Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 10/10/2024 của TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 29/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 10/10/2024 của TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Yên Khánh (TAND tỉnh Ninh Bình) |
Số hiệu: | 29/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 10/10/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ông Đinh Văn T kiên xin ly hôn bà Đỗ Thị M |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 29 /2024/ HNGĐ - ST
Ngày : 10 - 10 - 2024
Về việc: Ly hôn, tranh chấp về chia
tìa sản khi ly hôn
.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Nhật Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hà Giang và ông Lê Thanh Thu.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Huệ - Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình tham gia
phiên tòa: Bà Đinh Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh
Ninh Bình xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 58/ TLST - HNGĐ
ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn”
theo Quyết định xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2024
và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 03/2024/TB - TA ngày 07 tháng
10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đinh Văn T, sinh năm: 1961.
Địa chỉ: Xóm H, Đông M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình;
Bị đơn: Bà Đỗ Thị M, sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Xóm H, Đông M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình;
Tại phiên tòa có mặt ông Đinh Văn T và bà Đỗ Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai cùng các văn bản khác nguyên đơn là
ông Đinh Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà M sau thời gian tìm hiểu, kết hôn hợp pháp vào
ngày 05/01/1985 tại UBND xã K, huyện Y. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung
sống tại xóm H, Đông M, xã K, huyện Y. Trong quá trình chung sống, vợ chồng
thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nhưng bản thân ông vẫn cố gắng khắc phục. Tuy
nhiên tới năm 2013, khi cháu Đinh Xuân L là con trai ông mất, ông cũng động
viên bà M cố gắng giữ gìn sức khỏe, ông còn khuyên nhủ bà M, vợ chồng cố
gắng sinh thêm một đứa con nữa. Tuy nhiên cho dù ông cố gắng thuyết phục
nhưng bà M không đồng ý. Khi đó, ông đã xin ý kiến bà cho ông đi ra ngoài để
kiếm con riêng, ông cũng đã phân tích hết lẽ với bà dù ông có ra ngoài quan hệ
nhưng ông vẫn làm tròn trách nhiệm của mình trong gia đình.Tuy nhiên bà M
không những không đồng ý mà còn luôn gây áp lực về mặt tinh thần cho ông,
cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, thường xuyên cãi chửi nhau, bà nghi ngờ
2
ông lén lút mang tiền, tài sản của nhà đi cho người khác. Chính vì vậy ông quyết
định vợ chồng nên tách bạch kinh tế, ai làm người đó hưởng không liên quan đến
ai, kể từ năm 2015, tuy chung sống cùng nhà nhưng vợ chồng không quan tâm
đến nhau nữa. Năm 2022, chỉ vì một chuyện rất nhỏ nhặt, vợ chồng mâu thuẫn,
bà M có những lời lẽ xúc phạm ông, khiến cho ông không kiểm soát được hành
vi của mình, đã đánh bà nhưng cũng không đến mức trầm trọng mà bà la làng lên,
nói ông là con người thế này thế kia. Từ những việc nhỏ nhặt đó dẫn đến mối
quan hệ giữa ông và bà M ngày càng xa cách, lạnh nhạt. Giữa ông và bà M tuy
sống chung nhà nhưng ăn riêng, ở riêng không quan tâm đến nhau từ năm 2022
cho đến nay. Nay ông xác định tình cảm giữa ông và bà M không còn, mục đích
hôn nhân không đạt, không có khả năng đoàn tụ, nếu cứ kéo dài tình trạng mâu
thuẫn căng thẳng như thế này, nhiều khi ông không kiểm soát được hành động
của mình sẽ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng, không mong muốn nên ông đề nghị
Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đỗ Thị M.
Về con: Trong quá trình chung sống hiện nay vợ chồng có một con chung là
cháu Đinh Thị M1, sinh năm 1986. Hiện cháu đã trưởng thành, có gia đình riêng;
còn cháu Trần Xuân L đã mất ngày 06/11/2013, do vậy ông không yêu cầu Tòa
án giải quyết. Về con riêng, ông có một con riêng là cháu Đinh Thị Phương T,
sinh ngày 03/10/2017, hiện cháu đang ở cùng với mẹ cháu, bà M không có con
riêng. Nay về con riêng, ông tiếp tục nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Về tài sản: Trong đơn khởi kiện ông yêu cầu Tòa án giải quyết về khối tài sản
chung của vợ chồng về Quyền sử dụng 245m
2
đất trong đó: 125 m
2
đất ở, 120 m
2
đất
vườn và các tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 520, tờ bản đồ số 5b tại xã K và
Quyền sử dụng 141,6 m
2
đất trong đó: 100 m
2
đất ở, 41,6 m
2
đất vườn, cùng các tài
sản gắn liền với đất thuộc thửa số 138, tờ bản đồ số 23 tại xã K, huyện Y, đất đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên ông T và bà M. Ngày 09/10
/2024 ông có đơn xin rút toàn bộ yêu giải quyết về tài sản, do ông và bà M đã tự
thỏa thuận phân chia với nhau.
Tại bản tự khai, biên bản hoà giải và tại phiên toà, bị đơn là bà Đỗ Thị M trình
bày:
Về hôn nhân: Bà M nhất trí với lời trình bày của ông T về thời gian kết hôn
và quá trình vợ chồng chung sống với nhau. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống
hòa thuận chỉ xảy ra những mâu thuẫn nhỏ như bao gia đình khác. Nhưng từ khi ông
T bắt đầu có những hành vi không chung thủy, bồ bịch ở bên ngoài thì vợ chồng
phát sinh mâu thuẫn. Năm 2013 về tình cảm vợ chồng có chiều hướng xấu đi vì
không còn tin tưởng nhau nữa. Bà không có lỗi gì trong quan hệ hôn nhân này, dù
ông T có hành vi không chung thủy, hay gây sự để khiến vợ chồng mâu thuẫn cãi
chửi nhau. Thậm chí có những lần ông T đánh bà dẫn đến bà phải nhập viện. Nhưng
bà vẫn cố gắng chịu đựng. Năm 2022, ông T bắt đầu rạch ròi về kinh tế không ăn
chung mặc dù bà cũng hết sức khuyên ngăn và vợ chồng ly thân nhau kể từ thời
điểm đó. Cả một đời bà sống hy sinh để vun vén cho gia đình, nay một đứa con đã
mất bà đã cô đơn thiệt thòi, tuổi thì đã cao chỉ mong vợ chồng đoàn tụ để con cháu
có chỗ đi về. Tuy nhiên cho dù bà có cố gắng thì vợ chồng cũng không còn khả
3
năng đoàn tụ được. Do vậy bà đồng ý ly hôn với ông T để cả hai người ổn định
được cuộc sống riêng.
Về con: Bà xác định vợ chồng hiện có con chung là cháu Đinh Thị M, sinh
ngày 17/5/1986, cháu trưởng thành và có gia đình riêng, còn cháu Trần Xuân L
đã mất ngày 06/11/2013, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về con riêng
bà không có, còn ông T có một con riêng là cháu Đinh Thị Phương T, sinh ngày
03/10/2017, hiện cháu đang sống cùng mẹ cháu ở xã K, do vậy nay ly hôn bà
không có ý kiến và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Bà nhất trí việc ông T trình bầy, hiện tại bà và ông T đã tự thỏa
thuận phân chia là dúng, nay ly hôn bà không có yêu cầu, đề nghị gì.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về thủ tục: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý đến trước khi
xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã
chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng.
Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy
định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đơn khởi kiện ông
Đinh Văn Toán; xử cho ông Đinh Văn T ly hôn với bà Đỗ Thị M. Đình chỉ yêu
cầu chia tài sản chung của ông Đinh Văn T.
Về chi phí tố tụng: Ông T là nguyên đơn đã rút yêu cầu về chia tài sản chung
do vậy ông T phải chịu chi phỉ tố tụng với tổng số tiền là 10.500.000 đồng, ông T đã
nộp đủ số tiền này.
Về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho ông T là nguyên đơn vì là người cao
tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Đinh Văn T có đơn khởi kiện xin ly hôn, chia
tài sản khi ly hôn với bà Đỗ Thị M, có địa chỉ tại xóm H, Đông M, xã K, huyện Y,
tỉnh Ninh Bình. Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28,
điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đinh Văn T và bà Đỗ Thị M được tự do tìm
hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 05/01/1985 tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh
Ninh Bình, quan hệ hôn nhân của ông T và bà M là quan hệ hôn nhân hợp pháp,
được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời
gian dài, thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, ông T và bà M đều thừa nhận, do mâu
thuẫn đẫn đến đánh cãi chửi nhau nhiều lần nên ông T, bà M đã ăn riêng và sống
ly thân nhau từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, tuy sống chung cùng
nhà nhưng giữa ông T và bà M không còn quan tâm đến nhau, cơm ai ăn người
đó nấu, việc ai người ấy làm nên xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và không
có khả năng để đoàn tụ. Trong quá trình hòa giải bà M không nhất trí ly hôn,
4
nhưng tại biên bản ghi lời khai ngày 13/9/2024 và tại phiên tòa bà M xác định
tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên bà nhất trí ly hôn với
ông T, để ổn định cuộc sống cho mỗi bên. Như vậy xét thấy tình trạng hôn nhân
giữa ông T và bà M đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn
nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ông T xin ly hôn với
bà Đỗ Thị M là phù hợp.
[3] Về con chung: Ông T và bà M có một con chung là cháu Đinh Thị M, sinh
năm1986, nay đã trưởng thành và có gia đình riêng, ông T có một con riêng (con
ngoài giá thú) là cháu Đinh Thị Phương T, sinh ngày 03/10/2017, hiện cháu đang
sống cùng với mẹ đẻ, nay ông T, bà M không có yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về tài sản: Ông T yêu cầu chia khối tài sản chung là Quyền sử dụng 245m
2
đất, thuộc thửa số 520, tờ bản đồ số 5b tại xã K và Quyền sử dụng 141,6 m
2
đất và
các tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 138, tờ bản đồ số 23 tại xã K, huyện Y, đất
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên ông T và bà M. Ngày 09/10
/2024 ông T có đơn xin rút toàn bộ yêu giải quyết về tài sản, do đã tự thỏa thuận
phân chia. Do vậy cần đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung của ông T là phù
hợp.
[5] Về phí tố tụng: Ông T là nguyên đơn đã rút yêu cầu về chia tài sản chung
do vậy ông T phải chịu chi phỉ tố tụng, về thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với
tổng số tiền là 10.500.000 đồng, ông T đã nộp đủ số tiền này để chi phí.
[6] Về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho ông T vì là người cao tuổi thuộc
trường hợp được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật
hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 157, khoản 4 Điều 165; điểm c khoản 1 Điều
217; Điều 219; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều
15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Đinh Văn T về việc “Ly hôn,
tranh chấp chia tài sản khi ly hôn” đối với bà Đỗ Thị M.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Đinh Văn T ly hôn bà Đỗ Thị M.
- Đình chỉ về yêu cầu chia tài sản chung của ông Đinh Văn T.
2. Về chi phí Tố tụng: Ông Đinh Văn T phải chịu chi phỉ tố tụng, về thẩm định
tại chỗ và định giá tài sản với tổng số tiền là 10.500.000 đồng, ông T đã nộp đủ số
tiền để chi phí.
3. Về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho ông Đinh Văn T là người cao
tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định pháp luật.

5
Án xử công khai sơ thẩm các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Binh.
- VKSND huyện Y.
- Chi cục THA DS huyện Y .
- UBND xã K.
- Các đương sư.
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Nhật Trung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm