Bản án số 342/2026/KDTM-PT ngày 18/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 342/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 342/2026/KDTM-PT ngày 18/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 342/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm .
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 342/2026/KDTM-PT Bản án số 342/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 342/2026/KDTM-PT
Ngày: 18/9/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng thi công, hợp
đồng dịch vụ, hợp đồng thuê tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thọ Viên
Các Thẩm phán: Bà Mai Thị Thanh Tú
Bà Lưu Thị Đoan Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Tâm Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lân - Kiểm sát viên.
Ngày 18/9/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 216/2026/TLPT-
KDTM ngày 14 tháng 7 năm 2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng thi công, hợp
đồng dịch vụ, hợp đồng thuê tài sản”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2026/KDTM-ST ngày 31
tháng 03 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực Y, Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4753/2026/QĐPT-
KDTM ngày 27 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần G. Địa chỉ: 65A2 Đường A5, phường B4,
thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, (nay là phường R3, Thành phố
Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Duy L - Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lý Việt C - Trợ lý ban giám đốc và bà
Nguyễn Thanh H – Chuyên viên pháp chế (theo Giấy ủy quyền số 419/26/UQ-
PVSY ngày 05/8/2026 và 404/26/UQ-PVSY ngày 01/8/2026)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn
Đình H1 - Luật sư Văn phòng luật sư V8 thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí
Minh. Địa chỉ: 51/20 Đường F2, phường M3, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
- Bị đơn: Công ty Cổ phần A. Địa chỉ: Quốc lộ Q4, xã O2, huyện L7, thành
phố Hải Phòng (nay là xã J2, thành phố Hải Phòng).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc S - Trợ lý tổng giám đốc và
bà Đặng Thị Ngọc M - Chuyên viên pháp chế (Theo Giấy ủy quyền số
263/2025/GUQ-TGĐ ngày 24/10/2025)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
+ Ông Nguyễn Hồng B và ông Trần Minh T - Luật sư Công ty luật
TNHH P9. Địa chỉ: Phòng 403, số 85 Đường Z2, phường V4, Thành phố Hà Nội.
+ Ông Phan Trung H2 và ông Phan Minh H3 –Luật sư Văn phòng luật
sư Phan Trung Z5 thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: 100A
Đường Y7, phường U3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH TMC Nghi S1.
Địa chỉ: phường R1, tỉnh Thanh Hóa (nay là phường R1, tỉnh Thanh Hóa).
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị L1 - Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1974. Địa chỉ: 49
Đường X2, phường K3, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền ngày
31/7/2026)
- Người làm chứng: E (nay là Samsung E&A Co.,Ltd) - Người đại diện:
ông Jeong Mun H4 – Giám đốc dự án. Địa chỉ: 26, SangiL-ro 6-gil,
Gangdonggu, Seoul, Korea. Địa chỉ liên hệ: A4-7/18 Trung tâm đô thị P5,
phường R3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Công ty Cổ phần G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 10 năm 2021, ngày 24/5/2022 và
trình bày của đại diện nguyên đơn:
1.1. Công ty Cổ phần G (sau đây gọi tắt là "PV Shipyard") và Công ty Cổ
phần A (sau đây gọi tắt là "A") ký kết các Hợp đồng sau:
- Hợp đồng PVMS.0119028 ngày 20/11/2019:
A thuê PV Shipyard cung cấp vật tư, gia công chế tạo giá đỡ ống, chế tạo
ống; làm sạch, sơn và vận chuyển giá đỡ, ống tới công trường Tổ hợp hóa dầu
L6 thuộc dự án Tổ hợp Hóa dầu L6 do Công ty TNHH E (gọi tắt là E) làm chủ
đầu tư.
Tổng giá trị ước tính của hợp đồng (chưa bao gồm thuế GTGT) là
91.700.634.081 đồng.
Hai bên thỏa thuận thanh toán: Tạm ứng: 5% giá trị hợp đồng trong vòng
45 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, giá trị tạm ứng được trừ dần vào giá trị thanh
toán trong các lần tiếp theo. Thanh toán: 95% theo tiến độ (hàng tháng) trong
3
vòng 50 ngày kể từ ngàyA nhận được: Hóa đơn GTGT, Bảng tổng hợp khối
lượng nghiệm thu. Thanh toán nốt giá trị còn lại sau khi bị đơn phát hành biên
bản xác nhận hoàn thành công việc tạm thời.
Quá trình thực hiện: PV Shipyard đã thực hiện và hoàn thành nghĩa vụ theo
quy định của Hợp đồng, bàn giao cho A và A đã bàn giao cho nhà thầu chính
Công ty E (Hàn Quốc) đưa vào dự án Tổ hợp Hóa dầu L6 - Chủ đầu tư Công ty
TNHH Hóa dầu L6, Tập đoàn SGC từ tháng 11/2021.
+ Giá trị theo hợp đồng là: 91.700.634.081 đồng;
+ Giá trị thực hiện đã bao gồm thuế GTGT: 94.490.742.581 đồng.
+ Giá trị A đã thanh toán là: 67.810.921.497 đồng.
+ Giá trị A còn nợ (bao gồm thuế GTGT) là: 28.234.048.328 đồng.
+ Lãi chậm trả đến ngày 25/3/2026 là 13.675.587.967 đồng.
- Hợp đồng PVMS.0119029 ngày 10/11/2019:
A thuê PV Shipyard thực hiện thi công chế tạo các cấu kiện thuộc gói thầu B
và C, dự án Tổ hợp Hóa dầu L6 do E là nhà thầu chính.
Tổng giá trị ước tính của hợp đồng (bao gồm thuế GTGT) là
58.499.256.277 đồng.
Quá trình thực hiện: PV Shipyard đã thực hiện và hoàn thành nghĩa vụ theo
quy định của hợp đồng, bàn giao cho A và A đã bàn giao cho Nhà thầu chính
Công ty E (Hàn Quốc) đưa vào dự án Tổ hợp Hóa dầu L6 - Chủ đầu tư Công ty
TNHH Hóa dầu L6, Tập đoàn SGC từ tháng 11/2021.
+ Tổng giá trị đã thực hiện bao gồm thuế GTGT là: 58.499.256.277 đồng,
trong đó:
+ Giá trị đã thanh toán là: 48.123.494.253 đồng.
+ Giá trị A chưa thanh toán là: 10.375.762.024 đồng, khấu trừ tiền phế liệu
289.367.558 đồng;
+ Giá trị A còn nợ (bao gồm thuế GTGT) là: 10.086.394.466 đồng.
+ Lãi chậm trả đến ngày 25/3/2026 là 6.163.047.100 đồng.
- Hợp đồng số AS-LSP-002/02 ngày 12/9/2019 về việc cung cấp mô hình
3D, triển khai các bản vẽ thi công Module Pipe Rack và Module công nghệ:
A thuê PV Shipyard thực hiện dịch vụ thiết kế mô hình 3D, triển khai các
bản vẽ thi công Module Pipe Rack và Module công nghệ cho dự án Tổ hợp Hóa
dầu L6.
+ Giá trị hợp đồng (đã bao gồm thuế GTGT): 1.263.945.365 đồng (bản sửa
đổi số 2 Hợp đồng số AS-LSP-002/02).
+ Giá trị quyết toán (đã bao gồm thuế GTGT): 1.263.945.365 đồng
+ Giá trị đã thanh toán là: 82.555.250 đồng.
4
+ Giá trị A chưa thanh toán là: 1.181.390.115 đồng.
+ Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 693.761.692 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0119034 ngày 19/11/2019 về việc thi công điện,
động lực cho nhà xưởng:
A thuê PV Shipyard cung cấp dịch vụ thi công điện động lực cho nhà
xưởng của A.
+ Giá trị trọn gói của hợp đồng (chưa bao gồm thuế GTGT): 1.295.427.350 đồng
+ Giá trị công việc hoàn thành đã bao gồm thuế GTGT là 1.424.970.085 đồng
+ Giá trị A đã thanh toán là: 543.588.034 đồng.
+ Giá trị A chưa thanh toán: 881.382.051 đồng
+ Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 596.950.445 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày 25/11/2019 về việc cung cấp
dịch vụ thi công đèn chiếu sáng nhà xưởng:
A thuê PV Shipyard thực hiện dịch vụ thi công đèn chiếu sáng nhà xưởng
của A.
+ Giá trị trọn gói của Hợp đồng (bao gồm thuế GTGT): 497.492.554 đồng.
+ Giá trị công việc hoàn thành đã bao gồm thuế GTGT là 497.492.554 đồng
+ Giá trị A đã thanh toán là: 198.997.021 đồng.
+ Giá trị A chưa thanh toán: 298.495.533 đồng
+ Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 198.081.635 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020 về việc cung cấp dịch
vụ thi công hệ thống phòng cháy chữa cháy nhà xưởng:
A thuê PV Shipyard cung cấp dịch vụ thi công hệ thống phòng cháy chữa
cháy cho nhà xưởng của A.
+ Giá trị tạm tính của hợp đồng (chưa bao gồm thuế GTGT): 654.634.200 đồng.
+ Giá trị công việc hoàn thành đã bao gồm thuế GTGT là 654.634.200 đồng
+ Giá trị A chưa thanh toán: 654.634.200 đồng
+ Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 391.013.008 đồng.
- Hợp đồng số SO.0319/HCNS/2009 ký ngày 26/8/2019 về việc thuê mặt
bằng văn phòng tòa nhà PV Shipyard (bao gồm các phụ lục sửa đổi).
PV Shipyard cho A thuê văn phòng tại Tòa nhà PV Shipyard thuộc sở hữu
của PV Shipyard với tổng diện tích là 372m
2
.
Giá hợp đồng: Theo đơn giá (chưa bao gồm thuế GTGT): 87.750
đồng/m
2
/tháng (Đơn giá được điều chỉnh tại phụ lục 04 của hợp đồng), không
bao gồm chi phí điện và các tiện ích khác.
5
+ Tổng giá trị tiền thuê văn phòng từ ngày 01/10/2020 đến hết ngày
30/6/2021 (bao gồm thuế GTGT và các dịch vụ thuê phòng họp, tiền điện là:
960.718.744 đồng.
+ A đã thanh toán: 467.408.700 đồng.
+ Số tiền A chưa thanh toán là: 493.310.044 đồng
+ Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 194.806.853 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0120018 ký ngày 28/5/2020 về việc thuê thi công
chế tạo Stick-Built:
A thuê PV Shipyard thi công chế tạo Stick-Built.
+ Giá trị ước tính (chưa bao gồm thuế GTGT và dịch vụ vận chuyển) là:
9.308.934.480 đồng.
+ Giá trị thực hiện đã bao gồm thuế GTGT là 2.566.228.500 đồng.
+ Giá trị A chưa thanh toán: 2.566.228.500 đồng.
+ Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 1.665.902.654 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021 về việc làm sạch và sơn
kết cấu Dự án Tổ hợp Hóa dầu Miền Nam Việt Nam.
A thuê PV Shipyard thực hiện dịch vụ và sơn kết cấu dự án Tổ hợp hóa dầu
Miền Nam, Việt Nam
+ Giá trị tạm tính (chưa bao gồm thuế GTGT và dịch vụ vận chuyển) là:
185.150.000 đồng.
+ Giá trị thực hiện đã bao gồm thuế GTGT là 194.054.922 đồng
+ Giá trị A chưa thanh toán: 194.054.922 đồng
+ Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 102.286.349 đồng.
- Dịch vụ nâng hạ hàng tại cảng PV Shipyard (bản chào giá số
129/20/TM&PTKD-CG và biên bản nghiệm thu ngày 04/7/2020):
A thuê PV Shipyard cung cấp dịch vụ nâng hạ hàng tại cảng PV Shipyard
theo chào giá số 129/20/TM&POTK) ngày 02/7/2020.
+ PV Shipyard đã thực hiện dịch vụ theo đúng yêu cầu của A với tổng giá
trị trọn gói (đã bao gồm thuế GTGT) là 236.060.000 đồng.
+ Giá trị A chưa thanh toán: 236.060.000 đồng.
+ Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 145.530.990 đồng.
* Vì vậy, căn cứ Điều 4, Điều 30 và Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều
306 Luật Thương mại, Án lệ 09/2016/AL ngày 17/10/2016 và Nghị quyết
01/2019/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân Tối cao, Công ty Cổ phần G kính đề
nghị Tòa án nhân dân Khu vực Y- Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết buộc
Công ty A phải thanh toán các hợp đồng dịch vụ nêu trên cho nguyên đơn là
6
45.115.365.716 đồng và lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 23.827.179.027
đồng.
1.2. Đối với các Hợp đồng nguyên đơn và bị đơn đã xác nhận giá trị
công nợ và lãi chậm trả, kính nghị quý Tòa ghi nhận sự thỏa thuận bao gồm:
1.2.1. Hợp đồng số PVMS.0119034 ngày 19/11/2019:
- Giá trị công việc hoàn thành đã bao gồm thuế GTGT là 1.424.970.085 đồng
- Giá trị A đã thanh toán là: 543.588.034 đồng.
- Giá trị A chưa thanh toán: 881.382.051 đồng
- Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 596.950.445 đồng.
1.2.2. Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày 25/11/2019:
- Giá trị công việc hoàn thành đã bao gồm thuế GTGT là 497.492.554 đồng
- Giá trị A đã thanh toán là: 198.997.021 đồng.
- Giá trị A chưa thanh toán: 298.495.533 đồng
- Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 198.081.635 đồng.
1.2.3. Hợp đồng số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020
- Giá trị công việc hoàn thành đã bao gồm thuế GTGT là 654.634.200 đồng
- Giá trị A chưa thanh toán: 654.634.200 đồng
- Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 391.013.008 đồng.
1.2.4. Hợp đồng số SO.0319/HCNS/2009 ký ngày 26/8/2019
- Tổng giá trị tiền thuê văn phòng từ ngày 01/10/2020 đến hết ngày
30/6/2021 là: 960.718.744 đồng
- A đã thanh toán: 467.408.700 đồng.
- Số tiền A chưa thanh toán là: 493.310.044 đồng
- Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 194.806.853 đồng
1.2.5. Hợp đồng số PVMS.0120018 ký ngày 28/5/2020
- Giá trị thực hiện đã bao gồm thuế GTGT là 2.566.228.500 đồng
- Giá trị A chưa thanh toán: 2.566.228.500 đồng
- Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 1.665.902.654 đồng
1.2.6. Hợp đồng số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021
- Giá trị thực hiện đã bao gồm thuế GTGT là 194.054.922 đồng
- Giá trị A chưa thanh toán: 194.054.922 đồng
- Lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 102.286.349 đồng
7
Công ty A xác nhận và đồng ý thanh toán nợ cho Công ty PV Shipyard là
5.088.105.250 đồng và lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 3.149.040.944
đồng.
Tổng cộng: 5.088.105.250 đồng + 3.149.040.944 đồng = 8.237.146.194
đồng (Tám tỷ hai trăm ba mươi bảy triệu, một trăm bốn mươi sáu nghìn một
trăm chín mươi bốn đồng).
1.3. Ngoài các hợp đồng hai bên đã thống nhất được về nợ gốc và lãi nêu
trên, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền
chưa thanh toán: 42.277.644.344 đồng và lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026
là 20.678.138.082 đồng bao gồm:
+ Hợp đồng số PVMS.0119029 chưa thanh toán là: 10.375.762.024 đồng
và lãi chậm trả là 6.163.047.100 đồng.
+ Hợp đồng số PVMS.0119028 chưa thanh toán là: 28.234.048.328 đồng
đồng và lãi chậm trả là 13.675.587.967 đồng.
+ Hợp đồng số AS-LSP-002/02 ngày 12/9/2019 chưa thanh toán là:
1.181.390.115 đồng và lãi chậm trả là 693.761.692 đồng.
+ Dịch vụ nâng hạ hàng tại cảng PV Shipyard (bản chào giá số
129/20/TM&PTKD-CG và biên bản nghiệm thu ngày 04/7/2020 chưa thanh
toán: 236.060.000 đồng và lãi chậm trả là 145.530.990 đồng.
1.4. Chấp thuận một phần yêu cầu của bị đơn giảm trừ số tiền vật tư phế
liệu là: 289.367.558 đồng trừ trực tiếp vào giá trị hợp đồng.
1.5 Đối với các yêu cầu phản tố của bị đơn, nguyên đơn có ý kiến như sau:
1.5.1 Đối với Hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 Về giá trị A
còn nợ PV Shipyard: A đã thừa nhận tại Đơn bổ sung yêu cầu phản tố đề ngày
02/11/2022, bản tự trình bày đề ngày 18/11/2022, Biên bản hòa giải ngày
31/3/2023, Biên bản hòa giải ngày 22/6/2023 là 10.375.762.024 đồng.
Về yêu cầu phản tố của A (Đơn phản tố đề ngày 03/8/2020) buộc PV
Shipyard phải trả A số tiền là 3.073.409.318 đồng gồm: (i) Giá trị vật tư ống
không hoàn trả là 2.784.041.760 đồng và (ii) Phế liệu là 289.367.558 đồng.
Đối với vật tư phế liệu: với thiện chí hòa giải và nhằm thúc đẩy tiến độ giải
quyết vụ án, chúng tôi đã chấp nhận giá trị là 289.367.558 đồng, khấu trừ vào
khoản nợ của A.
Đối với yêu cầu phân bổ 60% giá trị vật tư ống mà A cho rằng A chưa hoàn
trả cho E (nếu có), chúng tôi không chấp nhận, lý do:
- A và E ký kết các Hợp đồng gia công chế tạo Module và đường ống
(AGP) các gói B, C dự án Tổ hợp lọc hóa dầu L6. Theo đó, A có nghĩa vụ nhận
vật tư chính (ống, phụ kiện, ...) từ E, gia công chế tạo, giao sản phẩm và hoàn trả
vật tư không sử dụng (nếu có) cho E. A giao một phần công việc trên cho PV
Shipyard theo Hợp đồng số PVMS.0119029 và PVMS.0119028. Như vậy việc
8
giao nhận vật tư, sản phẩm, hoàn trả vật tư thừa (nếu có) giữa A và E do A thực
hiện, PV Shipyard không có quyền giao nhận, kiểm tra, kiểm đếm.
- Theo Hợp đồng giữa PV Shipyard và A:
+ A chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý vật tư: Mục 4.1.h tài liệu
đính kèm số 02 sửa đổi Hợp đồng số 01 quy định về phạm vi công việc như sau:
Material control: A Main Responsibility (tạm dịch: Kiểm soát vật tư: A chịu
trách nhiệm chính).
+ Cũng theo quy định của Hợp đồng, vật tư không chỉ lưu trữ tại kho/bãi
của PV Shipyard mà còn lưu trữ vật tư tại khu vực lưu trữ của A, trường hợp lưu
trữ tại khu vực của A, A còn phải trả PV Shipyard phí nâng hạ.
- Trên thực tế, vật tư được A quản lý, điều phối các hạng mục do A thực
hiện và các hạng mục do PV Shipyard, cả gói B và gói C. Việc lưu trữ, triển
khai thực hiện chế tạo không chỉ trong khu vực do PV Shipyard quản lý mà cả A
quản lý. Tại phiên Tòa A đã thừa nhận vật tư được sử dụng chung.
- Theo các biên bản bàn giao trả vật tư của A và E, đối chiếu với phần mềm
quản lý FMCS, chúng tôi xác định được số lượng vật tư không sử dụng đã được
A hoàn trả đủ cho E.
- Mặc dù không thuộc trách nhiệm của mình, không tham gia quá trình giao
nhận. Tuy nhiên, khi được A cung cấp số liệu giao trả vật tư, chúng tôi đã nhiều
lần yêu cầu A gửi dữ liệu và đề xuất họp ba bên E - A - CTGK (các Văn bản số
0323/21/CTGK-TM&PTKD ngày 25/5/2021; số 0050/21/F-CTGK-TM&PTKD
ngày 28/8/2021; số 0063/21/F-CTGK-TM&PTKD ngày 05/10/2021, sô
0066/21/F-CTGK-TM&PTKD ngày 11/10/2021; số 0714/21/CTGK-TM&PTKD
ngày 13/10/2021, Biên bản họp ngày 21/12/2021 và Văn bản số 005/22/F-
CTGK-TM&PTKD ngày 16/02/2022) để làm rõ với E nhưng A không hợp tác.
Như vậy, A là người tiếp nhận, quản lý, điều phối vật tư, các vật tư này
dùng để gia công chung cho các gói thầu. Sau khi thi công, vật tư không sử dụng
đã được A trả đầy đủ cho E. Do đó, A yêu cầu PV Shipyard phải bồi thường số
vật tư không hoàn trả là không có cơ sở (thực tế A đã hoàn trả E).
Về yêu cầu phản tố của A buộc PV Shipyard phải trả khoản tiền là
1.560.175.900 đồng theo phát sinh hợp đồng, văn bản sửa đổi Hợp đồng số 06:
Theo thỏa thuận giữa hai bên tại Hợp đồng (sửa đổi số 06), A phải cung cấp
cho PV Shipyard các hồ sơ, tài liệu: (i) Hóa đơn GTGT, (ii) Biên bản xác nhận khối
lượng, (iii) Biên bản xác nhận giá trị. Tuy nhiên, A không cung cấp bất kỳ hồ sơ
chứng từ nào, đặc biệt, việc không có biên bản xác nhận khối lượng nên không xác
định được công việc mà A đã thực hiện (nếu có).
Như vậy, giá trị A còn phải trả cho PV Shipyard theo Hợp đồng số
PVMS.0119029 là:
- Nợ gốc: 10.375.762.024 đồng.
9
Được tính theo công thức: 10.375.762.024 đồng (A thừa nhận) -
289.367.558 đồng (vật tư phế liệu) = 10.086.394.466 đồng.
- Lãi chậm trả tạm tính đến ngày 25/3/2026 là: 6.163.047.100 đồng.
1.5.2. Đối với Hợp đồng số PVMS.0119028
- Về khối lượng công việc: A đã ký xác nhận toàn bộ khối lượng công việc
hoàn thành.
- Về giá trị thực hiện là: 94.490.742.581 đồng, được tính trên cơ sở khối
lượng được A xác nhận (11 đợt nghiệm thu) nhân với đơn giá tương ứng trong
hợp đồng theo Điều 3 Hợp đồng.
Do đó A chỉ thừa nhận còn nợ đối với công việc đã xuất hóa đơn là
11.936.216.203 đồng và 11.688.706.744 đồng (đợt nghiệm thu thứ 11) là không
đúng thực tế và quy định của hợp đồng.
A đã thanh toán 67.810.921.498 đồng.
Số tiền còn nợ là 28.234.048.328 đồng.
(Tại Đơn khởi kiện ngày 24/5/2022, nguyên đơn đã khấu trừ khoản tiền
2.691.844.816 đồng (mục (iv) giá trị phát sinh giảm nêu trên) theo tinh thần
công văn số 007/22/F-CTGK-TM&PTKD ngày 02/3/2022. Tuy nhiên, tại yêu
cầu phản tố ngày 03/11/2022, giá trị bị đơn yêu cầu giảm trừ trùng với giá trị
trên. Do đó, nguyên đơn tách phần giảm trừ này ra theo yêu cầu phản tố của bị
đơn. Sau khi tách, giá trị Bị đơn còn nợ Nguyên đơn theo Hợp đồng số
PVMS.0119028 là: 27.792.587.389 đồng + 2.691.844.816 đồng =
30.484.432.205 đồng).
Căn cứ Điều 6.3 Hợp đồng số PVMS.0119028 quy định: "Phần thanh toán
theo tiến độ (hàng tháng):
Chín mươi lăm phần trăm (95%) tổng giá trị hoàn thành thực tế theo tiến
độ hàng tháng sẽ được Bên A thanh toán cho Bên B bằng hình thức chuyển
khoản trong vòng 50 ngày...".
- Về yêu cầu phản tố buộc nguyên đơn phải hoàn trả số tiền 15.952.528.582
đồng, gồm:
STT Hạng mục Thành tiền
(VND)
Ý kiến của nguyên đơn
01 Anchor Bolt/ Bu-lông
móng
7.987.500 Nguyên đơn đã bàn giao cho bị đơn,
do đó yêu cầu khấu trừ này không có
căn cứ
02 Anchor Bolt (HILTI)/ Bu-
lông móng
683.431.809
03 QC inspector/ Nhân sự
giám sát chất lượng
1.552.202.718 Hợp đồng gia công chế tạo, hoàn
thành và bàn giao sản phẩm. Không
có quy định cho phép nhân sự của A
v
à
o
l
à
m
thay
nh
â
n
s
ự
c
ủ
a
PV
10
Shipyard.
04 Spool lỗi (Defect list)/
Ống bị lỗi
2.399.009.428 Các Biên bản bàn giao nghiệm thu
tổng thể từ đợt 1, ngày 07/7/2020 đến
đợt 10, ngày 01/6/2021 đều ghi “Hai
bên xác nhận việc thực hiện đến thời
điểm ký kết biên bản này là đạt yêu
cầu kỹ thuật và chất lượng như quy
định trong Hợp đồng đã ký kết”. Như
vậy việc Bị đơn cho rằng spool lỗi là
không có cơ sở.
05 Cung cấp nhân lực gói
AGP
439.078.787 Giữa Bị đơn và Nguyên đơn không có
bất kỳ thỏa thuận nào, biên bản họp
ngày 10/3/2021 chỉ nêu Bị đơn có
trách nhiệm hỗ trợ thủ tục ra vào cảng.
Do đó, không có căn cứ để xác định A
cung cấp nhân lực.
06 Supply manpower for
Packing
3.591.548.202 Bị đơn và Nguyên đơn không có thỏa
thuận cụ thể về nhân lực, chi phí,
không có xác nhận về nhân lực, máy
móc, phương tiện.
07 Missing spool (Fab done)/
Ống bị mất sau khi chế tạo
209.671.773 Sản phẩm (Spool) đã bàn giao đầy đủ,
A đã ký các Biên bản nghiệm thu.
08 Missing spool (DI)/ Sản
phẩm bị mất trước khi chế
tạo
334.971.782 Sản phẩm (Spool) đã bàn giao đầy đủ,
A đã ký các Biên bản nghiệm thu.
09 Vật tư ống chưa hoàn trả 6.734.626.583 Yêu cầu của Bị đơn không có căn cứ
như đã trình bày ý kiến về vật tư ống
chưa hoàn trả đối với Hợp đồng
PVMS.0119029 (yêu cầu vật tư ống
chưa hoàn trả Hợp đồng vật tư ống
dùng chung cho cả Nguyên đơn và Bị
đơn, cho cả gói AGP và Module).
Như vậy, yêu cầu của Bị đơn về hoàn trả số tiền 15.952.528.582 đồng là
không có căn cứ.
- Về yêu cầu của bị đơn đối với chi phí hoàn thiện hồ sơ chất lượng là
516.501.119 đồng.
Khi bị đơn có văn bản yêu cầu cung cấp hồ sơ chất lượng, nguyên đơn đã
có các văn bản và thư điện tử thông báo cho bị đơn về việc đã hoàn thành hồ sơ
chất lượng đề nghị bị đơn hoàn trả toàn bộ giá trị còn nợ (tại thời đểm này khoản
nợ của riêng hợp đồng này 30.484.432.205 đồng) trước khi nhận hồ sơ chất
lượng (Văn bản số 0065/21/F-CTGK-KTSX ngày 07/10/2021 email ngày
12/6/2021 và ngày 25/9/2021). Tuy nhiên, nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán,
bị đơn đã tự lập hồ sơ chất lượng để giao trả cho E.
11
Căn cứ khoản 2 Điều 411 Bộ luật Dân sự quy định về quyền hoãn thực
hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ như sau: "Bên phải thực hiện nghĩa vụ
sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước
chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn."
Do bị đơn vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ đến
hạn, nguyên đơn buộc phải tạm dừng giao hồ sơ chất lượng để buộc bị đơn phải
thực nghĩa vụ thanh toán là phù hợp với quy định của pháp luật. Việc bị đơn tự
lập hồ sơ chất lượng nhằm mục đích và để không thực hiện nghĩa vụ theo quy
định của hợp đồng. Do đó, yêu cầu phản tố của Bị đơn đối với nội dung trên là
không có căn cứ và trái pháp luật.
Như vậy, bị đơn đã vi phạm điều khoản thanh toán của hợp đồng khi không
thanh toán cho PV Shipyard số tiền nợ gốc là 28.234.048.328 đồng và tiền lãi
chậm trả tạm tính đến ngày 25/3/2026 là 13.675.587.967 đồng.
1.5.3. Đối với Hợp đồng số AS-LSP-002/02 ký ngày 12/9/2019 được sửa
đổi tại Bản sửa đổi số 02 ngày 10/4/2020 có giá trị trọn gói của hợp đồng là
1.263.945.365 đồng.
PV Shipyard đã hoàn thành toàn bộ công việc theo đúng quy định của Hợp
đồng, được A nghiệm thu và hai bên đã quyết toán hợp đồng với chi tiết như sau:
- Giá trị hợp đồng: 1.263.945.365 đồng.
- Giá trị thực hiện (đã quyết toán): 1.263.945.365 đồng.
- Giá trị đã thanh toán: 82.555.250 đồng.
- Giá trị A còn phải thanh toán: 1.181.390.115 đồng.
Việc A phản tố yêu cầu PV Shipyard phải thanh toán cho A số tiền là
3.037.733.487 đồng là trái thỏa thuận của hai bên tại hợp đồng.
Như vậy, giá trị A phải thanh toán cho PV Shipyard:
- Giá trị A còn phải thanh toán: 1.181.390.115 đồng.
- Lãi chậm trả (tính đến ngày 25/3/2026) là: 693.972.025 đồng.
1.5.4. Đối với 07 Hợp đồng, giao dịch khác, gồm: (i) Hợp đồng số
PVMS.0119034 ngày 19/11/2019 về việc thi công điện lực cho nhà xưởng; (ii)
Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày 25/11/2019 về việc cung cấp dịch vụ thi
công đèn chiếu sáng nhà xưởng, (iii) Hợp đồng số PVMS.0120016 ngày 02/5/2020
về việc cung cấp dịch vụ thi công hệ thống phòng cháy chữa cháy nhà xưởng; (iv)
Hợp đồng số SO.0319/HCNS/2019 ký ngày 26/8/2019 về việc thuê mặt bằng văn
phòng tòa nhà PV Shipyard (bao gồm các phụ lục sửa đổi); (v) Hợp đồng số
PVMS.0120018 ký ngày 28/5/2020 về việc thuê thi công chế tạo Stick-Built; (vi)
Hợp đồng số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021 về việc làm sạch và sơn kết cấu dự
án Tổ hợp hoá dầu miền Nam Việt Nam; và (vii) Dịch vụ nâng hạ hàng tại cảng PV
Shipyard (Bản chào giá số 129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020 và Biên bản
nghiệm thu ngày 04/7/2020). Trong quá trình hòa giải (Biên bản hòa giải 31/3/2025)
12
và các văn bản trình bày ý kiến, đơn phản tố, A đã thừa nhận A còn nợ PV
Shipyard số tiền là 5.324.165.250 đồng.
Tại phiên tòa, A "đổi ý" chỉ thừa nhận còn nợ PV Shipyard tại 06 hợp đồng
giao dịch, không chấp nhận giá trị dịch vụ nâng hạ hàng là 236.060.000 đồng.
PV Shipyard có ý kiến như sau:
- Theo yêu cầu của A, PV Shipyard đã có chào giá số 129/20/TM&PTKD
ngày 02/7/2021. Chào giá của PV Shipyard bao gồm đơn giá các dịch vụ làm
hàng tại cảng và neo đậu tại cảng. Các dịch vụ này là hoạt động hàng ngày của
cảng (khi tàu/hàng vào, làm hàng theo yêu cầu, giải phóng phương tiện, cầu bến).
Trước đó, A và PV Shipyard đã có Hợp đồng số PVMS.0119006 có đơn giá
thiết bị này.
- Ngày 04/7/2020, PV Shipyard hoàn thành việc làm hàng cho A theo mục
B Chào giá. Biên bản nghiệm thu đã thể hiện hai bên "Căn cứ vào bản chào giá
số 129/20/TM&KDTM về việc cung cấp cẩu bánh xích ký ngày 02/7/2020".
- Trong suốt nhiều năm qua, A đã thừa nhận khối lượng và giá trị dịch vụ
mà PV Shipyard đã cung cấp. Ngay cả trong suốt quá trình Tòa giải quyết vụ án,
A đều thừa nhận giá trị này.
Như vậy, giao dịch cung cấp dịch vụ nâng hạ hàng tại cảng đã được A chấp
thuận trên cơ sở tự nguyện, A có nghĩa vụ phải trả tiền dịch vụ. Tổng giá trị A
còn nợ PV Shipyard đối với 07 Hợp đồng, giao dịch là:
- Nợ gốc: 5.324.165.250 đồng.
- Lãi chậm trả (tính đến 25/3/2026) là: 3.294.571.934 đồng.
1.5.5. Đối với yêu cầu phản tố yêu cầu bù trừ nghĩa vụ thanh toán Hợp
đồng SO.0116017-DV026 ngày 19/4/2016 Dự án Thái Bình 2.
“Về việc: Cung cấp dịch vụ nhà xưởng, máy móc thiết bị, nhân lực, gia
công chế tạo hệ thống tiếp nhận than và đá vôi” với số tiền nợ gốc là
4.279.000.000 đồng và tiền lãi (tạm tính từ ngày 05/7/2021 đến 14/11/2022) là
699.272.819 đồng.
PV Shipyard và Công ty Cổ phần Lisemco 2 (sau này đổi tên thành Công ty
Cổ phần A) ký Hợp đồng số SO.0116017-DV026 về việc cung cấp dịch vụ nhân
lực gia công chế tạo hệ thống tiếp vận than và đá vôi (gồm các phụ lục kèm theo).
PV Shipyard đã tạm ứng số tiền là 1.000.000.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 9.2.1 Hợp đồng (đã được sửa đổi tại Điều 6 Phụ lục
8 ký ngày 20/7/2018) “Bên A thanh toán đến 95% giá trị khối lượng công việc
hoàn thành đã được chủ đầu tư/Tổng thầu/ Bên A nghiệm thu theo phạm vi công
việc của Hợp đồng trong thời gian hai mươi (20) ngày kể từ ngày nhận được đầy
đủ bộ hồ sơ thanh toán của Bên B”
“Điều 9.2.2. Hồ sơ thanh toán:
- Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành theo quy định của pháp luật,
của Chủ đầu tư/khách hàng;
13
- Công văn đề nghị thanh toán của Bên B;
- Bảng giá trị đề nghị thanh toán của Bên B thể hiện: Giá trị hoàn thành
theo Hợp đồng; Giảm trừ giá trị tạm ứng; giá trị đề nghị thanh toán trong giai
đoạn sau khi đã trừ tạm ứng Giá trị đề nghị thanh toán trong giai đoạn sau khi đã
trừ tạm ứng có xác nhận của đại diện bên A và Bên B;
- Hóa đơn GTGT hợp pháp”
Tuy nhiên, các hồ sơ mà A đã cung cấp gồm:
- Bảng xác nhận giá trị sai số hợp đồng, không xác định được ngày ký;
- Hóa đơn GTGT sai nội dung tên hàng hóa dịch vụ;
- Biên bản bàn giao sản phẩm và bán sản phẩm ngày 16/6/2021 ghi tên bên
nhận là PVC MS không phải là PV Shipyard;
- Biên bản bàn giao vật tư/thiết bị ngày 06/8/2021 ghi tên bên nhận là PVC
MS không phải là PV Shipyard.
Trong quá trình hòa giải tại Tòa chúng tôi đã nhiều lần đề nghị A hoàn
thiện hồ sơ thanh toán theo đúng quy định của pháp luật nhưng A không thực
hiện. Như vậy, theo quy định của Hợp đồng, A chưa đủ điều kiện thanh toán
Hợp đồng, chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán của PV Shipyard và đương nhiên
chưa phát sinh nghĩa vụ chậm trả.
1.5.6. Đối với yêu cầu của Công ty TNHH TMC Nghi S1 (viết tắc là TMC
Nghi Sơn)
Ngày 20/11/2019 PV Shipyard và Công ty Cổ phần A ký Hợp đồng số
PVMS.0119028 cung cấp vật tư, gia công chế tạo giá đỡ ống, chế tạo ống; làm
sạch, sơn và vận chuyển giá đỡ ống, ống tới công trường Tổ hợp hóa dầu L6
thuộc dự án Tổ hợp Hóa dầu L6.
Để thực hiện một phần công việc trên, năm 2020, PV Shipyard và TMC
Nghi Sơn ký Hợp đồng số SO.0120008-DV047 về việc thuê dịch vụ thi công
chế tạo AG Piping gói AGP ngày 22/01/2020, hai bên ký sửa đổi hợp đồng số 1
có nội dung sửa đổi điều khoản thanh toán Hợp đồng số SO.0120008-DV047.
Tổng giá trị hợp đồng tạm tính là: 13.423.950.000 đồng (chưa bao gồm 10%
thuế GTGT);
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty A đã yêu cầu PV Shipyard
phải giảm trừ số tiền khoảng 16.000.000.000 đồng trong đó có phần giá trị nằm
trong phạm vi Hợp đồng SO.0120008-DV047. Do đó, ngày 04/01/2022, PV
Shipyard đã có Văn bản số 0007/22/CTGK-TM& PTKD thông báo về giá trị
khấu trừ tương ứng (tạm tính) là 3.002.512.299 đồng, đề nghị TMC Nghi Sơn có
giải trình đến A.
Tại biên bản cuộc họp ngày 01/4/2022, hai bên đã thống nhất TMC Nghi
Sơn đồng ý khấu trừ hạng mục cung cấp nhân lực cho phân loại spool lỗi
158.068.363 đồng, giá trị khấu trừ còn lại hai bên thống nhất cùng phối hợp làm
việc với A để giải quyết, riêng mục NDT kiểm tra lại.
14
Ngày 26/7/2022, có văn bản số 0433/22/CTGK-TM&PTKD đề nghị TMC
Nghi Sơn cùng phối hợp làm việc với Tòa án và A. Tuy nhiên, thay vì phối hợp
thanh quyết toán hợp đồng, phối hợp làm việc với các bên liên quan như TMC
Nghi Sơn đã gửi Văn bản số 2807/2022/TMC-PVSHIPY AD, thì TMC Nghi
Sơn đã gửi thông báo ngày 25/5/2022 về việc đã ủy quyền cho Công ty Cổ phần
mua bán nợ Hưng Thịnh với lời lẽ có tính chất đe dọa “Công ty Cổ phần mua
bán nợ Hưng Thịnh được toàn quyền sử dụng mọi biện pháp nghiệp vụ không
trái quy định để thực hiện công việc theo ủy quyền của chúng tôi”.
Hiện nay, tổng giá trị TMC Nghi Sơn đã phát hóa đơn là 12.044.982.758
đồng (đã bao gồm 10% thuế GTGT).
Giá trị PV Shipyard đã thanh toán là: 8.816.399.344 đồng;
Giá trị tạm khấu trừ (tạm tính) là: 3.002.512.299 đồng.
Giá trị còn lại phải thanh toán: 12.044.982.758 đồng - 8.816.399.344 đồng
- 3.002.512.299 đồng = 226.071.115 đồng.
Trên cơ sở đó, PV Shipyard kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét,
quyết định:
(1). Chấp nhận yêu cầu của PV Shipyard, buộc A phải thanh toán cho PV
Shipyard số tiền nợ gốc là 47.365.749.593 đồng và tiền lãi chậm trả (tạm tính
đến ngày 25/3/2026) là 23.827.179.027 đồng, cụ thể:
- Hợp đồng số PVMS.0119029:
+ Nợ gốc: 10.375.762.024 đồng;
+ Tiền lãi chậm trả là: 6.163.047.100 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0119028:
+ Nợ gốc: 28.234.048.328 đồng;
+ Tiền lãi chậm trả là: 13.675.587.967 đồng.
Hợp đồng số AS-LSP-002/02 ngày 12/9/2019 về việc cung cấp mô hình 3D,
triển khai các bản vẽ thi công Module Pipe Rack và Module công nghệ:
+ Nợ gốc: 1.181.390.115 đồng;
+ Tiền lãi chậm trả là: 693.972.025 đồng.
- Các hợp đồng còn lại (Hợp đồng số PVMS.0119034 ngày 19/11/2019 về
việc thi công điện, động lực cho nhà xưởng; Hợp đồng số PVMS.0119030 ký
ngày 25/11/2019 về việc cung cấp dịch vụ thi công đèn chiếu sáng nhà xưởng;
Hợp đồng số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020 về việc cung cấp dịch vụ thi
công hệ thống phòng cháy chữa cháy nhà xưởng; Hợp đồng số
SO.0319/HCNS/2009 ký ngày 26/8/2019 về việc Thuê mặt bằng văn phòng tòa
nhà PV Shipyard (bao gồm các phụ lục sửa đổi); Hợp đồng số PVMS.0120018
ký ngày 28/5/2020 về việc Thuê thi công chế tạo Stick-Built; Hợp đồng số
PVMS.0121006 ngày 18/3/2021 về việc làm sạch và sơn kết cấu Dự án Tổ hợp
Hóa dầu Miền Nam Việt Nam; Dịch vụ nâng hạ hàng tại cảng PV Shipyard (Bản
15
chào giá số 129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020 và Biên bản nghiệm thu
ngày 04/7/2020):
+ Nợ gốc: 5.324.165.250 đồng;
+ Tiền lãi chậm trả là: 3.294.571.934 đồng.
(2). Buộc A tiếp tục phải trả cho PV Shipyard tiền lãi chậm trả tương ứng
với giá trị chậm trả cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ thanh toán.
(3). Không chấp nhận các yêu cầu phản tố của A đối với Hợp đồng số
PVMS.0119029, Hợp đồng số PVMS.0119028 và Hợp đồng số AS-LSP-002/02.
Không chấp nhận yêu cầu của A về lãi chậm trả Hợp đồng số SO.0116017-
DV026, buộc A phải hoàn thiện hồ sơ, chứng từ, phát hành hóa đơn theo đúng
quy định đối với Hợp đồng số SO.0116017-DV026.
(4). Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty TNHH TMC Nghi S1.
2. Đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công
ty Cổ phần A trình bày:
2.1 Theo nội dung các đơn khởi kiện và ý kiến trình bày của PV Shipyard
tại phiên tòa ngày 07/11/2025 và ngày 25/3/2026, PV Shipyard đề nghị Tòa án
giải quyết tranh chấp liên quan đến 10 hợp đồng, buộc Công ty A phải trả cho
PV Shipyard số tiền nợ gốc là 45.115.365.717 đồng và tiền lãi chậm trả đến
ngày 25/3/2026 là 23.827.179.027 đồng, cụ thể:
- Hợp đồng PVMS.0119029 ký ngày 10/11/2019 số tiền nợ gốc là
10.375.762.024 đồng;
- Hợp đồng PVMS.0119028 ngày 20/11/2019 về việc cung cấp vật tư, gia
công chế tạo giá đỡ ống, chế tạo ống; làm sạch, sơn và vận chuyển giá đỡ ống,
ống tới công trường Tổ hợp hóa dầu L6 thuộc dự án Tổ hợp Hóa dầu L6, nguyên
đơn yêu cầu bị đơn phải trả là: 28.234.048.328 đồng, trong đó đã bao gồm giá trị
hoàn thành đợt 11 phía nguyên đơn đưa ra là 16.297.832.124 đồng nhưng bị đơn
chưa xác nhận số tiền này;
- Hợp đồng AS-LSP-002/02 ngày 12/9/2019 về việc cung cấp mô hình 3D,
triển khai các bản vẽ thi công Module Pipe Rack và Module công nghệ. Số tiền
1.181.390.115 đồng;
- Hợp đồng PVMS.0119034 ngày 19/11/2019 về việc thi công điện, động
lực cho nhà xưởng. Số tiền: 881.382.051 đồng;
- Hợp đồng PVMS.0119030 ngày 25/11/2019 về việc cung cấp dịch vụ thi
công đèn chiếu sáng nhà xưởng. Số tiền: 298.495.533 đồng;
- Hợp đồng PVMS.0120016 ngày 02/05/2020 về việc cung cấp dịch vụ thi
công hệ thống phòng cháy chữa cháy nhà xưởng. Số tiền: 654.634.200 đồng;
- Hợp đồng SO.0319/HCNS/2009 ngày 26/8/2019 về việc thuê mặt bằng
văn phòng tòa nhà PV Shipyard. Số tiền 493.310.033 đồng;
16
- Hợp đồng PVMS.0120018 ngày 28/5/2020 về việc thuê thi công chế tạo
Stick-Built. Số tiền 2.566.228.500 đồng;
- Hợp đồng PVMS.0121006 ngày 18/3/2021 về việc làm sạch và sơn kết
cấu dự án tổ hợp hóa dầu miền nam Việt Nam. Số tiền 194.054.922 đồng;
- Dịch vụ nâng hạ tại cảng PV Shipyard (bản chào giá số 129/20/TM&PTKD-
CG ngày 02/7/2020). Số tiền 236.060.000 đồng. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án và kết quả hỏi công khai tại phiên tòa ngày 07/11/2025 và
ngày 25/3/2026, A cho rằng không có đủ căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của PV Shipyard đối với các hợp đồng PVMS.0119029, PVMS.0119028 và
Dịch vụ nâng hạ tại cảng PV Shipyard. Bởi lẽ:
Thứ nhất, về hợp đồng PVMS.0119029:
Hiện nay PV Shipyard khởi kiện và yêu cầu Công ty A thanh toán cho PV
Shipyard số tiền là 10.375.762.024 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, A ghi nhận và nhất trí về giá trị khối lượng mà
PV Shipyard đã thực hiện liên quan đến hợp đồng này. Tuy nhiên, việc A ghi
nhận và nhất trí về giá trị khối lượng PV Shipyard đã thực hiện, không đồng
nghĩa với việc đây là giá trị quyết toán mà A phải thanh toán cho PV Shipyard.
Theo quy định tại Điều 22, Nghị định 37/2015/NĐ-CP quy định chi tiết về
hợp đồng xây dựng, thì quyết toán hợp đồng xây dựng được hiểu là quá trình
kiểm tra, xác nhận và chốt toàn bộ giá trị thanh toán cuối cùng giữa bên giao thầu
và bên nhận thầu sau khi công trình hoặc hạng mục công trình đã hoàn thành theo
hợp đồng. Nói cách khác, đây là bước tính toán, đối chiếu toàn bộ chi phí thực
hiện (khối lượng, đơn giá, phát sinh, điều chỉnh) để xác định số tiền mà các bên
còn phải thanh toán cho nhau, làm cơ sở thanh lý hợp đồng. Nhưng trong vụ án
này, hiện nay PV Shipyard đang đưa ra số liệu và buộc A phải ghi nhận và thanh
toán số liệu đó mà không xem xét đến các giá trị phát sinh khác mà PV Shipyard
phải thực hiện với A. Việc làm này của PV Shipyard là không tuân thủ nguyên tắc
trong việc thanh, quyết toán hợp đồng.
Theo đó, A cho rằng việc PV Shipyard đề nghị Tòa án buộc A phải thanh
toán cho PV Shipyard giá trị khối lượng công việc mà PV Shipyard đã thực hiện
tương ứng với số tiền 10.375.762.024 đồng mà không khấu trừ cho A các khoản
giá trị phát sinh giảm hợp đồng, giá trị vật tư dư thừa không thể hoàn trả là
không phù hợp với quy định của pháp luật và nguyên tắc thanh, quyết toán hợp
đồng.
Thứ hai, về hợp đồng PVMS.0119028:
Hiện nay, PV Shipyard đang đề nghị A phải thanh toán cho PV Shipyard số
tiền 28.234.048.328 đồng, trong đó đã bao gồm giá trị hoàn thành đợt 11 phía
nguyên đơn đưa ra là 16.297.832.124 đồng nhưng bị đơn chưa xác nhận số tiền
này.
17
Liên quan đến yêu cầu khởi kiện này của PV Shipyard, A cho rằng không
có đủ căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của PV Shipyard về hợp
đồng này. Bởi lẽ:
Thứ nhất, quá trình giải quyết vụ án này đã xác định được, hiện A mới chỉ
xác nhận khối lượng công việc mà PV Shipyard đã thực hiện, chưa xác nhận về
giá trị.
Thứ hai, trong các hạng mục công việc mà PV Shipyard đưa ra thì một số
hạng mục không có đơn giá và một số hạng mục thực hiện dở dang dẫn đến A
phải hoàn thiện nốt công việc còn lại trong khi đơn giá giao là trọn gói, cụ thể
như sau:
a. Các hạng mục PV Shipyard đưa ra chưa có giá trong hợp đồng
S
T
T
HẠNG MỤC PVMS ĐƯA RA CHƯA CÓ ĐƠN GIÁ TRONG HỢP ĐỒNG
Mã công
việc
Hạng
mục
Khối lượng
hoàn thành
(đã được xác
nhận)
Đơn giá
do PV
Shipyard
tự xác
định
Đơn giá A
đề xuất
Giá trị thành
tiền PV
Shipyard đề
xuất
Giá trị
thành
tiền A đề
xuất
I/ Gói B - HDPE
1
BD01A
A-0001
NDE,
MAGNETIC
TEST
- 43,50 26,63 305.501,00 -
2
BD02A
A-0001
NDE, PMI
TEST
- 64.322,00 39.373,34 95.711.136,00 -
3
BD03A
A-0001
NDE,
LIQUID
PENETRATI
ON TEST
- 43,50 26,63 78.561,00 -
4
BD04A
A-0001
NDE,
RADIOGRA
PHIC TEST
- 8.927,50 5.464,78 118.887.518,00 -
5
BE01A
A-0001
PWHT - 218.841,00 133.958,86 78.837.470,00 -
II/ Gói C - PP
7
BA01AC
-003F
SHOP
FAB.,
WELDING,
S/S
3 267.375 163.668 855.600 523.737
18
8
BA01AC
-000M
SHOP
FAB.,
WELDING,
S/S
- 267.375 163.668 - -
9
BD01AA
-0001
NDE,
MAGNETI
C TEST
- 44 27 164.517 -
10
BD02AA
-0001
NDE, PMI
TEST
- 64.322 39.373 77.250.722 -
11
BD03AA
-0001
NDE,
LIQUID
PENETRAT
ION TEST
- 44 27 72.950 -
12
BD04AA
-0001
NDE,
RADIOGR
APHIC
TEST
- 8.928 5.465 102.398.425 -
Tổng cộng giá trị khối lượng chưa có đơn giá: 474.562.400,00 523.737
Theo đó, các hạng mục không có đơn giá trên đây PV Shipyard đều không được
xác nhận khối lượng trừ mục STT 7, nên A không có căn cứ để chi trả giá trị hoàn
thành cho PV Shipyard.
b. Các hạng mục PV Shipyard thực hiện dở dang, A phải hoàn thiện công
việc còn lại:
S
T
T
HẠNG MỤC PV Shipyard ĐƯA RA CHƯA CÓ ĐƠN GIÁ TRONG HỢP ĐỒNG
Mã
công
việc
Hạng mục
Khối
lượng
hoàn
thành
(đã được
xác nhận)
Đơn giá
do PV
Shipyard
tự xác
định
Đơn giá A
đề xuất
Giá trị
thành tiền
theo đơn
giá PV
Shipyard đề
xuất
Giá trị thành tiền
theo đơn giá A đề
xuất
I/ Gói B - HDPE
BA01
AA-
00BE
SHOP FAB.,
WELDING,
C/S
1.059,50 201.655 123.438,82 213.653.472 130.783.425
BA01
AA-
00A5
SHOP FAB.,
WELDING,
C/S
1.627,80 201.655 123.438,82 328.254.009 200.933.704
BA01
AA-
SHOP FAB.,
WELDING,
2.322,30 201.655 123.438,82 468.303.407 286.661.961
19
0078 C/S
BD04
AA-
0001
NDE,
RADIOGRAP
HIC TEST
1.040,80
182.885
111.949,16 190.346.708 116.516.685
BF01
AA-
0002
PIPE
SUPPORT
FABRICATI
ON
60,06 9.987.500 30.598.783,98 3.002.096.787 1.837.669.639
BF01
AA-
0006
PIPE
SUPPORT
FABRICATI
ON
10,21
151.125.00
0
92.507.951,57 1.542.986.250 944.506.186
II
Gói C - PP
BA01
AA-
0078
SHOP
FAB.,
WELDIN
G, C/S
1.601 201.655 163.668 123.439 197.637.887
BF01
AA-
0002
PIPE
SUPPORT
FABRICA
TION
49 49.987.500 163.668 30.598.784 1.505.355.839
BF01
AA-
0006
PIPE
SUPPORT
FABRICA
TION
7 51.125.000 27 92.507.952 632.754.389
Tổng cộng giá trị khối lượng chưa có đơn giá: 9.561.420.011 5.852.819.714
Đối với các hạng mục nêu trên đang trong tình trạng thực hiện dở dang, PV
Shipyard mới chỉ thực hiện một phần công việc, cụ thể là hàn các đoạn ống và
sơn lớp nước 1, sau đó đã dừng thi công, không tiếp tục hoàn thiện các công
đoạn còn lại. Việc này dẫn đến A phải trực tiếp tổ chức thực hiện toàn bộ phần
công việc còn lại để đảm bảo tiến độ và chất lượng dự án.
Căn cứ theo giá trị từng công đoạn thực tế đã thực hiện, A đánh giá khối
lượng công việc do PV Shipyard hoàn thành là 60,21% tổng khối lượng được
giao. Trong khi đó đơn giá trong hợp đồng là đơn giá trọn gói, nên không có cơ
sở áp dụng trực tiếp đơn giá này để xác định giá trị thanh toán cho phần công
việc chưa hoàn thành toàn bộ. Việc bỏ dở công việc không chỉ làm gián đoạn
công việc mà còn thể hiện sự thiếu cam kết và vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên,
trên tinh thần hợp tác và thiện chí, A vẫn xem xét để xác định giá trị thanh toán
theo tỷ lệ 60% - 40%, theo đó PV Shipyard được hưởng 60% giá trị của hạng
mục tương ứng.
20
Thứ ba, về dịch vụ nâng hạ tại cảng (bản chào giá số
129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020):
Hiện nay, PV Shipyard đang khởi kiện yêu cầu A phải thanh toán cho PV
Shipyard dịch vụ nâng hạ tại cảng PV Shipyard. Số tiền 236.060.000 đồng.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án này, PV Shipyard không xuất trình
được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì chứng minh về việc A sử dụng dịch vụ, chốt đơn
giá cũng như khối lượng công việc. Hiện PV Shipyard chỉ đưa ra được email
trong đó xác nhận rằng “Hai bên sẽ xem xét khối lượng và giá trị công việc cụ
thể” giữa PV Shipyard và Phó TGĐ của A, như vậy A cho rằng, không có căn cứ
để xem như có giao kết về hợp đồng kinh tế.
Theo đó, A kính đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của PV
Shipyard.
2.2 Về các yêu cầu phản tố của Công ty A:
Trong vụ án này, A tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn có yêu cầu phản
tố và để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quá trình giải quyết vụ án
A đã đưa ra các yêu cầu phản tố cụ thể như sau:
Thứ nhất, về yêu cầu phản tố của A buộc PV Shipyard thanh toán cho A
giá trị của các vật tư không thể hoàn trả là 3.073.409.318 đồng và giá trị phát
sinh giảm hợp đồng là 1.560.175.900 đồng (liên quan đến hợp đồng số
PVMS.0119029), gồm:
Một, vật tư kết cấu và Pipe Support A cấp cho PV Shipyard (vật tư phế
liệu), tương ứng với số tiền: 289.367.558 đồng.
Theo biên bản hòa giải ngày 31/3/2023, bản trình bày ý kiến của PV
Shipyard ngày 24/7/2024 và ý kiến trình bày của đại diện theo ủy quyền của PV
Shipyard tại phiên tòa ngày 07/11/2025, PV Shipyard đã chấp nhận giá trị là
289.367.558 đồng do A đưa ra và khấu trừ vào khoản nợ của A. A đề nghị
HĐXX xem xét ghi nhận sự tự nguyện này của PV Shipyard.
Hai, vật tư ống E cấp cho PV Shipyard không hoàn trả, tương ứng với số
tiền là 2.784.041.760 đồng.
Công ty Samsung Egineering Việt Nam (Viết tắt là E) là nhà thầu chính ký
kết hợp đồng với A. A căn cứ trên hợp đồng đã ký với E, ký kết hợp đồng về
việc thuê nhà thầu thi công chế tạo Module PVMS.0119029 với PV Shipyard.
Quá trình thực hiện hợp đồng, PV Shipyard sử dụng vật tư do E/A cung cấp để
thực hiện.
Việc quản lý vật tư được E thực hiện như sau: Vật tư được E/A giao vào
kho PV Shipyard, Thủ kho của PV Shipyard sẽ kiểm đếm và nhập kho theo
phiếu nhập kho. Vật tư được PV Shipyard xuất kho sản xuất theo các phiếu đề
nghị xuất kho, căn cứ vào tiến độ sản xuất. Các bên nhập liệu vào phần mềm
FMCS để cùng quản lý, theo dõi. Khi kết thúc dự án, E căn cứ vào khối lượng
sản phẩm hoàn thành, dựa trên các bản vẽ chi tiết để tính được khối lượng vật tư
đã được sử dụng. Sau khi cộng với khối lượng hao hụt vật tư trong quá trình sản
21
xuất, E đưa ra khối lượng vật tư, remainder cần hoàn trả. Trong trường hợp
không hoàn trả vật tư sau sản xuất, nhà thầu sẽ bị E khấu trừ vào giá trị hợp
đồng.
E quản lý vật tư bằng phần mềm FMCS (Materials Management Control
Systerm). E có thể xác định các vật tư bị mất/chưa hoàn trả bằng cách trích xuất
dữ liệu phần mềm FMCS này.
Sau khi hoàn thành các hạng mục công việc, E đã yêu cầu A hoàn trả vật tư,
với giá trị mà E yêu cầu bồi thường do không hoàn trả vật tư là:
+ Giá trị vật tư không hoàn trả do hủy/sửa đổi bản vẽ với số tiền được E ấn
định là 45.099 USD;
+ Giá trị vật tư bị mất trong kho (so với phần mềm quản lý FMCS) với số
tiền được E ấn định là 154.903 USD);
+ Tổng giá trị vật tư không thể hoàn trả mà E đã yêu cầu A phải thanh toán
là: 200.002 USD
+ Tỷ giá 1 USD = 23.465đ.
Theo quy định tại Điều 13 hợp đồng PVMS.0119029 và biên bản họp về
việc giao nhận và quản lý vật tự dự án LSP ngày 22/02/2020. A cho rằng, có đủ
căn cứ, cơ sở để buộc PV Shipyard phải thanh toán lại toàn bộ giá trị vật tư
không thể hoàn trả tương ứng với số tiền là 200.002 USD cho A. Tuy nhiên, trên
tinh thần hợp tác, chia sẻ rủi ro, A đã căn cứ vào khối lượng công việc thực hiện
của mỗi bên để chia tỷ lệ rủi ro cho A là 40% và PV Shipyard là 60% là hoàn
toàn phù hợp với thực tế khách quan và đảm bảo lẽ công bằng. Tương ứng với
số tiền làm tròn là 2.815.800.000 đồng (hai tỷ tám trăm mười lăm triệu tám trăm
nghìn đồng).
Việc PV Shipyard đang phủ nhận trách nhiệm của mình về việc giao nhận,
quản lý vật tư là mâu thuẫn với biên bản họp ngày 22/02/2020.
Ba, giá trị phát sinh giảm của hợp đồng PVMS.0119029 với số tiền
1.560.175.900 đồng.
Tháng 4/2021, A và PV Shipyard đã ký với nhau văn bản “Sửa đổi bổ sung
hợp đồng 06 Hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019”, có nội dung bổ
sung điều khoản về bảo lãnh bảo hành 5%, điều chỉnh hao hụt vật tư sơn và ký
bổ sung đơn giá cho một số hạng mục phát sinh. Tại văn bản này, hai bên xác
định và ký kết với nhau giá trị phát sinh giảm hợp đồng là: 1.716.193.490 đồng,
cụ thể từng hạng mục như sau:
STT Nội dung Giá trị
01 Vật tư điện 581,001,696
02 Vật tư sơn kết cấu và ống (vượt định mức hao hụt) 747,602,392
03
Chi phí nhân công thực hiện Clear puch list HD
PAR-003-004
88,630,000
22
04 Vật tư deck plate 92,941,812
05 Chi phí nhân công thực hiện sửa chữa grating 50,000,000
Tông cộng 1,560,175,900
VAT10% 156,017,590
Tổng cộng (đã VAT) 1,716,193,490
Hiện nay, PV Shipyard cũng thừa nhận đã ký kết và thỏa thuận về giá trị
giảm hợp đồng nêu trên.
Tại phiên tòa ngày 17/05/2024, PV Shipyard tiếp tục thừa nhận giá trị giảm
trừ nêu trên nhưng lấy lý do là A chưa xuất hóa đơn giảm trừ để trì hoãn nghĩa
vụ thanh toán.
Trên thực tế, trong quá trình quyết toán hợp đồng, A đã làm việc và đưa ra
các hạng mục phát sinh giảm để PV Shipyard khấu trừ vào giá trị quyết toán, từ
đó đưa ra được giá trị quyết toán cuối cùng nhưng về phía PV Shipyard đã từ
chối các nghĩa vụ này, không khấu trừ cho A các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ và
các khoản giá trị đã thống nhất với nhau từ trước, đây chính là lý do mà A không
thể hoàn thiện hồ sơ thanh, quyết toán với PV Shipyard.
Từ những căn cứ, lập luận nêu trên, A kính đề nghị Hội đồng xét xử trong
trường hợp chấp nhận yêu cầu khởi kiện của PV Shipyard đối với hợp đồng
PVMS.0119029, kính đề nghị xem xét chấp nhận yêu cầu phản tố này của A,
khấu trừ các khoản tiền nêu trên của hợp đồng PVMS.0119029 vào nghĩa vụ
thanh toán của A.
Về yêu cầu phản tố của A buộc PV Shipyard phải thanh toán bằng hình
thức khấu trừ trực tiếp vào số tiền A còn phải thanh toán cho PV Shipyard giá trị
của các vật tư không thể hoàn trả và các hạng mục khác, tương đương số tiền
16.469.029.701 đồng (Liên quan HĐ PVMS.0119028).
Đối với hợp đồng số PVMS.0119028, hiện nay A đang phản tố yêu cầu PV
Shipyard phải thanh toán bằng hình thức khấu trừ trực tiếp vào số tiền A còn
phải thanh toán cho PV Shipyard giá trị của các vật tư không thể hoàn trả và các
hạng mục khác tương đương số tiền 16.469.029.701 đồng. Số tiền
16.469.029.701 đồng được cấu thành bởi hai khoản tiền:
- Khoản tiền thứ nhất là khoản giá trị các công việc do A phải thực hiện
tương ứng với số tiền: 9.217.901.999 đồng và chi phí bổ sung hồ sơ là:
516.501.119 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, A đã phải thực hiện một số các khối lượng
công việc phát sinh để đảm bảo chất lượng bàn giao cho nhà thầu, gồm:
Anchor Bolt/Bu-lông móng: 7.987.500 đồng
Anchor Bolt (HILTI)/Bu-lông móng: 683.431.809 đồng
QC inspector/ Nhân sự giám sát chất lượng: 1.552.202.718 đồng
23
Spool lỗi (Defect list)/ Ống bị lỗi: 2.399.009.428 đồng
Cung cấp nhân lực gói AGP: 429.078.787 đồng
Supply manpower for Packing: 3.591.548.202 đồng
Missing spool (Fab done)/Ống bị mất sau khi chế tạo: 209.671.773 đồng
Missing spool (DI)/Sản phẩm bị mất trước khi chế tạo: 334.971.782 đồng
Ngoài ra, Căn cứ Mục II Tài liệu Hợp đồng PVMS.0119028 ghi nhận hợp
đồng thầu phụ giữa A và E được gọi là cấu thành và được hiểu như một phần
của Hợp đồng PVMS.0119028.
Điểm 6.5.2 Khoản 6.5 Điều 6 Hợp đồng thầu phụ giữa A và E quy định
Giấy xác nhận khoản thanh toán, Bảng khối lượng công việc, Bản vẽ điều chỉnh,
Báo cáo khối lượng với bảng tính toán chi tiết, Biên bản kiểm tra...
Căn cứ những quy định nêu trên, để có cơ sở làm việc với Tổng thầu (E),
ngày 05/10/2021 A đã ban hành văn bản số 0510 trong đó yêu cầu PV Shipyard
tiến hành bàn giao hồ sơ hoàn công trước ngày 09/10/2021. Ngày 07/10/2021, A
tiếp tục ban hành văn bản số 0710 trong đó yêu cầu PV Shipyard tiến hành bàn
giao hồ sơ chất lượng đối với các hạng mục do PV Shipyard thi công. Sau khi
phát hành các văn bản trên nhưng không nhận được phản hồi của PV Shipyard,
ngày 11/10/2021 A đã ban hành văn bản số 1110 và văn bản số 1410 ngày
14/10/2021 trong đó yêu cầu PV Shipyard tiếp tục bổ sung hồ sơ thanh toán, hồ
sơ chất lượng báo cáo nghiệm thu. Ngoài ra, A cũng đã thông báo đến PV
Shipyard chi phí hoàn thiện hồ sơ chất lượng nếu PV Shipyard không bổ sung
các hồ sơ này với tổng số tiền là 516.501.119 đồng.
Tuy nhiên, sau đó PV Shipyard đã không bổ sung hồ sơ theo yêu cầu. Vì
vậy, buộc A phải tự thực hiện các công việc có liên quan và bổ sung hồ sơ của
các phần việc này.
Khoản 4.2 Điều 4 Hợp đồng PVMS.0119028 quy định:
“Trong trường hợp Bên B (tức PV Shipyard) không thực hiện hoặc chậm
trễ trong công việc thực hiện các công việc theo yêu cầu của hợp đồng và bên B
không có bất kỳ biện pháp khắc phục nào trong thời hạn 10 ngày từ lúc nhận
được văn bản thông báo của bên A (tức A) thì bên A có quyền tự thực hiện hoặc
thuê đơn vị khác thực hiện với kinh phí của bên B và sẽ khấu trừ vào bất kỳ
khoản thanh toán nào đến hạn thanh toán cho Bên B”.
Theo đó, với điều khoản hợp đồng đã trích dẫn nêu trên, A cho rằng có đủ
căn cứ để chấp nhận yêu cầu phản tố này của A, buộc PV Shipyard phải thanh
toán bằng cách khấu trừ vào nghĩa vụ của A còn phải thực hiện, giá trị các công
việc phát sinh mà A đã phải tự thực hiện.
- Khoản tiền thứ hai là khoản vật tư không hoàn trả được tương ứng với số
tiền là: 6.734.626.583 đồng.
Theo quy định tại Điều 5 Hợp đồng PVMS.0119028, quy định: Bên B (tức
PV Shipyard) thực hiện các quyền và nghĩa vụ của A như được quy định trong
24
Hợp đồng thầu phụ, ngoại trừ một số điều khoản được quy định trong Hợp đồng
dịch vụ này.
Mục III Hợp đồng PVMS.0119028 cũng quy định: Hợp đồng thầu phụ giữa
A và E COMPANY LIMITED (Subcontract Agreement for Piping and Painting
Shop: SubContract No SC0353-HD-006 & SubContract No SC0353-PP-004)
được gọi là Hợp đồng thầu phụ; được coi và được hiểu như một phần của Hợp
đồng PVMS.0119028.
Theo đó, các nghĩa vụ mà A phải thực hiện với E sẽ là các nghĩa vụ mà PV
Shipyard phải thực hiện với A. Trong vụ án này, E đã khấu trừ của A giá trị vật
tư không thể hoàn trả, tương ứng với số tiền là 6.734.626.583 đồng.
Tương tự như Hợp đồng PVMS.0119029, căn cứ vào 5 Hợp đồng nêu trên,
kết hợp với việc căn cứ vào Biên bản họp về việc giao nhận và quản lý vật tư dự án
LSP ngày 22/02/2020, A cho rằng có đủ căn cứ để buộc PV Shipyard phải thanh
toán toàn bộ giá trị vật tư không thể hoàn trả này cho A.
Ngoài ra, Hợp đồng PVMS.0119028 là Hợp đồng giao trọn gói gói thầu
cho PV Shipyard, theo đó A không có lý do để chia sẻ rủi ro với PV Shipyard
như với Hợp đồng PVMS.0119029.
Từ những phân tích lập luận nêu trên, A kính đề nghị xét chấp nhận toàn bộ
yêu cầu phản tố này của A. Buộc PV Shipyard phải thanh toán bằng cách khấu
trừ vào nghĩa vụ A phải thực hiện với PV Shipyard giá trị các công việc A phải
tự thực hiện, giá trị vật tư không thể hoàn trả của Hợp đồng PVMS.0119028,
tương ứng với số tiền 16.469.029.701 đồng.
Về yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án buộc PV Shipyard thanh toán cho A
bằng hình thức khấu trừ trực tiếp vào số tiền A còn phải thanh toán cho PV
Shipyard số tiền 3.037.733.847 đồng (Liên quan Hợp đồng AS-LSP-002/02)
Ngày 12/9/2019, A và PV Shipyard ký kết Hợp đồng số AS-LSP-002/02 về
việc cung cấp dịch vụ mô hình 3D, triển khai các bản vẽ thi công Module Pipe
Rack và Module công nghệ. Tổng giá trị hợp đồng là 1.816.215.500 đồng (Một
tỷ tám trăm mười sáu triệu, hai trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng). Các bên
cũng thống nhất thời gian thực hiện hợp đồng là từ ngày 15/9/2019 đến ngày
27/2/2021. Ngày 20/3/2020, các bên đã ký kết Bản sửa đổi số 01 Hợp đồng số
AS-LSP-002/02 để điều chỉnh đơn giá dịch vụ.
Đến ngày 10/4/2020, các bên tiếp tục ký kết Bản sửa đổi số 02 Hợp đồng số
AS-LSP-002/02 để điều chỉnh các đơn giá dịch vụ. Trong quá trình thực hiện hợp
đồng, A cũng đã thanh toán cho PV Shipyard số tiền 82.555.250 đồng (Tám mươi
hai triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm năm mươi đồng).
Quá trình thực hiện hợp đồng, do PV Shipyard thực hiện công việc chậm trễ,
không đúng tiến độ như các bên đã thống nhất tại Hợp đồng số AS-LSP-002/02
nên Tổng thầu E đã cử nhân sự hỗ trợ PV Shipyard thực hiện hợp đồng và trực
tiếp thực hiện một phần công việc trong Hợp đồng số AS-LSP-002/02. Đồng thời,
một phần công việc còn lại được A trực tiếp thực hiện.
25
Ngày 27/7/2020, A đã gửi văn bản số AM-LSP-23 và tài liệu liên quan đến
chi phí đối với phần công việc mà Tổng thầu E đã thực hiện, chi phí đối với nhân
sự hỗ trợ PV Shipyard thực hiện công việc với tổng số tiền là 141.485 USD.
Tương đương số tiền 3.290.000.861 đồng (Ba tỷ hai trăm chín mươi triệu, tám
trăm sáu mươi mốt đồng). Trong đó, chi phí chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật là 24.096
USD; Chi phí triển khai bản vẽ cho 09 module là 117.389 USD.
Trong quá trình trao đổi sau đó, Tổng thầu E đã đồng ý giảm toàn bộ số tiền
chi phí chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật là 24.096 USD. Vì vậy, A cũng đồng ý miễn
giảm số tiền này cho PV Shipyard và chỉ yêu cầu PV Shipyard thanh toán chi phí
triển khai bản vẽ cho 09 Module là 117.389 USD, tương đương số tiền
3.037.733.847 đồng (Ba tỷ không trăm ba mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi ba
nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng) đã bao gồm VAT.
Theo quy định tại Điều 3, Điều 4 của Hợp đồng. Cụ thể:
“Điều 3. Quyền và trách nhiệm của Bên A
Bên A có quyền yêu cầu Bên B thực hiện lại những phần công việc không
đáp ứng yêu cầu nêu trong Hợp đồng này. Trong trường hợp Bên B không thực
hiện hoặc chậm trễ trong việc thực hiện lại các công việc theo yêu cầu thì bên A
có quyền tự thực hiện hoặc thuê đơn vị khác thực hiện với kinh phí của Bên B
và sẽ khấu trừ vào bất cứ khoản thanh toán nào đến hạn thanh toán cho Bên B.
Việc Bên A tự thực hiện hoặc thuê đơn vị khác thực hiện không làm giảm nhẹ
bất kỳ trách nhiệm nào theo hợp đồng đối với Bên B.
Điều 4. Trách nhiệm và nghĩa vụ của Bên B
4.1.4 Bên B có nghĩa vụ cung cấp đủ nguồn nhân lực có chất lượng để thực
hiện Hợp đồng này, mọi trường hợp thay đổi nhân sự chính của Hợp dồng phải
có sự đồng ý của Bên A. Trong trường hợp Bên B không đáp ứng được yêu cầu
tiến độ của dự án như quy dịnh tại Phụ lục 3 – Tiến độ hoàn thành công việc thì
Bên B có thể yêu cầu hỗ trợ nguồn lực từ Bên A và sẽ chịu chi phí có liên quan
đến việc bổ sung này.
4.1.5 Khi bên A có nhận xét và yêu cầu chỉnh sửa theo đúng yêu cầu được
quy định trong Hợp đồng này. Bên B tuyệt đối phải có trách nhiệm khắc phục
cho đến khi bên A đồng ý phê duyệt.
4.1.6 Bên B sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm bồi thường, giữ cho Bên A
không phải chịu trách nhiệm về bất kỳ nghĩa vụ, yêu cầu, công nợ, tổn thất, chi
phí (bao gồm cả các chi phí kiện tụng), hư hại, kiện tụng, tố cáo nào và các chi
phí liên quan đến thương tật chết người của bất kỳ nhân sự nào của Bên B, xảy
ra hoặc được cho là xảy ra theo bất cứ hình thức nào liên quan đến việc thực
hiện hợp đồng của Bên B trừ trường hợp tổn thất, hư hại, mất mát đó là do lỗi
của Bên A gây ra.
4.2 Các trách nhiệm khác
4.2.1 Bên B chịu mọi chi phí phát sinh xảy ra trong suốt quá trình thực hiện
công việc theo phạm vi trách nhiệm của Bên B như quy định trong Hợp đồng.
26
Trên cơ sở phối hợp với Bên A, Bên B phải tự chịu trách nhiệm, chủ động, tự
quản lý việc thực hiện công việc và chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các vấn
đề, phát sinh liên quan đến việc thực hiện các công việc đó.”
Theo đó, với các quy định tại Hợp đồng nêu trên, A cho rằng việc A phản
tố đề nghị Tòa án buộc PV Shipyard phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán giá trị E
khấu trừ và A đã tự thực hiện là 3.037.733.847 đồng là hoàn toàn có căn cứ để
chấp nhận.
Thứ tư, về yêu cầu phản tố của A: Buộc PV Shipyard thanh toán và khấu
trừ vào công nợ cho A 4.978.859.993 đồng và tiền lãi chậm trả tạm tính từ thời
điểm vi phạm cam kết thanh toán với lãi suất tạm tính là 10%/năm theo Hợp
đồng SO.0116017 – DV026 về việc cung cấp dịch vụ nhân lực gia công chế tạo
hệ thống vận than và đá vôi thuộc Dự án nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và tiền
lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm.
Ngày 19/4/2016, A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng số SO.0116017 -
DV026 về việc cung cấp dịch vụ nhân lực gia công chế tạo hệ thống tiếp vận
than và đá vôi thuộc Dự án nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 theo bản vẽ thiết kế
được duyệt và các phụ lục đính kèm. Giá trị hợp đồng tạm tính là
50.534.786.627 đồng (Năm mươi tỷ năm trăm ba mươi tư triệu, bảy trăm tám
mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi bảy đồng).
Tháng 5/2016, các bên đã thống nhất ký kết Phụ lục số 6 thuộc Hợp đồng
số SO.0116017 - DV026 ngày 19/4/2016 nhằm điều chỉnh một phần nội dung
Điều 7 “Giá hợp đồng”.
Đến ngày 20/7/2018, sau quá trình thực hiện hợp đồng A và Công ty PV
Shipyard tiếp tục ký kết Phụ lục số 8 thuộc Hợp đồng số SO.0116017 - DV026
ngày 19/4/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Hợp đồng
DV026. Tại Phụ lục này giá trị hợp đồng đã được thay đổi còn 20.196.000.000
đồng (Hai mươi tỷ một trăm chín mươi sáu triệu đồng). Trong quá trình thực
hiện hợp đồng, PV Shipyard đã tạm ứng cho A số tiền 1.000.000.000 đồng (Một
tỷ đồng).
Tháng 06/2021, sau khi trao đổi các bên đã thống nhất về việc A sẽ bàn
giao vật tư/thiết bị, sản phẩm và bán sản phẩm cho Công ty PV Shipyard.
Đối với hạng mục công việc mà A đã thực hiện, hai bên đã thống nhất ký
kết bảng xác nhận giá trị hoàn thành với tổng giá trị 5.279.587.175 đồng (Năm
tỷ hai trăm bảy mươi chín triệu, năm trăm tám mươi bảy nghìn một trăm bảy
mươi lăm đồng) trong đó đã bao gồm VAT theo văn bản số 0358/21/CTGK-
TM&PTKD đề ngày 07/6/2021 của PV Shipyard.
Ngày 16/6/2021, các bên đã lập biên bản bàn giao sản phẩm và bán sản phẩm.
Ngày 15/6/2021, Công ty A đã xuất hóa đơn thuế đơn giá trị tăng số
0000061 thể hiện giá trị hoàn thành quyết toán là 4.799.624.705 đồng, thuế
GTGT là 479.962.470 đồng. Tổng tiền thanh toán là: 5.279.587.175 đồng.
27
Ngày 06/8/2021, hai bên thực hiện bàn giao vật tư/thiết bị, việc bàn giao
được lập thành văn bản.
Về số liệu, giữa A và PV Shipyard không có tranh chấp với nhau về mặt số
liệu. Hiện nay PV Shipyard đang không nhất trí thanh toán cho A vì cho rằng hồ
sơ thanh toán của A đang không phù hợp với Hợp đồng.
Trên thực tế ngày 15/6/2021, sau khi xuất hóa đơn GTGT, A đã cung cấp
đầy đủ hồ sơ thanh toán cho PV Shipyard. Từ sau khi nhận được hồ sơ đề nghị
thanh toán của A, PV Shipyard không có bất kỳ ý kiến gì về thành phần, nội
dung hồ sơ đề nghị thanh toán. Chỉ đến khi phát sinh tranh chấp tại Tòa án thì
PV Shipyard mới đưa ra lý do là hồ sơ thanh toán không phù hợp quy định Hợp
đồng để từ chối/trì hoãn nghĩa vụ thanh toán. Liên quan đến nội dung này, A xin
trình bày ý kiến như sau:
1. A khẳng định hồ sơ thanh toán mà A đã phát hành hoàn toàn phù hợp với
quy định của Hợp đồng và các phụ lục đính kèm.
2. Đặt giả thiết hồ sơ thanh quyết toán của A có những sai sót thì sau khi
hết thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ mà PV Shipyard không có ý
kiến gì thì hồ sơ thanh quyết toán này được xem là hợp lệ và mặc nhiên được
PV Shipyard thừa nhận. Bởi lẽ, Điều 10 Hợp đồng quy định thời hạn để PV
Shipyard xem xét và trả lời bằng văn bản cho A về hồ sơ quyết toán là 45 ngày
kể từ ngày nhận được hồ sơ quyết toán.
Về lãi suất: Căn cứ khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng, khoản 2 Điều 357
Bộ luật Dân sự, A đề nghị xem xét xác định lãi suất chậm trả là 10%/năm, thời
gian bắt đầu tính lãi suất được xác định từ ngày 05/7/2021.
Theo đó, A kính đề nghị xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của A
về việc buộc PV Shipyard thanh toán và khấu trừ vào công nợ cho A
4.279.587.175 đồng và tiền lãi chậm trả của Hợp đồng SO.0116017 – DV026 về
việc cung cấp dịch vụ nhân lực gia công chế tạo hệ thống vận than và đá vôi
thuộc Dự án nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2.
Trên đây là ý kiến của A về những yêu cầu khởi kiện của PV Shipyard và
yêu cầu phản tố của A còn tranh chấp. Kính đề nghị Tòa án xem xét và giải
quyết.
2.3. Các hợp đồng đã thống nhất về số liệu công nợ giữa Công ty A và
PV Shipyard gồm:
- Hợp đồng cung ứng dịch vụ số PVMS.0119030
Ngày 25/11/2019, A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng cung ứng dịch vụ
số PVMS.0119030 về việc Cung cấp dịch vụ thi công đèn chiếu sáng nhà xưởng
với tổng giá trị hợp đồng trọn gói là 452.265.958 đồng (Bốn trăm năm mươi hai
triệu, hai trăm sáu mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi tám đồng). Đây là giá trị
chưa bao gồm thuế VAT. Thực hiện hợp đồng ngày 27/12/2019, A đã tạm ứng
cho PV Shipyard số tiền 198.997.021 đồng (Một trăm chín mươi tám triệu, chín
trăm chín mươi bảy nghìn không trăm hai mươi mốt đồng) bao gồm VAT, tương
28
đương 40% tổng giá trị hợp đồng đã ký kết theo Hóa đơn VAT số 0000012 ngày
23/12/2019.
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại số tiền mà A còn phải thanh toán cho
PV Shipyard là 298.495.533 đồng (Hai trăm chín mươi tám triệu, bốn trăm chín
mươi lăm nghìn năm trăm ba mươi ba đồng).
- Hợp đồng cung ứng dịch vụ số PVMS.0119034
Ngày 19/11/2019, A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng cung ứng dịch vụ
số PVMS.0119030 về việc Cung cấp dịch vụ thi công điện động lực cho nhà
xưởng với tổng giá trị hợp đồng trọn gói là 1.295.427.350 đồng (Một tỷ hai trăm
chín mươi lăm triệu, bốn trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm năm mươi đồng),
chưa bao gồm 10% VAT. Đến ngày 27/12/2019, tạm ứng cho PV Shipyard số
tiền 543.588.034 đồng (Năm trăm bốn mươi ba triệu, năm trăm tám mươi tám
nghìn không trăm ba mươi tư đồng) bao gồm VAT, tương đương 40% tổng giá
trị hợp đồng đã ký kết theo hóa đơn VAT số 0000242 ngày 23/12/2019.
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại số tiền mà A còn phải thanh toán cho
PV Shipyard là 881.382.051 đồng (Tám trăm tám mươi mốt triệu, ba trăm tám
mươi hai nghìn không trăm năm mươi mốt đồng).
- Hợp đồng số SO.0319/HCNS/2019
Ngày 26/8/2019, A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng cung ứng dịch vụ
số SO.0319/HCNS/2019 về việc thuê mặt bằng văn phòng tòa nhà PV Shipyard
và các Phụ lục đính kèm với đơn giá thuê là 117.500 VNĐ/m
2
/tháng chưa bao
gồm thuế VAT. A và PV Shipyard đã thống nhất về việc thay đổi đơn giá cho
thuê. Sau khi thống nhất, các bên đã ký kết Phụ lục 04 đính kèm Hợp đồng số:
SO.0319/HCNS/2019 với nội dung đơn giá cho thuê giảm còn 87.750
VNĐ/m
2
/tháng chưa bao gồm thuế VAT. Ngày 12/6/2020, các bên tiếp tục ký
kết Phụ lục số 05 đính kèm Hợp đồng số: SO.0319/HCNS/2019 với nội dung
Công ty A thuê thêm diện tích dùng làm văn phòng tại tầng 2 với giá thuê là
87.750 VNĐ/m
2
/tháng chưa bao gồm thuế VAT. Đến ngày 01/9/2020, A đã
thanh toán cho PV Shipyard số tiền 323.165.700 đồng (Ba trăm hai mươi ba
triệu, một trăm sáu mươi năm nghìn bảy trăm đồng).
Ngày 15/9/2020, A và PV Shipyard tiếp tục ký kết Phụ lục số 06 đính kèm
Hợp đồng số: SO.0319/HCNS/2019 về việc gia hạn thời gian thuê từ ngày
01/10/2020 đến ngày 30/4/2021 và điều chỉnh lại diện tích thuê mặt bằng văn
phòng tòa nhà PV Shipyard theo các mốc thời gian cụ thể. Ngày 01/6/2021, A
và PV Shipyard tiếp tục ký kết Phụ lục số 07 đính kèm Hợp đồng số:
SO.0319/HCNS/2019 về việc gia hạn thời gian thuê từ ngày 01/05/2021 đến
ngày 20/6/2021 và diện tích thuê theo thời gian cụ thể. Sau khi hết thời gian thuê,
A đã bàn giao lại toàn bộ diện tích thuê cho PV Shipyard.
Như vậy, tính đến ngày 30/6/2021, A còn nợ PV Shipyard số tiền
493.310.044 đồng (Bốn trăm chín mươi ba triệu ba trăm mười nghìn không trăm
bốn mươi bốn đồng), số tiền này đã bao gồm thuế VAT.
- Hợp đồng số PVMS.0121006
29
Ngày 18/3/2021, A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng số PVMS.0121006
về việc làm sạch và sơn kết cấu Dự án Tổ hợp hóa dầu miền Nam Việt Nam với
đơn giá là 132.250 VNĐ/m
2
. Giá trị tạm tính của hợp đồng là 185.150.000 đồng
(Một trăm tám mươi lăm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Ngày 26/4/2021,
các bên đã ký kết bảng tổng hợp giá trị thực hiện từ ngày 25/3/2021 đến ngày
01/4/2021 với số tiền là 194.054.922 đồng (Một trăm chín mươi tư triệu không
trăm năm mươi bốn nghìn chín trăm hai mươi hai đồng). Đến ngày 03/5/2021,
các bên tiếp tục ký kết bảng tổng hợp giá trị hoàn thành giai đoạn (thời gian từ
ngày 25/3/2021 đến ngày 01/4/2021) với số tiền tương tự.
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, A còn nợ PV Shipyard số tiền
194.054.922 đồng (Một trăm chín mươi bốn triệu không trăm năm mươi bốn
nghìn chín trăm hai mươi hai đồng), số tiền này đã bao gồm thuế VAT.
- Hợp đồng cung cứng dịch vụ số PVMS.0120016
Ngày 02/5/2020, A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng cung ứng dịch vụ
số PVMS.0120016 về việc cung cấp dịch vụ thi công hệ thống phòng cháy chữa
cháy (PCCC) nhà xưởng với tổng giá trị là 654.634.200 đồng (Sáu trăm năm
mươi tư triệu sáu trăm ba mươi tư nghìn hai trăm đồng). Đến ngày 21/8/2020, A
và PV Shipyard đã tiến hành nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng.
Việc nghiệm thu được các bên liên quan lập thành biên bản số 01/HTCTPCCC.
Ngày 04/9/2020, Phòng Cảnh sát PCCC & CNCH cùng các bên liên quan đã tổ
chức nghiệm thu hệ thống PCCC công trình cải tạo, nâng cấp hệ thống PCCC
Nhà xưởng gia công ống công nghệ.
Ngày 11/9/2020, A và PV Shipyard đã ký bảng tổng hợp giá trị hợp đồng
cung cấp dịch vụ thi công PCCC khu vực nhà xưởng A và biên bản quyết toán
dịch vụ với tổng giá trị phải thanh toán là 654.634.200 đồng (Sáu trăm năm
mươi tư triệu sáu trăm ba mươi tư nghìn hai trăm đồng).
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, A còn nợ PV Shipyard số tiền
654.634.200 đồng (Sáu trăm năm mươi tư triệu sáu trăm ba mươi tư nghìn hai
trăm đồng), số tiền này đã bao gồm thuế VAT.
- Hợp đồng số PVMS.0120018
Ngày 28/5/2020 A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng cung cứng dịch vụ
số PVMS.0120018 về việc thuê thi công chế tạo Stick-Built với tổng giá trị là:
9.308.934.480 đồng (chín tỷ ba trăm lẻ tám triệu, chín trăm ba mươi bốn nghìn
bốn trăm lẻ tám đồng).
Ngày 28/02/2021 A và PV Shipyard đã ký bảng tổng hợp khối lượng thi
công và hoàn thành các công việc theo quy định của hợp đồng với tổng giá trị là:
2.566.228.500 đồng (Hai tỷ năm trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm hai mươi tám
nghìn năm trăm đồng).
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, A còn nợ PV Shipyard là:
2.566.228.500 đồng (Hai tỷ năm trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm hai mươi tám
nghìn năm trăm đồng).
30
2.4. Các hợp đồng còn lại giữa A và PV Shipyard chưa thống nhất
được, gồm các hợp đồng sau:
- Hợp đồng số AS-LSP-002/02
Ngày 12/9/2019, A và PV Shipyard đã ký kết hợp đồng dịch vụ số AS-
LSP- 002/02 và các Phụ lục hợp đồng về việc cung cấp dịch vụ mô hình 3D,
triển khai các bản vẽ thi công Moduel Pipe Rack và Module Công nghệ với tổng
giá trị là 1.816.215.500 đồng (Một tỷ tám trăm mười sáu triệu hai trăm mười
lăm nghìn năm trăm đồng).
Thực hiện hợp đồng, ngày 06/3/2020 chúng tôi đã tạm ứng cho PV
Shipyard số tiền 82.555.250 đồng (Tám mươi hai triệu năm trăm năm mươi lăm
nghìn hai trăm năm mươi đồng). Ngày 20/3/2020, các bên đã ký kết bản sửa đổi
số 01 Hợp đồng dịch vụ số AS-LSP-002/02 về việc bổ sung/điều chỉnh các đơn
giá đối với các dịch vụ cụ thể và thay đổi phương thức thanh toán so với hợp
đồng ban đầu. Đến ngày 10/4/2020, các bên tiếp tục ký kết bản sửa đổi số 02
Hợp đồng dịch vụ số AS-LSP-002/02 về việc bổ sung/điều chỉnh các đơn giá đối
với các dịch vụ. Tổng giá trị hợp đồng sau khi điều chỉnh là 1.263.945.365 đồng
(Một tỷ hai trăm sáu mươi ba triệu chín trăm bốn mươi năm nghìn ba trăm sáu
mươi năm đồng).
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, do PV Shipyard thực hiện
công việc chậm trễ, không đúng tiến độ như các bên đã thống nhất tại hợp đồng
số AS-LSP-002/02 nên Tổng thầu E đã cử nhân sự hỗ trợ PV Shipyard thực hiện
hợp đồng và thực hiện một phần công việc trong hợp đồng số AS-LSP-002/02.
Ngày 27/7/2020, A đã gửi văn bản số AM-LSP-023 và tài liệu liên quan đến
chi phí đối với phần công việc mà Tổng thầu E đã thực hiện, chi phí đối với nhân
sự hỗ trợ PV Shipyard thực hiện công việc với tổng số tiền là 141.485 USD.
Tương đương số tiền 3.290.000.861 đồng (Ba tỷ hai trăm chín mươi triệu tám
trăm sáu mươi mốt đồng). Trong đó, chi phí chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật là 24.096
USD; Chi phí triển khai bản vẽ cho 09 module là 117.389 USD. Điều này được
thể hiện một cách cụ thể trong khi các bên nghiệm thu hạng mục công việc PV
Shipyard đã thực hiện. Cụ thể như sau:
- Ngày 27/5/2021, A và PV Shipyard đã lập biên bản nghiệm thu hoàn
thành công việc, tại biên bản này thể hiện hạng mục Piping System; Review the
lifting, trans, Procedure chưa được PV Shipyard hoàn thành. Đặc biệt, biên bản
này ghi nhận các hạng mục Review the loadout, Other (MTO, spec, fire proofing,
isulation...) chưa được PV Shipyard thực hiện.
- Ngày 26/1/2021, A và PV Shipyard đã lập biên bản nghiệm thu hoàn
thành công việc lần II. Đến ngày 22/2/2021, các bên đã thống nhất ký kết Biên
bản quyết toán giá trị hợp đồng (bao gồm: Biên bản quyết toán giá trị hợp đồng
lần 1, Biên bản quyết toán giá trị hợp đồng lần 2) với tổng giá trị công nợ mà
chúng tôi còn phải thanh toán cho PV Shipyard là 1.181.390.115 đồng (Một tỷ
một trăm tám mươi mốt triệu ba trăm chín mươi nghìn một trăm mười năm
đồng).
31
Như vậy, sau khi thực hiện việc cấn trừ khoản tiền trả cho Tổng thầu E đối
với các khoản chi phí liên quan đến triển khai bản vẽ cho 09 module thì PV
Shipyard còn phải thanh toán cho A số tiền 2.108.610.746 đồng (Hai tỷ một
trăm lẻ tám triệu sáu trăm mười nghìn bảy trăm bốn mươi sáu đồng).
- Hợp đồng số PVMS.0119029
Ngày 10/11/2019, A và PV Shipyard đã ký kết hợp đồng số
PVMS.0119029 về việc thuê nhà thầu thi công chế tạo module với tổng giá trị
hợp đồng tạm tính là 50.020.635.115 đồng (Năm mươi tỷ không trăm hai mươi
triệu sáu trăm ba mươi năm nghìn một trăm mười năm đồng) chưa bao gồm
VAT. Trong quá trình thực hiện, xuất phát từ thực tế thực hiện hợp đồng, các
bên đã ký kết các phụ lục hợp đồng để chỉnh sửa, bổ sung hợp đồng đã ký kết
trước đó. Cụ thể như sau:
- Sửa đổi hợp đồng 01 Hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 ký
ngày 25/12/2019 về thay đổi một số điều khoản tạm ứng, thanh toán, thời gian
giao hàng.
- Sửa đổi hợp đồng 02 Hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 ký
ngày 09/5/2020 về việc bổ sung giá trị cho phần hydrotest gói B và chuyển đơn
giá giàn giáo từ lot sang m
3
.
- Sửa đổi hợp đồng 03 Hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 ký
ngày 09/6/2020 về việc bổ sung giá trị thi công E&I.
- Sửa đổi hợp đồng 04 Hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 ký
ngày 14/7/2020 về việc bổ sung đơn giá cho hạng mục lắp đặt giàn giáo.
- Sửa đổi hợp đồng 05 Hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 ký
ngày 19/11/2020 về việc bổ sung đơn giá cho hạng mực lắp đặt điện.
- Sửa đổi hợp đồng 06 Hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 ký
ngày 07/4/2021 về việc phát sinh tăng giảm giá trị trong hợp đồng.
Sau nhiều lần điều chỉnh, tổng giá trị của Hợp đồng số PVMS.0119029 là
58.499.256.277 đồng (Năm mươi tám tỷ bốn trăm chín mươi chín triệu hai trăm
năm mươi sáu nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng). Trong thời gian thực hiện
hợp đồng, A cũng đã thanh toán cho PV Shipyard số tiền 48.123.494.252 đồng
(Bốn mươi tám tỷ một trăm hai mươi ba triệu, bốn trăm chín mươi tư nghìn hai
trăm năm mươi hai đồng). Như vậy, số tiền mà chúng tôi còn phải thanh toán
cho PV Shipyard liên quan đến Hợp đồng số PVMS.0119029 là 10.375.762.024
đồng (Mười tỷ ba trăm bảy mươi năm triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn không
trăm hai mươi bốn đồng).
Ngoài ra, tại sửa đổi Hợp đồng số 06 các bên cũng đã thống nhất các nội
dung phát sinh làm giảm giá trị hợp đồng với tổng số tiền là 1.560.175.900 đồng
(Một tỷ năm trăm sáu mươi triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn chín trăm đồng).
Ngoài ra, để thực hiện các hạng mục của hợp đồng, A cũng đã bàn giao cho
PV Shipyard một số vật tư, vật liệu; quá trình bàn giao vật tư, vật liệu đều được
lập thành văn bản và có sự xác nhận của A, PV Shipyard và Tổng thầu E. Tại
32
biên bản họp về việc giao nhận và quản lý vật tư dự án LSP, ngày 20/2/2020 các
bên đã thống nhất trách nhiệm quản lý và bảo quản tất cả vật tư trên bãi thuộc về
trách nhiệm của PV Shipyard.
Trong quá trình tiến hành các thủ tục thanh quyết toán đợt cuối, A đã nhiều
lần gửi văn bản và thư điện tử (email) đề nghị PV Shipyard thực hiện việc hoàn
trả vật tư, vật liệu còn dư thừa theo như nội dung các bên đã thống nhất tại
Khoản 13.8 Điều 13 của Hợp đồng, được sửa đổi thành Khoản 13.5 Điều 13 tại
mục số 7 Bảng chi tiết thay đổi sửa đổi hợp đồng số 01 Hợp đồng
PVMS.0119029 và sửa đổi lần cuối tại mục 3 Bảng chi tiết thay đổi sửa đổi hợp
đồng số 06 Hợp đồng PVMS.0119029. Cụ thể như sau: "...Trường hợp mất mát
hoặc hư hỏng vật tư do lỗi của Bên B, Bên B phải chịu mọi chi phí liên quan đến
việc mua mới khắc phục hậu quả và hoặc bồi thường cho Bên A theo đơn giá
của Hợp đồng mua bán hoặc giá thị trường".
Nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại cho các bên, A đã nhiều lần gửi văn bản
đề nghị tới PV Shipyard như: văn bản số 0259/2020/CV-A ngày 15/12/2020,
văn bản số 039/2021/CV-A ngày 25/5/2021 để yêu cầu được nhận lại số vật tư
này. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho PV Shipyard, A đã chờ đợi một khoảng
thời gian dài từ tháng 12/2020 đến tháng 7/2021 để PV Shipyard có thể thực
hiện hoàn trả vật tư theo như yêu cầu. Tuy nhiên, đến cuối tháng 7/2021 (sau
khoảng 8 tháng chờ đợi) Tổng thầu E đã quyết định cấn trừ giá trị đối với số
lượng vật tư không thể hoàn trả này. Đến ngày 20/8/2021, A đã gửi văn bản số
60/2021/CV-A với nội dung thông báo về việc khấu trừ giá trị vật tư, dịch vụ
các hợp đồng thuộc dự án L6 Gói B/C liên quan đến Hợp đồng số
PVMS.0119029 với giá trị là 3.073.409.318 đồng (Ba tỷ không trăm bảy mươi
ba triệu bốn tăm lẻ chín nghìn ba trăm mười tám đồng). Việc PV Shipyard
không thể hoàn trả vật tư hoàn toàn phát sinh do lỗi của PV Shipyard mà không
phải là lỗi của A. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, A đã từng phản hồi về
tình trạng an ninh lỏng lẻo của PV Shipyard dẫn tới việc mất cắp vật tư/vật liệu
tại thư điện tử ngày 22/6/2021.
Như vậy, sau khi thực hiện việc cấn trừ các giá trị phát sinh giảm và giá trị
vật tư mà PV Shipyard không thể hoàn trả thì số tiền mà A còn phải thanh toán
PV Shipyard là 5.742.176.806 đồng (Năm tỷ bảy trăm bốn mươi hai triệu, một
trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm lẻ sáu đồng).
- Hợp đồng số PVMS.0119028
Ngày 20/11/2019, A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng số
PVMS.0119028 về việc thuê nhà thầu thi công chế tạo module với giá trị ước
tính là 91.700.634.081 đồng (Chín mươi mốt tỷ bảy trăm triệu, sáu trăm ba mươi
tư nghìn không trăm tám mươi mốt đồng). Tại Hợp đồng số PVMS.0119028,
các bên cũng thống nhất sử dụng Hợp đồng thầu phụ giữa A và Tổng thầu E
Company Limited (Subcontract Agreement for Piping and Painting Shop:
SubContract No SC0353 -HD - 006 & SubContract No SC0353 - PP - 004) như
một phần của Hợp đồng số PVMS.0119028.
33
Tổng giá trị công việc mà PV Shipyard thực hiện được các bên xác nhận
hoàn thành và xuất hóa đơn là 79.747.137.701 đồng (Bảy mươi chín tỷ bảy trăm
bốn mươi bảy triệu một trăm ba mươi bảy nghìn bảy trăm lẻ một đồng). Trong
thời gian thực hiện hợp đồng, A cũng đã thanh toán cho PV Shipyard số tiền
67.810.921.497 đồng (Sáu mươi bảy tỷ tám trăm mười triệu, chín trăm hai mươi
mốt nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng). Như vậy, số tiền mà A còn phải thanh
toán cho PV Shipyard là 11.936.216.204 đồng (Mười một tỷ chín trăm ba mươi
sáu triệu, hai trăm mười sáu nghìn hai trăm lẻ bốn đồng).
Tương tự như đối với Hợp đồng số PVMS.0119029, A đã nhiều lần gửi
thông báo bằng văn bản tới PV Shipyard để yêu cầu thực hiện việc quyết toán
hợp đồng, thông báo các khoản tiền phải khấu trừ (do lỗi của PV Shipyard) với
tổng giá trị là 16.469.029.701 đồng (Mười sáu tỷ bốn trăm sáu mươi chín triệu,
không trăm hai mươi chín nghìn bảy trăm lẻ một đồng). Đối với hạng mục công
việc chưa được nghiệm thu, A đã nhiều lần gửi văn bản và thông báo mời PV
Shipyard làm việc để thống nhất các số liệu nhưng các bên đã không thể tìm
được tiếng nói chung. Theo tính toán của A thì hạng mục công việc này có giá
trị là 11.688.706.744 đồng (Mười một tỷ sáu trăm tám mươi tám triệu, bảy trăm
lẻ sáu nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng).
Như vậy, sau khi khấu trừ cả phần công việc chưa được các bên xác nhận
tại Hợp đồng số PVMS.0119028 thì A còn phải thanh toán cho PV Shipyard số
tiền 7.155.893.247 đồng (Bảy tỷ một trăm năm mươi năm triệu tám trăm chín
mươi nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng) bao gồm cả 10% giá trị Hợp đồng
được giữ lại để đảm bảo nghĩa vụ bảo hành của PV Shipyard.
- Nâng hạ hàng tại cảng
Tháng 7/2020, do có nhu cầu cần sử dụng dịch vụ nâng hạ hàng tại cảng
PV Shipyard, A đã đề nghị PV Shipyard cung cấp bảng giá đối với dịch vụ này.
Sau đó, PV Shipyard đã cung cấp cho A bảng chào giá số 129/20/TM&POTKD
ngày 02/7/2020.
Mặc dù các bên chưa ký kết hợp đồng mua bán nhưng A đã sử dụng dịch
vụ nâng hạ hàng tại cảng PV Shipyard của PV Shipyard. Sau khi sử dụng dịch
vụ, A và PV Shipyard đã ký kết các văn bản tài liệu xác nhận khối lượng dịch vụ
mà A đã sử dụng.
Như vậy, thời tính đến thời điểm hiện tại, số tiền mà A còn phải thanh toán
cho PV Shipyard là 236.060.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu không trăm
sáu mươi đồng).
Tính đến thời điểm hiện tại, tổng số tiền mà A còn phải thanh toán cho PV
Shipyard sau khi thực hiện việc khấu trừ các khoản tiền có liên quan là
16.109.208.662 đồng (Mười sáu tỷ một trăm lẻ chín triệu, hai trăm lẻ tám nghìn
sáu trăm sáu mươi hai đồng).
Tháng 8/2022, A đã nộp đơn phản tố với nội dung yêu cầu phản tố cụ thể
như sau:
34
" - Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của PV Shipyard đối với
số tiền mà A phải thanh toán, trong đó:
+ Tiền nợ gốc: 3.073.409.318 đồng (Ba tỷ không trăm bảy mươi ba triệu
bốn tăm lẻ chín nghìn ba trăm mười tám đồng) là giá trị khấu trừ đối với vật tư
mà Công ty Cổ phần G phải hoàn trả cho A;
+ Tiền lãi chậm thanh toán: Không chấp nhận tính lãi chậm trả đối với số
tiền phải thanh toán.
- Buộc Công ty Cổ phần G phải thanh toán cho Công ty Cổ phần A giá trị
của các vật tư đã không thể hoàn trả tương đương số tiền 3.073.409.318 đồng
(Ba tỷ không trăm bảy mươi ba triệu bốn tăm lẻ chín nghìn ba trăm mười tám
đồng). Số tiền này sẽ được khấu trừ trực tiếp vào số tiền mà Công ty Cổ phần A
còn phải thanh toán cho Công ty Cổ phần G."
Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã ban hành Thông báo số
01/2022/TB-TLVA về việc thụ lý yêu cầu phản tố của A. Đến tháng 9/2022, A
nhận được Quyết định nhập vụ án số 01/2022/QĐNVA-KDTM ngày 18/8/2022
về việc nhập vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 32/2021/KDTM-
ST ngày 29/10/2021 về việc "Tranh chấp hợp đồng thi công" vào vụ án kinh
doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 23/2022/KDTM-ST ngày 15/6/2022 về việc
"Tranh chấp hợp đồng thi công; tranh chấp hợp đồng dịch vụ và tranh chấp hợp
đồng thuê tài sản". Sau khi nhận được quyết định nhập vụ án, A đã rà soát tài
liệu vụ việc và nhận thấy còn một số khoản tiền liên quan đến Hợp đồng số
PVMS.0119029, Hợp đồng số PVMS.0119028 và các hợp đồng khác mà PV
Shipyard có nghĩa vụ phải thanh toán cho A.
Vì vậy, A bổ sung yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn như sau:
(1) Hợp đồng số PVMS.0119029
Ngày 07/4/2021, A và PV Shipyard đã thống nhất ký kết văn bản Sửa đổi
Hợp đồng số 06 Hợp đồng PVMS.0119029 ngày 10/11/2019. Tại mục 2 tài liệu
đính kèm số 03 - Phát sinh hợp đồng Sửa đổi hợp đồng số 06 Hợp đồng số
PVMS.0119029 các bên đã thống nhất nội dung liên quan đền phát sinh giảm
giá trị hợp đồng. Cụ thể từng hạng mục như sau:
STT Hạng mục phát sinh giảm Giá trị giảm (VNĐ)
01 Vật tư điện 581.001.696
02
Vật tư sơn kết cấu và ống (vượt
định mức hao hụt)
747.602.392
03
Chi phí nhân công thực hiện Clear
puch list HD PAR-003-004
88.630.000
04 Vật tư deck plate 92.941.812
35
05
Chi phí nhân công thực hiện sửa
chữa grating
50.000.000
Cùng với đó, hai bên cũng thống nhất hình thức thanh toán đối với giá trị
giảm này là bù trừ công nợ. Vì vậy, việc khấu trừ số tiền vào số tiền mà chúng
tôi còn phải thanh toán cho PV Shipyard là phù hợp với nội dung các bên đã
thỏa thuận trước đó. Yêu cầu phản tố của Công ty A buộc Công ty PV Shipyard
phải khấu trừ giảm giá trị phát sinh giảm của Hợp đồng PVMS.0119029 ký ngày
10/11/2019 với số tiền 1.560.175.900 đồng (Một tỷ năm trăm sáu mươi triệu
một trăm bảy mươi lăm nghìn chín trăm đồng).
Số tiền này sẽ được khấu trừ trực tiếp vào số tiền mà Công ty Cổ phần A
còn phải thanh toán cho Công ty Cổ phần G.
(2) Hợp đồng số PVMS.0119028
Ngày 20/11/2019, Công ty A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng số
PVMS.0119028 (Sau đây viết tắt là "Hợp đồng 28") về việc thuê nhà thầu thi
công chế tạo module với tổng giá trị hợp đồng là 100.870.697.489 đồng (Một
trăm tỷ tám trăm bảy mươi triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn bốn trăm tám
mươi chín đồng). Tại Hợp đồng 28, các bên cũng thống nhất sử dụng Hợp đồng
thầu phụ giữa chúng tôi và E Company Limited (Subcontract Agreement for
Piping and Painting Shop: SubContract No SC0353 -HD - 006 & SubContract
No SC0353 - PP - 004) như một phần của hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, dựa trên những đề nghị của PV
Shipyard và căn cứ trên khối lượng công việc mà PV Shipyard đã thực hiện, tính
đến thời điểm hiện tại chúng tôi đã thanh toán cho PV Shipyard tổng số tiền là:
67.810.921.497 đồng (Sáu mươi bảy triệu tám trăm mười triệu chín trăm hai
mươi mốt nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
Để thực hiện các hạng mục của Hợp đồng 28, A đã bàn giao cho PV
Shipyard một số vật tư, vật liệu; quá trình bàn giao vật tư, vật liệu đều được lập
thành văn bản và có sự xác nhận của A, PV Shipyard và E Company Limited.
Tại biên bản họp về việc giao nhận và quản lý vật tư dự án LSP, ngày 20/2/2020
các bên đã thống nhất trách nhiệm quản lý và bảo quản tất cả vật tư trên bãi
thuộc về trách nhiệm của PV Shipyard.
Trong quá trình tiến hành các thủ tục thanh quyết toán đợt cuối, Công ty A
đã nhiều lần gửi văn bản và thư điện tử (email) đề nghị PV Shipyard thực hiện
việc hoàn trả vật tư, vật liệu còn dư thừa theo như nội dung quy định tại Hợp
đồng thầu phụ giữa chúng tôi và E Company Limited. Nhằm giảm thiểu tối đa
thiệt hại cho các bên, chúng tôi đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị tới PV
Shipyard như: văn bản số 0259/2020/CV-A ngày 15/12/2020, văn bản số
039/2021/CV-A ngày 25/5/2021 để yêu cầu được nhận lại số vật tư này. Trên
tinh thần thiện chí, chúng tôi đã chờ đợi một khoảng thời gian dài từ tháng
12/2020 đến tháng 7/2021 để PV Shipyard có thể thực hiện hoàn trả vật tư theo
như yêu cầu. Tuy nhiên, đến cuối tháng 7/2021, Tổng thầu E đã quyết định cấn
trừ giá trị đối với số lượng vật tư mà PV Shipyard không thể hoàn trả. Đến ngày
36
20/8/2021, Công ty A đã gửi văn bản số 60/2021/CV-A với nội dung thông báo
về việc khấu trừ giá trị vật tư, dịch vụ các hợp đồng thuộc dự án L6 Gói B/C liên
quan đến Hợp đồng 28. Việc PV Shipyard không thể hoàn trả vật tư hoàn toàn
phát sinh do lỗi của PV Shipyard mà không phải là lỗi của Công ty A. Trong quá
trình thực hiện hợp đồng, Công ty A đã từng phản hồi về tình trạng an ninh lỏng
lẻo của PV Shipyard dẫn tới việc mất cắp vật tư, vật liệu tại thư điện tử ngày
22/6/2021.
Ngày 27/12/2021, để phản hồi lại văn bản số 0911/21/CTGK-TM&PTKD
ngày 24/12/2021 của PV Shipyard về việc khối lượng phát sinh và thanh toán
một phần dịch vụ đã quá hạn, Công ty A đã lập bảng thống kê chi tiết các khoản
khấu trừ để gửi tới PV Shipyard. Cụ thể như sau:
STT Hạng mục Thành tiền (VNĐ)
01 Anchor Bolt/ Bu-lông móng 7.987.500
02 Anchor Bolt (HILTI)/ Bu-lông móng 683.431.809
03 QC inspector/ Nhân sự giám sát chất lượng 1.552.202.718
04 Spool lỗi (Defect list)/ Ống bị lỗi 2.399.009.428
05 Cung cấp nhân lực gói AGP 439.078.787
06
Supply manpower for Packing (Chi tiết tại
bảng đính kèm)
3.591.548.202
07
Missing spool (Fab done)/ Ống bị mất sau khi
chế tạo
209.671.773
08
Missing spool (DI)/ Sản phẩm bị mất trước
khi chế tạo
334.971.782
09 Vật tư ống chưa hoàn trả 6.734.626.583
Tổng (đã bao gồm VAT) 15.952.528.582
Căn cứ Mục II Tài liệu Hợp đồng 28 ghi nhận hợp đồng thầu phụ giữa A và
E Company Limited (Subcontract Agreement for Piping and Paiting shop:
Subcontract No SC0353 - HD - 006 & Subcontract No SC0353 - PP - 004) được
gói là cấu thành và được hiểu như một phần của Hợp đồng 28. Điểm 6.5.2
Khoản 6.5 Điều 6 Hợp đồng thầu phụ giữa A và E Company Limited quy định
Giấy xác nhận khoản thanh toán theo tiến độ sẽ bao gồm nhưng không giới hạn
Thư đề nghi, Bảng tóm tắt thanh toán, Bảng khối lượng công việc, Bản vẽ điều
chỉnh, Báo cáo khối lượng với bảng tính toán chi tiết, Biên bản kiểm tra (được
phê duyệt bởi nhà thầu và chủ đầu tư). Căn cứ những quy định vừa nêu, để có cơ
37
sở làm việc với Tổng thầu, ngày 05/10/2021 A đã ban hành văn bản số
0510/CV/2021/A trong đó yêu cầu PV Shipyard tiến hành bàn giao hồ sơ hoàn
công trước ngày 09/10/2021. Ngày 07/10/2021 A tiếp tục ban hành văn bản số
0710/CV/2021/A trong đó yêu cầu PV Shipyard tiến hành bàn giao hồ sơ chất
lượng đối với các hạng mục do PV Shipyard thi công. Sau khi phát hành các văn
bản trên nhưng không nhận được phản hồi của PV Shipyard, ngày 11/10/2021 A
đã ban hành văn bản số 1110/CV/2021/A và văn bản số 1410/CV/2021/A ngày
14/10/2021 trong đó tiếp tục yêu cầu PV Shipyard cung cấp bổ sung hồ sơ thanh
toán, hồ sơ chất lượng bảo cáo nghiệm thu. Ngoài ra, A cũng đã thông báo đến
PV Shipyard chi phí hoàn thiện hồ sơ chất lượng nếu PV Shipyard không bổ
sung các hồ sơ này với tổng số tiền là 516.501.119 đồng (Năm trăm mười sáu
triệu năm trăm lẻ một nghìn một trăm mười chín đồng). Tuy nhiên, sau đó PV
Shipyard đã không bổ sung hồ sơ theo yêu cầu của Công ty A, vì vậy, Công ty A
phải tự thực hiện bổ sung các hồ sơ này và thanh toán mọi chi phí có liên quan.
Như vậy, Công ty PV Shipyard sẽ phải chịu trách nhiệm thanh toán mọi chi
phí liên quan đến việc hoàn thiện hồ sơ chất lượng do A thực hiện và bằng hình
thức khấu trừ vào các khoản thanh toán đến hạn của PV Shipyard. Như vậy, số
tiền mà PV Shipyard phải thanh toán cho A là 16.469.029.701 đồng (Mười sáu
tỷ bốn trăm sáu mươi chín triệu không trăm hai mươi chín nghìn bảy trăm lẻ một
đồng). Mặc dù hai bên đã nhiều lần ngồi lại làm việc nhưng tính đến thời điểm
hiện tại, các bên vẫn chưa thể thống nhất được giá trị khấu trừ liên quan đến
Hợp đồng 28. Như đã phân tích ở trên, với tinh thần thiện chí, A đã nhiều lần
gửi văn bản nhưng không thể tìm được tiếng nói chung với PV Shipyard. Việc
các bên không thể thực hiện việc thanh quyết toán hợp đồng xuất phát từ việc
PV Shipyard đã từ chối thực hiện các nghĩa vụ của mình được quy định trong
Hợp đồng 28.
Do đó, bằng đơn này Công ty A kính đề nghị quý Tòa xem xét giải quyết
yêu cầu phản tố bổ sung của A, cụ thể như sau: Buộc Công ty Cổ phần G phải
thanh toán cho Công ty Cổ phần A giá trị của các vật tư đã không thể hoàn trả và
các hạng mục khác tương đương số 16.469.029.701 đồng (Mười sáu tỷ bốn trăm
sáu mươi chín triệu không trăm hai mươi chín nghìn bảy trăm lẻ một đồng). Số
tiền này sẽ được khấu trừ trực tiếp vào số tiền mà Công ty Cổ phần A còn phải
thanh toán cho Công ty Cổ phần G.
(3) Hợp đồng số AS-LSP-002/02 ký ngày 12/9/2019
Ngày 12/9/2019, A và PV Shipyard đã ký kết Hợp đồng số AS-LSP-002/02
về việc cung cấp dịch vụ mô hình 3D, triển khai các bản vẽ thi công Module
Pipe Rack và Module công nghệ. Tổng giá trị hợp đồng là 1.816.215.500 đồng
(Một tỷ tám trăm mười sáu triệu hai trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng). Các
bên cũng thống nhất thời gian thực hiện hợp đồng là từ ngày 15/9/2019 đến ngày
27/2/2021. Ngày 20/3/2020, các bên đã ký kết Bản sửa đổi số 01 Hợp đồng số
AS-LSP-002/02 để điều chỉnh đơn giá dịch vụ. Đến ngày 10/4/2020, các bên
tiếp tục ký kết Bản sửa đổi số 02 Hợp đồng số AS-LSP-002/02 để điều chỉnh các
đơn giá dịch vụ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, A cũng đã thanh toán cho
38
PV Shipyard số tiền 82.555.250 đồng (Tám mươi hai triệu năm trăm năm mươi
lăm nghìn hai trăm năm mươi đồng).
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, do PV Shipyard thực hiện
công việc chậm trễ, không đúng tiến độ như các bên đã thống nhất tại Hợp đồng
số AS-LSP-002/02 nên Tổng thầu E đã cử nhân sự hỗ trợ PVMS thực hợp đồng
và thực hiện một phần công việc trong Hợp đồng số AS-LSP-002/02.
Ngày 27/7/2020, A đã gửi văn bản số AM-LSP-23 và tài liệu liên quan đến
chi phí đối với phần công việc mà Tổng thầu E đã thực hiện, chi phí đối với
nhân sự hỗ trợ PV Shipyard thực hiện công việc với tổng số tiền là 141.485
USD. Tương đương số tiền 3.290.000.861 đồng (Ba tỷ hai trăm chín mươi triệu
tám trăm sáu mươi môt đông). Trong đó, chi phí chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật là
24.096 USD; Chi phí triển khai bản vẽ cho 09 module là 117.389 USD.
Trong quá trình trao đổi sau đó, Tổng thầu E đã đồng ý giảm toàn bộ số tiền
chi phí chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật là 24.096 USD. Vì vậy, A cũng đồng ý miễn
giảm số tiền này cho PV Shipyard và chỉ yêu cầu PV Shipyard thanh toán chi phí
triển khai bản vẽ cho 09 module là 117.389 USD. Tương đương số tiền
3.037.733.847 đồng (Ba tỷ không trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi ba
nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng) đã bao gồm VAT.
Căn cứ Điều 3 Hợp đồng số AS-LSP-002/02, A có quyền khấu trừ số tiền
này vào bất cứ khoản thanh toán nào đến hạn thanh toán cho PV Shipyard. Ngày
20/8/2021, A đã gửi văn bản số 60/2021/CV-A với nội dung thông báo về việc
khấu trừ số tiền vừa nêu. Tuy nhiên, các bên đã không thể tìm được phương án
để giải quyết vấn đề này.
Do đó, bằng đơn này chúng tôi kính đề nghị quý Tòa xem xét giải quyết
yêu cầu phản tố bổ sung của chúng tôi, cụ thể như sau: Buộc Công ty Cổ phần G
phải thanh toán cho Công ty Cổ phần A giá trị của các vật tư đã không thể hoàn
trả và các hạng mục khác tương đương số 3.037.733.847 đồng (Ba tỷ không
trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn tám trăm bốn mươi bảy
đồng). Số tiền này sẽ được khấu trừ trực tiếp vào số tiền mà Công ty Cổ phần A
còn phải thanh toán cho Công ty Cổ phần G.
Như vậy, tổng số tiền mà PV Shipyard còn phải thanh toán cho A là
21.066.939.448 đồng (Hai mươi mốt tỷ không trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm
ba mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng).
Số tiền này sẽ được khấu trừ trực tiếp vào số tiền mà Công ty Cổ phần A
còn phải thanh toán cho Công ty Cổ phần G. Số nợ bị đơn còn phải trả nguyên
đơn là 8.662.664.703 đồng.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH TMC Nghi S1
trình bày:
Ngày 18/01/2020, Bên A là Công ty Cổ phần G và Bên B là Công ty
TNHH TMC Nghi S1 ký kết hợp đồng số SO.0120008-DV047 v/v Thuê dịch vụ
thi công chế tạo AG Piping gói AGP, dự án Nhà máy HDPE - Tổ hợp hóa dầu
39
L6 (sau đây được gọi là "Hợp đồng số SO.0120008-DV047") có các điều khoản
cơ bản và điều kiện hợp đồng như sau:
Nội dung và khối lượng công việc: Bên A đồng ý giao và Bên B đồng ý
nhận thực hiện: Thi công chế tạo AG Piping gói AGP.
Thời hạn hoàn thành công việc: Bên B hoàn thành công tác chế tạo nêu chi
tiết theo Phụ lục 01 là bắt đầu từ ngày 20/03/2020 và ngày hoàn thành là
21/02/2021. Bên B được gia hạn thời gian khi có lý do hợp lý và được Bên A
chấp thuận bằng văn bản hoặc biên bản.
Giá trị hợp đồng: Tổng giá trị hợp đồng tạm tính bao gồm thuế GTGT là
14.766.345.000 đồng.
Giá trị hợp đồng nêu trên là giá trị tạm tính dựa trên đơn giá cố định và
khối lượng ước tính. Giá trị thực tế cuối cùng sẽ dựa trên đơn giá cố định và
khối lượng hoàn thành thực tế được thống nhất giữa các bên.
Tạm ứng: Bên A tạm ứng trước 5% giá trị hợp đồng cho Bên B trong vòng
05 ngày kể từ ngày nhận được giấy đề nghị tạm ứng từ Bên B. Khoản tạm ứng
sẽ bị giảm trừ 5% trong các lần thanh toán tiếp theo cho đến khi giá trị tạm ứng
được thu hồi hết.
- Ngày 22/01/2020, Bên A và Bên B ký Sửa đổi Hợp đồng số 01, theo Hợp
đồng số SO.0120008-DV047 (không tách rời hợp đồng) với nội dung điều chỉnh
điều khoản thanh toán của Hợp đồng số SO.0120008-DV047 theo Phụ lục 01
đính kèm. Nội dung điều chỉnh Điều 11 của Hợp đồng như sau:
"Điều 11. Thanh toán:
11.1 Thanh toán khối lượng thi công theo tiến độ công việc hàng tháng.
Bên A sẽ thanh toán cho Bên B:
- Đến 80% giá trị khối lượng công việc hoàn thành hàng tháng trong vòng
30 ngày sau khi Bên A nhận được đầy đủ hồ sơ thanh toán sau:
+ Công văn đề nghị thanh toán của Bên B (bản gốc);
+ Hóa đơn GTGT của Bên B cho 100% giá trị công việc hoàn thành (bản gốc);
+ Biên bản xác nhận khối lượng hoàn thành thực tế hàng tháng có xác
nhận của đại diện có thẩm quyền của Bên A và Bên B (bản gốc);
+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán (bản gốc).
- Đến 95% giá trị khối lượng công việc hoàn thành hàng tháng trong vòng
30 ngày kể từ ngày Bên A hoàn thành công tác vận chuyển sản phẩm hoàn thiện
của Bên B tới công trường nhà máy hóa dầu L6 và Bên A nhận được đầy đủ hồ
sơ thanh toán như sau:
+ Công văn đề nghị thanh toán của Bên B (bản gốc);
+ Biên bản bàn giao khối lượng sản phẩm hoàn thiện tới công trường nhà
máy hóa dầu L6 (bản copy);
+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán (bản gốc).
40
11.2 Thanh toán phần giá trị còn lại của hợp đồng. Bên A có trách nhiệm
thanh toán phần giá trị còn lại của hợp đồng trong vòng 30 ngày sau khi bên B
hoàn thành công việc theo quy định của Hợp đồng và xuất trình cho Bên A bộ
chứng từ hợp lệ như sau:
+ Công văn đề nghị thanh toán của Bên B (bản gốc);
+ Biên bản xác nhận khối lượng hoàn thành thực tế có xác nhận của đại
diện có thẩm quyền của hai Bên (bản gốc);
+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán (bản gốc);
+ Bảng quyết toán khối lượng và giá trị hợp đồng (bản gốc);
+ Bảo lãnh bảo hành theo quy định của Hợp đồng".
- Về quá trình thực hiện Hợp đồng số SO.0120008-DV047 và Sửa đổi Hợp
đồng số 1 theo Hợp đồng số SO.0120008-DV047:
Để thuận tiện trong trình bày, chúng tôi xin được viết tắt tên gọi của các
bên như sau:
Bên A: Công ty Cổ phần G được viết tắt là "Công ty PV Shipyard".
Bên B: Công ty TNHH TMC Nghi S1 được viết tắt là "Công ty TMC".
- Thi công và nghiệm thu, xác nhận khối lượng hoàn thành: Trong quá trình
thực hiện Hợp đồng số SO.0120008-DV047, phía Công ty TMC đã hoàn thành
gia công, lắp đặt theo đúng yêu cầu của Hợp đồng. Đại diện của hai bên gồm
Công ty PV Shipyard và Công ty TMC đã nghiệm thu các công đoạn hoàn thành
theo đúng quy định của hợp đồng.
Sau từng đợt thi công, Công ty PV Shipyard đã nghiệm thu và ký duyệt
Bảng giá trị khối lượng hoàn thành từng đợt (gồm 11 đợt) để làm cơ sở cho
Công ty TMC xuất hóa đơn GTGT và lập giấy đề nghị thanh toán;
- Tại mỗi đợt xác nhận giá trị khối lượng hoàn thành thì hai bên có lập
Thỏa thuận bù trừ công nợ, nêu rõ các nội dung:
+ Giá trị nghiệm thu hoàn thành và xuất hóa đơn (từng đợt) theo hợp đồng;
+ Số tiền bù trừ công nợ từng đợt;
+ Số tiền còn lại Công ty TMC phải thu Công ty PV Shipyard (từng đợt).
- Quá trình thanh toán:
Căn cứ theo đúng quy định tại Sửa đổi Hợp đồng số 1 theo Hợp đồng số
SO.0120008-DV047 thì Công ty PV Shipyard có trách nhiệm thanh toán cho
Công ty TMC như sau:
- Đến 95% giá trị khối lượng công việc hoàn thành hàng tháng trong vòng
30 ngày kể từ ngày Bên A hoàn thành công tác vận chuyển sản phẩm hoàn thiện
của Bên B tới công trường nhà máy hóa dầu L6 và Bên A nhận được đầy đủ hồ
sơ thanh toán như sau:
+ Công văn đề nghị thanh toán của Bên B;
41
+ Biên bản bàn giao khối lượng sản phẩm hoàn thiện tới công trường nhà
máy hóa dầu L6 (bản copy);
+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán.
- Thanh toán phần giá trị còn lại của Hợp đồng trong vòng 30 ngày sau khi
bên B hoàn thành công việc theo quy định của Hợp đồng và xuất trình cho Bên
A bộ chứng từ hợp lệ như sau:
+ Công văn đề nghị thanh toán của Bên B;
+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán;
+ Bảo lãnh bảo hành theo quy định của Hợp đồng.
- Theo Bảng theo dõi chi tiết công nợ phải thu Dự án Shipyard của Công ty
Nghi Sơn nộp lên Tòa án đã thể hiện chi tiết:
+ Giá trị hợp đồng ký kết: 14.766.345.000 đồng
+ Giá trị nghiệm thu hoàn thành chưa thuế GTGT: 10.949.984.325 đồng
+ Giá trị nghiệm thu hoàn thành gồm thuế GTGT: 12.044.982.758 đồng
+ Số tiền Shipyard đã thanh toán và bù trừ công nợ: 9.240.097.628 đồng
+ Số tiền còn phải thanh toán (gốc): 2.804.885.130 đồng
- Xác nhận công nợ và quá trình yêu cầu thanh toán công nợ tồn đọng:
Ngày 22/02/2022, Công ty PV Shipyard có Thư xác nhận phải trả nhà cung
cấp gửi Công ty TMC. Nội dung yêu cầu Công ty TMC xác nhận tính đúng đắn của
các thông tin liên quan đến khoản nợ của Công ty PV Shipyard với Công ty TMC:
+ Số tiền Công ty PV Shipyard phải trả Công ty TMC tại ngày 31/12/2021
là 3.104.885.130 đồng. Phía Công ty TMC đã xác nhận và phản hồi cho Công ty
PV Shipyard khoản nợ trên tính đến 31/12/2021.
+ Đến ngày 26/01/2022, Công ty PV Shipyard đã thanh toán thêm cho
Công ty TMC số tiền 300.000.000 đồng.
Nay số nợ gốc Công ty PV Shipyard còn phải thanh toán cho Công ty TMC
là 2.804.885.130 đồng và tiền lãi chậm trả tính 10%/ năm tính từ ngày 22/4/2022
đến ngày 25/3/2026 là 3 năm 11 tháng 03 ngày: 2.804.885.130 đồng x 10%/
năm x 47 tháng 03 ngày = 1.100.917.513 đồng
Nay Công ty TMC yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty PV Shipyard
phải trả nợ gốc là 2.804.885.130 đồng và nợ lãi là 1.100.917.513đ
Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi: 2.804.885.130 đồng + 1.100.917.513 đồng =
3.905.802.643 đồng (Ba tỷ chín trăm lẻ năm triệu, tám trăm lẻ hai nghìn sáu
trăm bốn mươi ba đồng).
4. Người làm chứng: E – Thầu chính EPC gói B (NM HDPE) DA L6 trình
bày:
42
Samsung E&A Co., Ltd đã nhận được Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu
chứng cứ số 31/2025/QĐ-CCTLCC ngày 21/11/2025 và Thông báo về việc cung
cấp tài liệu chứng cứ số 68/2025/TB-TA ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân
Khu vực Y - Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng văn bản này, Samsung E&A Co.,
Ltd trình bày ý kiến như sau:
Samsung E&A Co., Ltd (có tên cũ E) là nhà thầu chính EPC Gói B (Nhà
máy HDPE) và Gói C (Nhà máy PP) Dự án L6; Địa chỉ: A4 - 7/18 Trung tâm đô
thị P5, phường R3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Để thực hiện dự án thì
Samsung E&A Co., Ltd ("Samsung E&A") đã ký hợp đồng với nhà thầu phụ là
Công ty Cổ phần A ("A") để thực hiện một số hạng mục công việc theo quy định
của pháp luật. Theo đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng, Samsung E&A và A
đã thống nhất thỏa thuận việc phối hợp triển khai, nghiệm thu và thanh toán các
công việc thuộc phạm vi hợp đồng được thực hiện trực tiếp giữa hai bên. Đối
với toàn bộ khối lượng công việc do A thực hiện, A tự chịu trách nhiệm trước
Samsung E&A theo đúng các điều khoản của hợp đồng đã ký kết. Đến nay,
Samsung E&A và A thực hiện xong công việc đã giao kết, hoàn tất việc quyết
toán và thanh lý hợp đồng theo đúng quy định pháp luật và thỏa thuận giữa
Samsung E&A và A.
Do đó, Samsung E&A khẳng định rằng A và Công ty Cổ phần G (“PVMS”)
giao kết và thực hiện hợp đồng là quan hệ độc lập về mặt pháp lý giữa hai bên
nên quyền và nghĩa vụ được điều chỉnh theo sự thỏa thuận của hai bên và theo
quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Xây dựng và các văn bản liên quan. Samsung
E&A và PVMS không có quan hệ ràng buộc về pháp lý, không giao kết bất kỳ
hợp đồng hay thỏa thuận nào.
Đối với yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án nhân dân Khu vực Y - Thành
phố Hồ Chí Minh, Samsung E&A kính gửi Quý Tòa các nội dung như sau:
- Quy trình giám sát, quản lý đối với thầu chính Công ty Cổ phần A và thầu
phụ Công ty Cổ phần G khi thực hiện thi công gói thầu.
Đối với thầu chính A, Samsung E&A thực hiện việc giám sát và quản lý
nhà thầu theo đúng các điều khoản của hợp đồng đã ký kết. Trước hết, trong quá
trình thi công, A có nghĩa vụ gửi báo cáo tiến độ hàng tháng cho Samsung E&A
và sau khi hoàn thành công việc, A gửi thông báo bằng văn bản để Samsung
E&A thực hiện việc kiểm tra, thử nghiệm và đánh giá mức độ hoàn thành theo
hợp đồng.
Đối với thầu phụ PVMS, Samsung E&A không phải là bên ký kết hợp
đồng và không trực tiếp quản lý hay giám sát hoạt động của PVMS bằng bất kỳ
hình thức nào. Các vấn đề liên quan đến quản lý, điều hành, giám sát thi công
thầu phụ PVMS được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa A và PVMS.
- Quy trình cung cấp vật tư, quản lý và sử dụng vật tư thi công các hạng
mục của tất cả các gói thầu mà thầu phụ Công ty Cổ phần G thi công.
Theo hợp đồng giữa Samsung E&A và A, trước khi thực hiện giao vật tư, A
có nghĩa vụ gửi các văn bản thông báo cho Samsung E&A, bao gồm Thông báo
43
bằng văn bản cho Samsung E&A và Thông báo gửi hàng. Đồng thời, A cũng sẽ
có nghĩa vụ nộp các hồ sơ theo yêu cầu của Samsung E&A về xếp dỡ và chằng
buộc hàng hóa an toàn trong quá trình vận chuyển, kiểm tra hải quan, và lưu giữ
hàng để Samsung E&A có thể kiểm tra và phê duyệt. Sau khi nhận được vật tư,
Samsung E&A có quyền kiểm tra và thử nghiệm tất cả vật tư do A cung cấp cũng
như tất cả hồ sơ đi kèm theo yêu cầu.
Đối với quy trình cung cấp vật tư, quản lý và sử dụng vật tư thi công các
hạng mục của tất cả các gói thầu mà thầu phụ PVMS thi công được thực hiện
theo thỏa thuận giữa A và thầu phụ PVMS. Samsung E&A không giao kết hợp
đồng với PVMS nên việc xác định số lượng vật tư thi công thì A phải chịu trách
nhiệm trước Samsung E&A.
- Quá trình thi công các gói thầu đã xảy ra mất, hao hụt vật tư; giữa chủ
thầu Samsung E&4 Co., Ltd. với thầu chính Công ty Cổ phần A và thầu phụ
Công ty Cổ phần G có lập biên bản xác nhận việc mất, hao hụt vật tư, giá trị của
số vật tư mất, hao hụt không? Giá trị tính ra tiền VND là bao nhiêu?
Samsung E&A và PVMS không có bất cứ biên bản nào ghi nhận việc mất,
hao hụt vật tư. Samsung E&A cũng không có thông tin về việc A và PVMS có
lập biên bản xác nhận mất, hao hụt vật tư hay không và các bên cũng không có
biên bản 3 bên nào thể hiện việc này.
- Việc khấu trừ vật tư bị mất, hao hụt của Samsung E&A Co., Ltd trên giá
trị của hợp đồng với Công ty Cổ phần A; Công ty Cổ phần G có biết không?
Như nội dung đã trình bày nêu trên thì do Samsung E&A không giao kết
hợp đồng, không có văn bản thỏa thuận và không trao đổi trực tiếp công việc gì
với PVMS nên Samsung E&A không nắm được việc PVMS có biết hay không
đối với các khoản khấu trừ giữa Samsung E&A và A. Samsung E&A nhận thấy
đây là việc riêng của A và PVMS nên Samsung E&A không có ý kiến.
- Về các khoản tiền khấu trừ và lý do khấu trừ trong các email Samsung
E&A Co., Ltd. gửi cho Công ty Cổ phần A ngày 03/01/2021, 02/3/2021,
30/6/2021, 16/8/2021 và 14/12/2023.
+ Đối với email ngày 03/01/2021, theo hồ sơ lưu trữ hiện có, Samsung
E&A chưa tìm thấy dữ liệu tương ứng.
+ Vào ngày 02/3/2021: Samsung E&A đã gửi email cho A, thông báo về
việc khấu trừ số tiền 117.389 USD liên quan đến bản vẽ Module.
+ Vào ngày 30/6/2021: Samsung E&A đã gửi email cho A, thông báo về
việc khấu trừ số tiền 200.000 USD liên quan đến bản vẽ Module.
+ Đối với nội dung "Vào ngày 14/12/2023: SAMSUNG E&A CO., LTD đã
gửi email cho A thông báo về việc khấu trừ số tiền 2.619.828.150 VND; và liệu
các khoản khấu trừ liên quan đến email nêu trên đã được thực hiện xong hay
chưa, cũng như lý do của các khoản khấu trừ đó" thì SAMSUNG E&A xác định
như sau: Theo hồ sơ của Samsung E&A, ngày thông báo khấu trừ trên là ngày
29/6/2021.
44
Các khoản khấu trừ giữa Samsung E&A và A đã được các bên thỏa thuận
đồng ý và giải quyết dứt điểm toàn bộ và đã thanh lý hợp đồng.
- Trong vụ án này Samsung E&A Co., Ltd. có yêu cầu độc lập với Công ty
Cổ phần A hay Công ty Cổ phần G không?
Ngoài những nội dung nêu trên thì Samsung E&A Co., Ltd. xác nhận rằng
các hợp đồng giữa Samsung E&A và A đã được quyết toán và thanh lý.
Samsung E&A và A không còn bất kỳ yêu cầu khiếu nại nào đang tồn đọng đối
với nhau. Do đó, Samsung E&A không có yêu cầu độc lập nào đối với PVMS
trong vụ án này.
Ngoài ra, theo các Thư giải chấp và miễn trừ khiếu nại do A phát hành, trên
cơ sở A đã nhận đầy đủ các khoản thanh toán cuối cùng từ Samsung E&A, A đã
chính thức xác nhận cam kết không khiếu nại, tranh chấp, khởi kiện, yêu cầu bồi
thường hoặc trách nhiệm pháp lý khác phát sinh hoặc có liên quan đến việc thực
hiện các hợp đồng giữa Samsung E&A và A.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2026/KDTM-ST ngày 31
tháng 03 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực Y, Thành phố Hồ Chí Minh
đã quyết định:
[1] Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Công ty Cổ phần G đối với bị đơn Công ty Cổ phần A sau khi khấu trừ số tiền
phản tố của bị đơn Công ty A được Tòa án chấp nhận.
Buộc bị đơn Công ty A có nghĩa vụ còn phải thanh toán cho nguyên đơn
Công ty Cổ phần G số tiền nợ gốc và nợ lãi chậm trả là: 12.081.230.192 đồng
(Mười hai tỷ không trăm tám mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn một trăm
chín mươi hai đồng).
Trong số nợ gốc và nợ lãi chậm trả 12.081.230.192 đồng (Mười hai tỷ
không trăm tám mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn một trăm chín mươi hai
đồng) có số tiền nợ gốc và nợ lãi chậm trả của các hợp đồng được nguyên đơn
Công ty PV Shipyard và bị đơn Công ty A thống nhất và được công nhận sự
thỏa thuận gồm các hợp đồng sau:
- Hợp đồng số PVMS.0119034 ngày 19/11/2019: Nợ gốc là 881.382.051
đồng và lãi chậm trả là 596.950.445 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày 25/11/2019: Nợ gốc là
298.495.533 đồng và lãi chậm trả là 198.081.635 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020: Nợ gốc là 654.634.200
đồng và lãi chậm trả là 391.013.008 đồng.
- Hợp đồng số SO.0319/HCNS/2009 ký ngày 26/8/2019: Nợ gốc là
493.310.044 đồng và lãi chậm trả là 194.806.853 đồng
- Hợp đồng số PVMS.0120018 ký ngày 28/5/2020: Nợ gốc là
2.566.228.500 đồng và lãi chậm trả là 1.665.902.654 đồng
45
- Hợp đồng số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021: Nợ gốc là 194.054.922
đồng và lãi chậm trả là 102.286.349 đồng.
Tổng cộng số tiền nợ gốc và tiền lãi chậm trả là: 5.088.105.250 đồng +
3.149.040.944 đồng = 8.237.146.194 đồng (Tám tỷ hai trăm ba mươi bảy triệu,
một trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm chín mươi bốn đồng).
- Tiền lãi chậm trả phát sinh bị đơn Công ty A có nghĩa vụ phải trả đối với
các hợp đồng; hợp đồng số 129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020; Hợp đồng
số PVMS.0119034 ngày 19/11/2019; Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày
25/11/2019; Hợp đồng số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020; Hợp đồng số
SO.0319/HCNS/2009 ký ngày 26/8/2019; Hợp đồng số PVMS.0120018 ký ngày
28/5/2020 và Hợp đồng số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021 và Hợp đồng số
SO.0116017-DV026 và Hợp đồng SO.0120008-DV047 ngày 18/01/2020 được
tính từ ngày 26/3/2026.
- Tiền lãi chậm trả phát sinh nguyên đơn Công ty PV Shipyard có nghĩa vụ
phải trả đối với Hợp đồng số SO.0116017-DV026 và Hợp đồng SO.0120008-
DV047 ngày 18/01/2020 được tính từ ngày 26/3/2026.
- Tiền lãi chậm trả của các hợp đồng PVMS.0119028 ngày 20/11/2019;
Hợp đồng PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 và Hợp đồng số AS-LSP-002/02
ngày 12/9/2019 được tính từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án.
[2] Chấp nhận yêu cầu độc lập của Công ty TNHH TMC Nghi S1 đối với
nguyên đơn Công ty Cổ phần G; buộc Công ty Cổ phần G có nghĩa vụ thanh
toán cho Công ty TNHH TMC Nghi S1 số nợ gốc là 2.804.885.130 đồng và tiền
lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là 1.100.917.513 đồng.
Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi: 2.804.885.130 đồng + 1.100.917.513 đồng =
3.905.802.643 đồng (Ba tỷ chín trăm lẻ năm triệu tám trăm lẻ hai nghìn sáu trăm
bốn mươi ba đồng).
[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Bị đơn Công ty Cổ phần A phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ
thẩm là 120.081.230 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Công ty A đã nộp
167.600.000 đồng theo Biên lai số 0003460 ngày 09/11/2022; Biên lai số
0003980 ngày 16/3/2022 và Biên lai số 0003029 ngày 23/8/2022 của Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nay là Thi
hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh - Phòng Thi hành án dân sự khu vực
11- Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần A được nhận lại số tiền tạm ứng
án phí còn dư 47.518.770 đồng.
Nguyên đơn Công ty Cổ phần G phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ
thẩm là 140.826.902 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
133.457.000 đồng theo Biên lai số 0001297 ngày 26/10/2021 và Biên lai số
0002609 ngày 14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Vũng Tàu
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh -
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ
phần G còn phải nộp là 7.369.902 đồng.
46
Công ty TNHH TMC Nghi S1 được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí
54.500.000 đồng theo Biên lai số 0000925 ngày 21/7/2023 Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nay là Thi hành án dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11- Thành phố Hồ
Chí Minh.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án
của đương sự theo luật định.
Ngày 06/4/2026, nguyên đơn Công ty Cổ phần G kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm với yêu cầu: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn
phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 47.365.749.593 đồng và tiền lãi chậm trả
theo thỏa thuận của hợp đồng và Điều 306 Luật Thương mại; Không chấp nhận
yêu cầu phản tố của bị đơn; Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Công ty
TNHH TMC Nghi S1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị chấp
nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn thì
đề nghị hủy án sơ thẩm do cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, không xem xét
đánh giá chứng cứ toàn diện khách quan, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn.
Bị đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Án sơ thẩm giải quyết có căn cứ pháp
luật, không vi phạm thủ tục tố tụng, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý với yêu cầu kháng
cáo của nguyên đơn; Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với phần yêu cầu
của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự tại cấp
phúc thẩm thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ
phần G. Bản án sơ thẩm giải quyết là có căn cứ pháp luật, không vi phạm thủ tục
tố tụng nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên do Tòa án cấp sơ
thẩm có nhầm lẫn trong việc tính toán nên cần điều chỉnh lại cho phù hợp:
Tổng số tiền nguyên đơn được chấp nhận tính đúng là: (22.655.216.406
đồng + 10.086.394.646 đồng +1.181.390.115 đồng + 236.060.000 đồng +
47
5.088.105.250 đồng = 39.247.166.417 đồng tiền gốc) + 3.294.571.934 tiền lãi =
42.541.738.351 đồng;
Số tiền phản tố bị đơn được chấp nhận đúng là: 16.469.029.701 đồng +
4.375.975.900 đồng + 2.754.532.885 đồng + 6.301.692.115 đồng =
29.901.230.601 đồng;
Tổng số tiền sau khi đối trừ, bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn là
12.640.507.750 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần G làm
trong hạn luật định nên chấp nhận.
[2] Xét đơn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn có đủ căn cứ để xác định:
[2.1] Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều
xác nhận giữa các đương sự có ký kết các hợp đồng thi công, hợp đồng dịch vụ
và hợp đồng thuê tài sản. Nay các đương sự chỉ tranh chấp giá trị phải thanh
toán và hiệu lực của hợp đồng.
- Giữa nguyên đơn và bị đơn xác định chỉ tranh chấp các hợp đồng sau:
+ Hợp đồng số PVMS.0119028 ngày 20/11/2019 tranh chấp về số tiền phải
thanh toán, tiền lãi chậm trả và các khoản phải khấu trừ.
+ Hợp đồng PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 tranh chấp về số tiền phải
thanh toán, tiền lãi chậm trả và các khoản phải khấu trừ.
+ Hợp đồng AS-LSP-002/02 ngày 12/9/2019 tranh chấp về nội dung Công
ty E trực tiếp đưa nhân công từ nước ngoài vào thi công thiết kế mô hình 3D và
bản vẽ thi công Module, đã khấu trừ trực tiếp đối với Công ty A 117.389 USD.
+ Hợp đồng dịch vụ nâng hạ hàng tại cảng (Bản chào giá số
129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020).
+ Hợp đồng số SO.0116017 - DV026 ngày 19/4/2016 tranh chấp về số tiền
phải thanh toán.
Công ty TNHH TMC Nghi S1 và nguyên đơn tranh chấp giá trị còn lại của
hợp đồng thi công số SO.0120008-DV047 ngày 18/01/2020 về nợ gốc và lãi
chậm trả.
[2.2] Đối với các Hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất thỏa
thuận được số nợ gốc và lãi chậm trả phát sinh gồm: Hợp đồng số
PVMS.0119034 ngày 19/11/2019; Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày
25/11/2019; Hợp đồng số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020; Hợp đồng số
SO.0319/HCNS/2009 ký ngày 26/8/2019; Hợp đồng số PVMS.0120018 ký ngày
28/5/2020; Hợp đồng số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021. Bị đơn có nghĩa vụ
48
thanh toán nợ gốc và lãi chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 cho nguyên đơn với
tổng số tiền là 8.237.146.194 đồng (Tám tỷ hai trăm ba mươi bảy triệu, một trăm
bốn mươi sáu nghìn một trăm chín mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc là
5.088.105.250 đồng; lãi chậm trả là 3.149.040.944 đồng. Phần thỏa thuận này của
nguyên đơn và bị đơn tại cấp sơ thẩm không có kháng cáo, phát sinh hiệu lực.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn
với Hợp đồng số PVMS.0119028 ngày 20/11/2019:
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải
thanh toán 28.238.046.698 đồng:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ các bên cung cấp xác nhận giá trị công nợ thi
công đối với số tiền của các đợt trước là 11.936.216.204 đồng được các đương
sự xác nhận khối lượng thi công hoàn thành và giá trị phải thanh toán, còn số
tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán của đợt 11 là 16.301.830.494
đồng thì bị đơn mới chỉ xác nhận khối lượng công việc nhưng chưa xác nhận giá
trị phải thanh toán số tiền trên. Bởi trong đó có phần giá trị phía bị đơn trực tiếp
đưa nhân lực tham gia vào việc gia công chế tạo giá đỡ ống, chế tạo ống tại
xưởng; nhân lực kiểm tra, lập hồ sơ nghiệm thu và đóng gói vận chuyển sản
phẩm giao cho Samsung E&A Co.,Ltd, tổng giá trị bị đơn thực hiện thay cho
nguyên đơn là 5.582.830.292 đồng. Bị đơn đã có văn bản số 60/2021/CV-A
ngày 20/8/2021 yêu cầu phải khấu trừ số tiền này.
Khi bị đơn thực hiện các công việc nêu trên thay nguyên đơn; nguyên đơn
biết nhưng không có ý kiến; do đó có căn cứ khấu trừ giá trị bị đơn thực hiện
công việc thay nguyên đơn là: 5.582.830.292 đồng được khấu trừ vào giá trị
thanh toán đợt 11 của hợp đồng PVMS.0119028:
16.301.830.494 đồng - 5.582.830.292 đồng = 10.719.000.202 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
đối với số nợ gốc của hợp đồng PVMS.0119028 là:
11.936.216.204 đồng + 10.719.000.202 đồng = 22.655.216.406 đồng.
+ Đối với yêu cầu tính lãi trên số tiền chậm trả của Hợp đồng số
PVMS.0119028 ngày 20/11/2019 là 13.675.587.967 đồng:
Xét, qua các tài liệu là các Email, công văn thì bị đơn nhiều lần yêu cầu
nguyên đơn phải lập hồ sơ thanh quyết toán khối lượng nhưng giữa các bên
không thống nhất, công việc thi công không có đơn giá, do đó lỗi chậm trả
không thuộc về bị đơn. Vì vậy nguyên đơn yêu cầu trả lãi chậm trả để tính lãi
đối với bị đơn là không có căn cứ.
- Xét yêu cầu phản tố của bị đơn đối với hợp đồng PVMS.0119028, yêu
cầu khấu trừ số tiền chủ đầu tư Công ty Samsung khấu trừ giá trị vật tư không
hoàn trả đối với bị đơn và các khoản bị đơn phải trực tiếp thi công, hoàn thiện
hồ sơ nghiệm thu là 16.469.029.701 đồng, gồm:
+ Tiền liên quan đến khấu trừ mất vật tư và chi phí nhân công, khấu trừ lỗi
sai dẫn đến hư sản phẩm là 15.952.528.582 đồng
49
+ Chi phí lập, hoàn thiện hồ sơ chất lượng là 516.501.119 đồng.
Tổng cộng: 15.952.528.582 đồng + 516.501.119 đồng = 16.469.029.701 đồng
Xét, ngày 20/02/2020 giữa bị đơn và nguyên đơn có lập biên bản liên quan
đến việc giao nhận và quản lý vật tư dự án Tổ hợp Hóa dầu L6, nội dung thể
hiện:
+ Trách nhiệm quản lý vật tư trên bến bãi PV Shipyard do PV Shipyard
chịu trách nhiệm quản lý và bảo quản tất cả các vật tư khi về đến PV Shipyard;
+ Quy trình xuất vật tư và việc bảo đảm an toàn vật tư do PV Shipyard
thực hiện.
Căn cứ quy định tại khoản 4.2 Điều 4 của Hợp đồng PVMS.0119028 các
bên giao kết: “Trong trường hợp Bên B không thực hiện hoặc chậm trễ trong
việc thực hiện các công việc theo yêu cầu của Hợp đồng và Bên B không có bất
kỳ biện pháp khắc phục nào trong thời hạn mười (10) ngày từ lúc nhận được văn
bản thông báo của Bên A thì Bên A có quyền tự thực hiện hoặc thuê đơn vị khác
thực hiện với kinh phí của Bên B và sẽ khấu trừ vào bất cứ khoản thanh toán
nào đến hạn thanh toán cho Bên B”.
Qua việc giao kết hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn; giữa bị đơn với
chủ đầu tư Công ty Samsung E&A Co.,Ltd liên quan đến thời hạn bàn giao sản
phẩm cho chủ đầu tư của dự án Tổ hợp Hóa dầu L6. Phía bị đơn nhiều lần có
văn bản yêu cầu nguyên đơn hoàn tất công việc và lập hồ sơ để có căn cứ thanh
quyết toán với chủ đầu tư Samsung E&A Co.,Ltd. Bị đơn căn cứ hợp đồng giao
kết nêu trên đã thực hiện một số công việc và hoàn tất hồ sơ thanh toán, hồ sơ
chất lượng; phía nguyên đơn không có ý kiến phản đối.
Từ các tài liệu, chứng cứ và nhận định nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu
cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn; buộc nguyên đơn phải khấu trừ số
tiền 16.469.029.701 đồng.
Sau khi đối trừ, bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 6.186.186.705 đồng:
(22.655.216.406 đồng - 16.469.029.701 đồng = 6.186.186.705 đồng)
[2.4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn
đối với Hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc là 10.375.762.204 đồng và nợ lãi
tính đến ngày 25/3/2026 là 6.163.047.100 đồng.
Giữa nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận số tiền nợ gốc 10.375.762.204
đồng; bị đơn còn phải thanh toán sau khi khấu trừ 289.367.558 đồng tiền phế liệu:
10.375.762.204 đồng – 289.367.558 đồng = 10.086.394.646 đồng.
+ Xét yêu cầu trả lãi trên số nợ gốc chậm trả tính đến ngày 25/3/2026 là
6.163.047.100 đồng: Do giữa các đương sự không thống nhất được việc giá trị
thi công giảm của hợp đồng số PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 và chi phí mà
giá trị trước đã thống nhất nhưng sau đó nguyên đơn không đưa vào hồ sơ và lập
hồ sơ quyết toán. Qua các tài liệu là các Email, công văn thì bị đơn nhiều lần
50
yêu cầu nguyên đơn phải lập hồ sơ thanh quyết toán khối lượng, khấu trừ số tiền
do phía nguyên đơn không hoàn trả vật tư dư, do đó lỗi chậm trả không thuộc về
bị đơn. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu trả lãi chậm trả trên số công nợ là không có
căn cứ chấp nhận. Chỉ chấp nhận số nợ gốc sau khi cấn trừ tiền phế liệu cho bị
đơn như án sơ thẩm xác định 10.086.394.646 đồng là phù hợp.
- Xét yêu cầu phản tố của bị đơn đối với hợp đồng PVMS.0119029: Yêu
cầu khấu trừ số tiền chủ đầu tư Công ty Samsung khấu trừ đối với bị đơn:
+ Yêu cầu khấu trừ 60% số tiền 200.002USD là 120.000USD (làm tròn)
liên quan đến việc chủ đầu tư Công ty Samsung khấu trừ và A phải thực hiện
thay nguyên đơn liên quan đến bản vẽ Module: 120.000USD x 23.465VND/1
USD = 2.815.800.000 đồng.
Liên quan đến việc nguyên đơn làm mất vật tư không hoàn lại được chủ
đầu tư Công ty Samsung khấu trừ và bị đơn phải thực hiện thay.
Chủ đầu tư Công ty Samsung đã khấu trừ giá trị mất vật tư cho A là
200.002USD vào ngày 30/6/2021. Chia sẻ cho hợp tác phía bị đơn yêu cầu
nguyên đơn phải chịu 60% giá trị khấu trừ của chủ đầu tư là 120.000USD với tỷ
giá 23.465VND/USD, xét có căn cứ có lợi cho nguyên đơn (tỷ giá USD ngày
31/3/2026 (ngày xét xử sơ thẩm) do Ngân hàng nhà nước quy định là
25.102VND/USD) nên chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; buộc nguyên đơn
phải có nghĩa vụ khấu trừ số tiền 2.815.800.000 đồng vào nghĩa vụ của bị đơn
đối với nguyên đơn đối với Hợp đồng PVMS.0119029.
Theo biên bản họp ngày 22/02/2020 giữa bị đơn và nguyên đơn thỏa thuận:
Công ty PV Shipyard có trách nhiệm quản lý và bảo quản tất cả vật tư của dự án;
quy trình xuất vật tư và bảo đảm an toàn vật tư do nguyên đơn Công ty PV
Shipyard hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Việc mất mát vật tư là có thật, nguyên đơn không hoàn lại được vật tư, do
đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn buộc nguyên đơn phải hoàn
trả cho bị đơn giá trị vật tư bị mất tương đương số tiền 2.815.800.000 đồng.
- Đối với yêu cầu giảm trừ số tiền 1.560.175.900 đồng của bị đơn:
Xét, tháng 4 năm 2021 giữa bị đơn và nguyên đơn có ký văn bản sửa đổi
hợp đồng số 06; ký phát sinh giảm của hợp đồng PVMS.0119029 là
1.560.175.900 đồng nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đối với
số tiền giảm trừ nguyên đơn đã xác nhận điều chỉnh giảm giá trị thanh quyết
toán của hợp đồng PVMS.0119029.
Như vậy, tổng số tiền yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty A đối với hợp
đồng PVMS.0119029 được chấp nhận đúng là:
2.815.800.000 đồng + 1.560.175.900 đồng = 4.375.975.900 đồng, chứ
không phải 4.665.343.458 đồng như án sơ thẩm tính, vì số tiền 289.367.558
đồng là tiền phế liệu đã trừ trước đó nên điều chỉnh lại số tiền này cho phù hợp.
Như vậy, chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối
với hợp đồng PVMS.0119029 sau khi khấu trừ số tiền phản tố của bị đơn được
51
Tòa án chấp nhận; bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số nợ liên
quan đến hợp đồng PVMS.0119029 là:
10.086.394.646 đồng - 4.375.975.900 đồng = 5.710.418.746 đồng.
[2.5] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với Hợp đồng số AS-LSP-002/02
ngày 12/9/2019 về cung cấp mô hình 3D và triển khai bản vẽ thi công Module:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc là: 1.181.390.115 đồng và lãi chậm
trả tính đến ngày 25/3/2026 là 693.761.692 đồng.
Xét, đối với hợp đồng AS-LSP-002/02, bên nguyên đơn mới chỉ thi công
được một phần giá trị của hợp đồng là 1.181.390.115 đồng; nguyên đơn vi phạm
thời hạn thực hiện hợp đồng vì không có đủ nhân lực, vật lực để thực hiện hợp
đồng. Để kịp tiến độ cho công trình, chủ đầu tư là Công ty E Company đã đưa
chuyên gia từ nước ngoài vào để thực hiện công việc mà lẽ ra nguyên đơn phải
thực hiện.
Đối với giá trị thi công đối với AS-LSP-002/02 giữa nguyên đơn và bị đơn
đã xác nhận giá trị hoàn thành phải thanh toán là 1.181.390.115 đồng. Do đó có
đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn với giá trị phải
thanh toán là 1.181.390.115 đồng.
+ Về yêu cầu tính lãi trên số tiền phải thanh toán, số tiền lãi là 693.761.692
đồng: Do nguyên đơn không hoàn thành dịch vụ cung cấp thiết kế mô hình 3D
và triển khai bản vẽ thi công, chủ đầu tư Công ty E phải trực tiếp thuê nhân công
từ nước ngoài vào thực hiện công việc mà theo giao kết của hợp đồng là nghĩa
vụ của nguyên đơn.
Sau khi chủ đầu tư Công ty E thuê nhân công từ nước ngoài vào thực hiện
và đã khấu trừ số tiền trả cho việc thiết kế mô hình 3D và triển khai bản vẽ thi
công Module số tiền 117.389USD đối với bị đơn, bị đơn yêu cầu nguyên đơn
phải khấu trừ số tiền trên nhưng nguyên đơn không đồng ý dẫn đến không có
căn cứ thanh toán.
Xét thấy lỗi chậm trả số tiền 1.181.390.115 đồng đối với hợp đồng AS-
LSP-002/02 không thuộc về bị đơn nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu tính
lãi của nguyên đơn trên số tiền thanh toán của bị đơn đối với hợp đồng AS-LSP-
002/02.
- Xét yêu cầu phản tố của bị đơn đối với hợp đồng AS-LSP-002/02 yêu cầu
nguyên đơn phải khấu trừ số tiền 117.389USD x 23.465VND/ 1 USD =
2.754.532.885 đồng:
Do nguyên đơn không đáp ứng thời gian nên Công ty Samsung phải đưa
nhân lực chuyên gia từ nước ngoài thực hiện và khấu trừ của bị đơn
117.389USD; việc công ty Samsung đưa nhân công vào thực hiện, nguyên đơn
biết và không có ý kiến; sau khi hoàn thành, chủ đầu tư Công ty E Company đã
khấu trừ 117.389 USD vào ngày 03/01/2021 đối với bị đơn Công ty A.
Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; buộc nguyên đơn
phải khấu trừ số tiền 117.389USD; (tỷ giá USD ngày 31/3/2026 - ngày xét xử sơ
52
thẩm do Ngân hàng nhà nước quy định là 25.102VND/USD) xét thấy bị đơn yêu
cầu tỷ giá quy đổi là 23.465VNĐ/1 USD là có lợi cho nguyên đơn, giá trị quy
đổi 117.389USD x 23.465VND/ 1 USD = 2.754.532.885 đồng.
Sau khi khấu trừ số tiền phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận; nguyên
đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bị đơn số tiền từ Hợp đồng AS-LSP-002/02 là:
2.754.532.885 đồng - 1.181.390.115 đồng = 1.573.142.770 đồng mà bị đơn phải
thay nguyên đơn thực hiện nghĩa vụ với chủ đầu tư Công ty E.
[2.6] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn về dịch vụ nâng hạ hàng
tại cảng theo Bản chào giá số 129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020:
- Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc với số tiền là 236.060.000 đồng và
tiền lãi tính đến ngày 25/3/2026 là 145.530.990 đồng.
Theo Bản chào giá số 129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020 cho bị đơn
về dịch vụ nâng hạ hàng hóa tại cảng; bị đơn và nguyên đơn không ký kết bằng
hợp đồng chính thức, nhưng bị đơn đã sử dụng dịch vụ của nguyên đơn; nguyên
đơn hoàn thành công việc như phía bị đơn yêu cầu. Bản chào giá số
129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020 phát sinh đầy đủ quyền và nghĩa vụ của
các bên. Do đó có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc
bị đơn phải trả cho nguyên đơn nợ gốc của hợp đồng dịch vụ là 236.060.000
đồng. Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 25/3/2026 là: 236.060.000 đồng
+ 145.530.990 đồng = 381.590.990 đồng.
[2.7] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn với Hợp đồng SO.0116017-
DV026 về việc cung cấp dịch vụ nhân lực gia công chế tạo hệ thống vận than và
đá vôi thuộc Dự án nhà máy nhiệt điện Thái Bình 02, nợ gốc là 4.279.587.175
đồng và yêu cầu trả lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm, thời gian tính lãi từ
ngày 05/7/2021 đến ngày 25/3/2026:
4.279.587.175 đồng x 10% x 04 năm 08 tháng 21 ngày = 2.022.104.940 đồng
Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi: 4.279.587.175 đồng + 2.022.104.940 đồng =
6.301.692.115 đồng.
Nguyên đơn xác nhận số nợ gốc nguyên đơn còn phải thanh toán với bị đơn
liên quan đến Hợp đồng SO.0116017 - DV026 về việc cung cấp dịch vụ nhân
lực gia công chế tạo hệ thống vận than và đá vôi thuộc Dự án nhà máy nhiệt
điện Thái Bình 02 là 4.279.587.175 đồng và xác nhận giữa nguyên đơn và bị
đơn đã lập hồ sơ thanh lý hợp đồng nhưng nguyên đơn cho rằng ký hiệu ghi trên
hợp đồng và ký hiệu ghi trên hóa đơn sai tên viết tắt của công ty do đó nguyên
đơn không thanh toán cho bị đơn.
Số nợ gốc 4.279.587.175 đồng giữa nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận,
nguyên đơn cho rằng bị đơn ghi sai nội dung thực hiện hợp đồng trên hóa đơn và
không thanh toán cho bị đơn là không có căn cứ. Do đó nguyên đơn phải thanh
toán số nợ gốc 4.279.587.175 đồng như án sơ thẩm xác định là có căn cứ.
53
+ Xét yêu cầu tính lãi chậm trả của Hợp đồng SO.0116017-DV026 đối với
số tiền nguyên đơn có nghĩa vụ phải trả bị đơn với mức lãi suất 10%/năm tính từ
ngày 05/7/2021 đến ngày 25/3/2026.
Do nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ phải thanh toán số tiền 4.279.587.175
đồng sau khi hai bên đã thanh lý Hợp đồng số SO.0116017-DV026 về việc cung
cấp dịch vụ nhân lực gia công chế tạo hệ thống vận than và đá vôi thuộc Dự án
nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, nên bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải chịu lãi
suất chậm trả là 10%; mức lãi suất này thấp hơn lãi suất trung bình của 03 ngân
hàng thương mại khi giải quyết tranh chấp vụ án kinh doanh thương mại là có
căn cứ, có lợi cho nguyên đơn nên được chấp nhận.
Tiền lãi được tính: 4.279.587.175 đồng x 10% x 04 năm 08 tháng 21 ngày
= 2.022.104.940 đồng.
Nợ gốc và nợ lãi chậm trả bị đơn yêu cầu phản tố liên quan đến Hợp đồng
SO.0116017-DV026 được chấp nhận là: 4.279.587.175 đồng + 2.022.104.940
đồng = 6.301.692.115 đồng.
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận và không chấp nhận:
- Tổng yêu cầu nợ gốc của nguyên đơn được chấp nhận:
+ Hợp đồng PVMS.0119028 ngày 20/11/2019 là 22.655.216.406 đồng
+ Hợp đồng PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 là 10.086.394.646 đồng
+ Hợp đồng số AS-LSP-002/02 ngày 12/9/2019 là nợ gốc: 1.181.390.115 đồng.
+ Hợp đồng số 129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020 là 236.060.000 đồng.
+ Và số tiền nợ gốc là 5.088.105.250 đồng của các Hợp đồng số
PVMS.0119034; Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày 25/11/2019; Hợp đồng
số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020; Hợp đồng số SO.0319/HCNS/2009 ký
ngày 26/8/2019; Hợp đồng số PVMS.0120018 ký ngày 28/5/2020 và Hợp đồng
số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021 được ghi nhận công nhận sự thỏa thuận.
Tổng cộng: 22.655.216.406 đồng + 10.086.394.646 đồng + 1.181.390.115
đồng + 236.060.000 đồng + 5.088.105.250 đồng = 39.247.166.417 đồng; Án sơ
thẩm tính tổng cộng số tiền trên 38.977.256.417 là chưa chính xác cần điều
chỉnh lại cho đúng.
- Tổng số yêu cầu khởi kiện nợ gốc của nguyên đơn không được chấp nhận
là: 47.365.749.593 đồng – 39.247.166.417 đồng = 8.118.583.176 đồng.
- Tổng số yêu cầu tính lãi chậm trả của nguyên đơn được chấp nhận:
+ Hợp đồng số 129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020 là 145.530.990
đồng và số tiền lãi chậm trả là 3.149.040.944 đồng của Hợp đồng số
PVMS.0119034; Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày 25/11/2019; Hợp đồng
số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020; Hợp đồng số SO.0319/HCNS/2009 ký
ngày 26/8/2019; Hợp đồng số PVMS.0120018 ký ngày 28/5/2020 và Hợp đồng
số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021 tính đến ngày 25/3/2026;
54
Tổng cộng là: 145.530.990 đồng + 3.149.040.944 đồng = 3.294.571.934 đồng.
- Tổng số tiền yêu cầu tính lãi chậm trả của nguyên đơn không được chấp
nhận: 23.827.179.027 đồng - 3.294.571.934 đồng = 20.532.607.093 đồng.
- Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và nợ lãi chậm trả
được Tòa án chấp nhận:
39.247.166.417 đồng + 3.294.571.934 đồng = 42.541.738.351 đồng.
- Yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty A được chấp nhận:
- Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn yêu cầu được khấu trừ
vào nghĩa vụ của bị đơn đối với nguyên đơn được chấp nhận:
+ Hợp đồng PVMS.0119028 ngày 20/11/2019 là 16.469.029.701 đồng
+ Hợp đồng PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 là 4.375.975.900 đồng;
+ Hợp đồng số AS-LSP-002/02 ngày 12/9/2019 là 2.754.532.885 đồng;
+ Hợp đồng số SO.0116017-DV026 là 6.301.692.115 đồng;
Tổng cộng: 16.469.029.701 đồng + 4.375.975.900 đồng + 2.754.532.885
đồng + 6.301.692.115 đồng = 29.901.230.601 đồng.
Như vậy tổng số nợ gốc và nợ lãi bị đơn có nghĩa vụ phải thanh toán cho
nguyên đơn sau khi đối trừ vào yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận; bị
đơn còn phải trả cho nguyên đơn số nợ gốc và nợ lãi chậm trả là:
42.541.738.351 đồng - 29.901.230.601 đồng = 12.640.507.750 đồng.
[2.8] Đối với yêu cầu độc lập của Công ty TNHH TMC Nghi S1 đối với
nguyên đơn PV Shipyard:
Nguyên đơn xác nhận còn nợ gốc Công ty TNHH TMC Nghi S1 là
2.804.885.130 đồng và trả lãi 10% tính từ ngày 22/4/2022 đến ngày 25/3/2026
nhưng không chấp nhận trả nợ gốc và nợ lãi với lý do chờ bị đơn A thanh toán
mới trả cho Công ty TMC Nghi Sơn là không có căn cứ; Tòa án cấp sơ thẩm
chấp nhận yêu cầu độc lập của Công ty TMC Nghi Sơn đối với nguyên đơn PV
Shipyard; buộc nguyên đơn PV Shipyard phải trả Công ty TMC Nghi Sơn số nợ
gốc là 2.804.885.130 đồng và số nợ lãi 1.100.917.513 đồng; Tổng cộng nợ gốc
và nợ lãi là 3.905.802.643 đồng như án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên kháng
cáo phần này của nguyên đơn không được chấp nhận.
Từ phân tích trên thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án toàn diện,
khách quan, xem xét đầy đủ chứng cứ và yêu cầu của các đương sự, không vi
phạm thủ tục tố tụng. Cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn; Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; Chấp nhận yêu cầu độc lập
của Công ty TNHH TMC Nghi S1 là có căn cứ nên giữ nguyên bản án sơ thẩm
nên yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận.
[3] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Nguyên đơn và bị đơn phải
chịu án phí theo quy định pháp luật.
55
Nguyên đơn phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu khởi kiện không
được Tòa án chấp nhận và phần yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của
người liên quan được Tòa án chấp nhận (71.192.928.620 đồng - 42.541.738.351
đồng + 29.901.230.601 đồng + 3.905.802.643 đồng) là 170.458.224 đồng;
Bị đơn phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn được Tòa án chấp nhận (42.541.738.351 đồng) là 150.541.738 đồng.
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí 54.500.000 đồng cho Công ty TNHH TMC
Nghi S1.
[4] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu là
2.000.000 đồng do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần G
Giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ
phần G đối với bị đơn Công ty Cổ phần A sau khi khấu trừ số tiền phản tố của bị
đơn Công ty Cổ phần A được Tòa án chấp nhận.
Bị đơn Công ty Cổ phần A có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn
Công ty Cổ phần G số tiền nợ gốc và nợ lãi chậm trả là: 12.640.507.750 đồng
(mười hai tỷ sáu trăm bốn mươi triệu năm trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm năm mươi
đồng).
Trong số nợ gốc và nợ lãi chậm trả 12.640.507.750 đồng (mười hai tỷ sáu
trăm bốn mươi triệu năm trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm năm mươi đồng) có số tiền
nợ gốc và nợ lãi chậm trả của các hợp đồng được nguyên đơn Công ty PV
Shipyard và bị đơn Công ty A thống nhất và được công nhận sự thỏa thuận gồm
các hợp đồng sau:
- Hợp đồng số PVMS.0119034 ngày 19/11/2019: Nợ gốc là 881.382.051
đồng và lãi chậm trả là 596.950.445 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày 25/11/2019: Nợ gốc là
298.495.533 đồng và lãi chậm trả là 198.081.635 đồng.
- Hợp đồng số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020: Nợ gốc là 654.634.200
đồng và lãi chậm trả là 391.013.008 đồng.
- Hợp đồng số SO.0319/HCNS/2009 ký ngày 26/8/2019: Nợ gốc là
493.310.044 đồng và lãi chậm trả là 194.806.853 đồng
- Hợp đồng số PVMS.0120018 ký ngày 28/5/2020: Nợ gốc là
2.566.228.500 đồng và lãi chậm trả là 1.665.902.654 đồng
56
- Hợp đồng số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021: Nợ gốc là 194.054.922
đồng và lãi chậm trả là 102.286.349 đồng.
Tổng cộng số tiền nợ gốc và tiền lãi chậm trả là: 5.088.105.250 đồng +
3.149.040.944 đồng = 8.237.146.194 đồng (tám tỷ hai trăm ba mươi bảy triệu,
một trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm chín mươi bốn đồng).
- Tiền lãi chậm trả phát sinh bị đơn Công ty A có nghĩa vụ phải trả đối với
các hợp đồng: Hợp đồng số 129/20/TM&PTKD-CG ngày 02/7/2020; Hợp đồng
số PVMS.0119034 ngày 19/11/2019; Hợp đồng số PVMS.0119030 ký ngày
25/11/2019; Hợp đồng số PVMS.0120016 ngày 02/05/2020; Hợp đồng số
SO.0319/HCNS/2009 ký ngày 26/8/2019; Hợp đồng số PVMS.0120018 ký ngày
28/5/2020 và Hợp đồng số PVMS.0121006 ngày 18/3/2021 và Hợp đồng số
SO.0116017-DV026 và Hợp đồng SO.0120008-DV047 ngày 18/01/2020 được
tính từ ngày 26/3/2026.
- Tiền lãi chậm trả phát sinh nguyên đơn Công ty PV Shipyard có nghĩa vụ
phải trả đối với Hợp đồng số SO.0116017-DV026 và Hợp đồng SO.0120008-
DV047 ngày 18/01/2020 được tính từ ngày 26/3/2026.
- Tiền lãi chậm trả của các hợp đồng PVMS.0119028 ngày 20/11/2019;
Hợp đồng PVMS.0119029 ngày 10/11/2019 và Hợp đồng số AS-LSP-002/02
ngày 12/9/2019 được tính từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án.
[2] Chấp nhận yêu cầu độc lập của Công ty TNHH TMC Nghi S1 đối với
nguyên đơn Công ty Cổ phần G:
Buộc Công ty Cổ phần G có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH TMC
Nghi S1 số nợ gốc là 2.804.885.130 đồng và tiền lãi chậm trả tính đến ngày
25/3/2026 là 1.100.917.513 đồng. Tổng cộng là 3.905.802.643 đồng (ba tỷ chín
trăm lẻ năm triệu tám trăm lẻ hai nghìn sáu trăm bốn mươi ba đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả
các khoản tiền trên, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành nghĩa vụ phải thực
hiện, thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi
hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm
thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
[3] Sửa một phần án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm như sau:
Nguyên đơn Công ty Cổ phần G phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ
thẩm là 170.458.224 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 133.457.000
đồng theo Biên lai số 0001297 ngày 26/10/2021 và Biên lai số 0002609 ngày
14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Vũng Tàu tỉnh Bà Rịa-Vũng
Tàu nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh - Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 11- Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần G còn phải nộp thêm là
37.001.224 đồng.
Bị đơn Công ty Cổ phần A phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm
là 150.541.738 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Công ty A đã nộp
167.600.000 đồng theo Biên lai số 0003460 ngày 09/11/2022; Biên lai số
57
0003980 ngày ngày 16/3/2022 và Biên lai số 0003029 ngày 23/8/2022 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nay là Thi
hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11-
Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần A được nhận lại số tiền tạm ứng án
phí còn dư 17.058.262 đồng.
Công ty TNHH TMC Nghi S1 được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí
54.500.000 đồng theo Biên lai số 0000925 ngày 21/7/2023 Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nay là Thi hành án dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11- Thành phố Hồ
Chí Minh.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty Cổ phần G phải
chịu 2.000.000 đồng được trừ vào Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký
hiệu: BLTU/26E, số 0023635 ngày 14 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi
hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa
đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tối cao;
- VKSND TP.HCM;
- THADS TP.HCM;
- TAND khu vực 11;
- Phòng THADS khu vực 11;
- Các đương sự;
- Lưu VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thọ Viên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 342/2026/KDTM-PT Bản án số 342/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất