cốt thép còn chịu tải
được.
5
1.2. Chị L và anh H1 tiếp tục được lưu cư tại căn nhà gắn liền trên thửa
đất số thửa đất số 24, tờ bản đồ 06, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền
Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp), trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ
ngày án có hiệu lực pháp luật.
1.3. Buộc chị Dương Thị Trúc L phải trả tiền thuê nhà cho chị Nguyễn
Kim H số tiền là 338.000.000 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến
khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án chậm trả tiền thì còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tại thời điểm thanh
toán.
2. Về án phí:
2.1. Chị Nguyễn Kim H phải chịu 19.800.000 đồng (Mười chín triệu tám
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 18.720.000
đồng (Mười tám triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp
theo các biên lai thu số 0003893, 0003894 ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (nay là Phòng Thi
hành án khu vực 3 - Đồng Tháp). H2 lại cho chị Nguyễn Kim H 1.080.000
đồng (Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).
2.2. Chị Dương Thị Trúc L phải chịu 17.200.000 đồng (Mười bảy triệu hai
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy
định pháp luật và thi hành án.
Ngày 08/10/2025, bị đơn là chị Dương Thị Trúc L có đơn kháng cáo bản
án sơ thẩm, yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn vì đây là hợp đồng giả cách nhằm che giấu hợp đồng vay tiền giữa vợ
chồng chị L với chị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Nguyễn Ngọc D trình bày: Buộc chị Dương Thị Trúc L và anh
Nguyễn Văn H1 phải di dời toàn bộ đồ đạc tài sản cá nhân của chị L, anh H1
trên đất để trả lại nhà và phần diện tích đất 705m
2
, thửa đất số 24, tờ bản đồ 06,
tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng
Tháp), theo GCN.QSDĐ số CS01958 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T
cấp cho chị Nguyễn Kim H ngày 07/4/2023. Thời hạn giao trả đất là 01 tháng
kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
6
Chị H đồng ý tự nguyện không yêu cầu trả tiền thuê đất và nhà đối với số
tiền đã yêu cầu là 734.000.000 đồng và số tiền Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị L
trả cho chị H là 338.000.000 đồng.
Chị H đồng ý tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời tài sản, đồ đạc cá nhân của
chị L và anh H1 với số tiền là 10.000.000 đồng.
Chị Dương Thị Trúc L trình bày: Chị L không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Đồng ý trả lại cho chị H số tiền 1.200.000.000 đồng nợ
gốc và số tiền lãi theo quy định của pháp luật. Vì đây là hợp đồng giả cách
nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản. Chị L vay tiền của chị H và đã đóng lãi
cho chị H số tiền tổng cộng là 237.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến và đề
nghị:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố
tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước
khi nghị án, Hội đồng xét xử đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã thực hiện
đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Dương Thị Trúc L,
sửa Bản án sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 3 – Đồng Tháp, theo hướng ghi nhận nguyên đơn Nguyễn
Kim H tự nguyện hỗ trợ cho bị đơn chi phí di dời đồ đạc là 10.000.000 đồng và
không yêu cầu bị đơn trả số tiền thuê nhà là 338.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến trình bày của
đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Dương Thị Trúc L còn trong hạn
luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc
thẩm, theo quy định tại Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với các đương sự nhưng anh Nguyễn Văn
H1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
7
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của chị Dương Thị Trúc L yêu
cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì đây là hợp
đồng giả cách nhằm che giấu hợp đồng vay tiền giữa vợ chồng chị L với chị H.
Xét thấy:
[2.1] Về yêu cầu di dời tài sản, đồ đạc cá nhân của chị L để trả lại quyền
sử dụng đất và căn nhà trên đất:
Ngày 13/02/2023, chị Nguyễn Kim H có nhận chuyển nhượng từ chị
Dương Thị Trúc L phần diện tích đất là 705m
2
, thửa đất số 24, tờ bản đồ 06,
tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng
Tháp), theo GCN.QSDĐ số H03040 do UBND huyện T cấp cho chị Dương Thị
Trúc L ngày 01/8/2006 với giá chuyển nhượng là 1.200.000.000 đồng, có nhà
trên đất. Đến ngày 07/4/2023, chị H đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
T cấp GCN.QSDĐ số CS01958. Như vậy, chị H đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo hợp đồng chuyển nhượng, đúng theo quy định của pháp
luật. Đồng thời, chị L cũng thừa nhận “Giấy cam kết” ngày 01/01/2024 là do
chị L viết và ký tên, trong đó thể hiện nội dung:“Tôi xin cam kết sau
16/01/2024 sẽ giao lại nhà và đất đã bán cho chị Nguyễn Kim H (1992) và
không tranh chấp bất cứ về sau”.
Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà
trên thửa đất như nêu trên, ngày 13/02/2023, chị H và chị L có ký giấy thỏa
thuận về việc chị L sẽ thuê lại quyền sử dụng đất để ở trong thời gian là 12
tháng với giá thuê là 36.000.000 đồng/tháng. Đến hết ngày 13/02/2024, hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất giữa chị H và chị L kết thúc. Kể từ thời điểm ký
kết hợp đồng thuê nhà và đất nêu trên, giữa chị H và chị L đã xác lập hợp đồng
về quyền sử dụng đất theo quy định tại các Điều 500, 501, 502 Bộ luật dân sự
và Điều 27, 37 Luật đất đai. Khi hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng thuê
nhà, đất thì chị L phải thực hiện giao trả nhà, đất cho chị H nhưng chị L không
thực hiện là đã vi phạm nghĩa vụ nên phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy
định tại Điều 351 Bộ luật dân sự. Nhà, đất hiện nay do chị L và anh H1 đang
quản lý sử dụng.
Chị H khởi kiện yêu cầu di dời tài sản, đồ đạc cá nhân để trả nhà và đất
cho chị H và chị H đã có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình
là có căn cứ và hợp pháp, theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng
dân sự. Hội đồng xét xử xét yêu cầu của chị H là có căn cứ chấp nhận.
8
Chị L trình bày nhưng không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày
của mình. Hội đồng xét xử xét việc trình bày của chị L là không có căn cứ chấp
nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu trả tiền thuê quyền sử dụng đất:
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh D đại diện cho chị H yêu cầu chị Dương Thị
Trúc L phải trả tiền thuê đất tính đến ngày 13/01/2025 là 828.000.000 đồng trừ
đi 94.000.000 đồng tiền thuê nhà, đất mà chị L đã đóng trước đó, yêu cầu thanh
toán tiếp số tiền 734.000.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của chị H, buộc chị L trả
cho chị H số tiền thuê nhà và đất là 338.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm Chị H đồng ý tự nguyện không yêu cầu trả tiền
thuê đất và nhà đối với số tiền đã yêu cầu là 734.000.000 đồng và số tiền Tòa
án cấp sơ thẩm buộc chị L trả cho chị H là 338.000.000 đồng.
Chị H đồng ý tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời tài sản, đồ đạc cá nhân của
chị L và anh H1 với số tiền là 10.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét sự tự nguyện của chị H là phù hợp và có căn cứ chấp
nhận. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị L thừa nhận có ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho chị H như đã trình bày. Việc ký kết hợp đồng chuyển
nhượng và hợp đồng thuê nhà thực tế chỉ vì mục đích cam kết, đảm bảo cho
việc chị L vay tiền từ chị H số tiền 1.200.000.000 đồng và tiền lãi vay là
36.000.000 đồng/tháng nên đây chỉ là hợp đồng giả cách nhằm che đậy quan hệ
vay, mượn tiền giữa chị H và chị L. Tuy nhiên, chị L trình bày nhưng không có
tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình và nguyên đơn cũng
không thừa nhận lời trình bày của chị L. Hội đồng xét xử xét việc trình bày của
chị L không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh D là đại diện ủy quyền của nguyên đơn
yêu cầu chị L phải di dời tài sản, đồ đạc cá nhân trả lại quyền sử dụng đất và
căn nhà trên đất trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp
luật. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.4] Về nghĩa vụ giao trả nhà, đất: Xét thấy, hiện nay ngoài chị L còn có
anh H1 sinh sống tại căn nhà mà chị H yêu cầu trả lại cho chị H, nên xét buộc
chị L và anh H1 phải có nghĩa vụ di dời tài sản, đồ đạc cá nhân trả lại quyền sử
dụng đất và căn nhà trên đất cho chị H.
9
[2.5] Chị L kháng cáo yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn vì đây là hợp đồng giả cách nhằm che giấu hợp đồng vay tiền
giữa vợ chồng chị L với chị H nhưng chị L không cung cấp được chứng cứ
chứng minh. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị L trình bày là có đóng tiền lãi cho
chị H với số tiền là 273.000.000 đồng, chị L có cung cấp tài liệu xác định việc
chuyển tiền cho chị H, nhưng trong các tài liệu chị L cung cấp không có nội
dung thể hiện việc chuyển tiền để đóng tiền lãi như chị L trình bày. Anh Duy
đại diện cho chị H xác định tiền chị L cho là đóng tiền lãi là tiền chị L trả tiền
thuê nhà, anh D không thừa nhận lời trình bày của chị L. Nhưng do tại phiên
tòa chị H tự nguyện không yêu cầu chị L trả tiền thuê nhà và đất đối với số tiền
đã yêu cầu là 734.000.000 đồng và số tiền được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận
buộc chị L trả tiền thuê nhà cho chị H là 338.000.000 đồng. Cho nên, Hội đồng
xét xử xét chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị L.
[3] Chị Nguyễn Kim H, anh Nguyễn Văn H1 không có kháng cáo nên Hội
đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Từ các căn cứ, nhận định và phân tích nêu trên, xét thấy án sơ thẩm xét
xử là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm do có phát sinh tình tiết
mới, do chị H đồng ý tự nguyện không yêu cầu chị L trả tiền thuê đất và nhà
đối với số tiền đã yêu cầu là 734.000.000 đồng và số tiền Tòa án cấp sơ thẩm
buộc chị L trả cho chị H là 338.000.000 đồng. Đồng thời, chị H đồng ý tự
nguyện hỗ trợ chi phí di dời tài sản, đồ đạc cá nhân của chị L và anh H1 với số
tiền là 10.000.000 đồng. Nên Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm.
[5] Việc sửa Bản án sơ thẩm là do có phát sinh tình tiết mới tại phiên tòa
phúc thẩm.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Xét việc đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
là có căn cứ chấp nhận.
[8] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản
tổng cộng là 8.000.000 đồng. Chi phí này do chị Nguyễn Kim H tạm ứng và đã
chi xong. Chị H đồng ý tự nguyện chịu toàn bộ tiền chi phí này.
[9] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
10
Chị Nguyễn Kim H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả
lại cho chị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.720.000 đồng, theo các biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003893, số 0003894 ngày 24 tháng 02
năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
(nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Đồng Tháp).
Chị Dương Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của chị L được chấp
nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1, Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng: Điều 26, Điều 38, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 148, Điều
157, Điều 165, Điều 273, 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 163,
166, 274, 278, 351, 352, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, 27, 37,
45, 134, 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 26, 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Dương Thị Trúc L.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đồng Tháp.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim H.
2. Buộc chị Dương Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn H1 phải di dời tài sản,
đồ đạc cá nhân đi nơi khác để trả lại quyền sử dụng đất diện tích là 705m
2
,
thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ 06, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền
Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp), cho chị Nguyễn Kim H, đất do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp GCN.QSDĐ số CS01958 cho chị Nguyễn
Kim H vào ngày 07/4/2023 và các tài sản trên đất (theo Biên bản xem xét thẩm
định tại chỗ và Chứng thư thẩm định giá) gồm:
Nhà 1 tầng: Diện tích sàn xây dựng: 120m
2
. Năm xây dựng: 2017; Kết
cấu: Tường gạch, mái tôn, nền lát gạch men; Hiện trạng: Tường gạch còn chịu
tải được, mái hao mòn theo thời gian, nền gạch còn sử dụng được.
11
Nhà kho: Diện tích sàn xây dựng: 20,5m
2
. Năm xây dựng: 2020; Kết cấu:
Tường gạch, mái tôn, nền lát gạch men; Hiện trạng: Tường gạch còn chịu tải
được, mái hao mòn theo thời gian, nền gạch còn sử dụng được.
Mái che: Diện tích sàn xây dựng: 55,6m
2
. Năm xây dựng: 2014; Kết cấu:
Khung gỗ, mái tôn, nền lát gạch tàu; Hiện trạng: Khung gỗ còn chịu tải được,
mái tôn đã cũ.
Hồ nước: Diện tích: 6,9m
3
. Năm xây dựng: 2020; Kết cấu: Tường gạch,
nền bê tông cốt thép; Hiện trạng: Tường gạch, nền bê tông cốt thép còn chịu tải
được.
Nhà, đất và các tài sản nêu trên hiện nay do chị L và anh H1 đang quản lý
sử dụng.
3. Chị L và anh H1 tiếp tục được lưu cư tại căn nhà gắn liền trên thửa đất
số thửa đất số 24, tờ bản đồ 06, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang
(nay là ấn T, xã T, tỉnh Đồng Tháp), trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày
án có hiệu lực pháp luật.
4. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Kim H hỗ trợ chi phí di dời tài
sản, đồ đạc cá nhân của chị Dương Thị Trúc L, anh Nguyễn Văn H1 để trả nhà
và đất cho chị H với số tiền là 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà bên
phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357,
Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản
tổng cộng là 8.000.000 đồng. Chi phí này do chị Nguyễn Kim H tạm ứng và đã
chi xong. Chị H đồng ý tự nguyện chịu toàn bộ tiền chi phí này.
6. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Kim H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả
lại cho chị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.720.000 đồng, theo các biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003893, 0003894 ngày 24 tháng 02
năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
(nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Đồng Tháp).
Chị Dương Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
12
Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Dương Thị Trúc L không phải chịu tiền án
phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho chị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005011 ngày
16 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐ, KT, TT-THA Tòa án Tỉnh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực 3 – Đồng Tháp;
- Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 –
Đồng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án (T).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thành Tôn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm