Bản án số 29/2024/DS-PT ngày 26/02/2024 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 29/2024/DS-PT ngày 26/02/2024 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Phúc
Số hiệu: 29/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/02/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 29/2024/DS-PT
Ngày 26/02/2024
V/v tranh chấp về đòi nhà đất
cho ở nhờ và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp T do Hnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Cẩn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn, bà Lê Thị Bích Ngọc
- Thư phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải - TToà án nhân dân tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân n tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2024, tại trsở Toà án nhân n tỉnh Vĩnh Phúc, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án n sự thụ số: 168/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng
12 m 2023 vviệc Tranh chấp về đòi nhà đất cho ở nhờ hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thm s: 41/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 164/2023/QĐ-PT ngày
20/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Anh Nguyễn Huy T, sinh m 1985, (có mặt).
2.Chị Phùng Thị T1, sinh năm 1987, (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh T:Kim Hồng T2 - Trợ
giúp viên pháp lý Trung tâm trgiúp pháp lý Nhà nước tỉnh V, (vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Bùi Văn P, sinh năm 1961.
2. Bà Phùng Thị N, sinh năm 1965.
Cùng nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
2
Người đại diện hợp pháp của ông Bùi n P Phùng Thị N : Ông
Nguyễn Văn H - Luật sư Công ty L2, (có mặt).
Địa chỉ: Số D, đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C1.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Điều L Trưởng văn phòng,
(vắng mặt).
Địa chỉ: Khu đô thị C, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người kháng cáo: Ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2019 và các lời khai trong quá trình tố
tụng nguyên đơn anh Nguyễn Huy T, chị Phùng Thị T1 trình bày:
Ngày 22/7/2014, anh chị nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 145B, tờ bản đồ s4, din tích 221m
2
tại thôn Đ, xã T, thành phố V,
tỉnh Vĩnh Phúc, đứng tên ông Bùi Văn P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số X 432630 cấp ngày 20/12/2001. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được n phòng C1 công chứng số 2889/2014/CNQSDĐ ngày 22/7/2014. G
chuyển nhượng 250.000.000 đồng, anh chị đã thanh toán đcho ông P, N
tại nhà anh chị có giy giao nhn tiền, nhưng do xây nhà mi nên đã làm mất. Hợp
đồng chuyển nhưng đất chỉ có nội dung chuyển nhượng đất, không ghi mua bán
nhà nhưng thực tế cả mua bán nhà. Sau đó, anh chị đã được Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 060765 ngày
14/4/2015 mang n anh chị, theo bản đồ VN2000 là thửa đất số 141, tờ bản đồ số
27, diện tích 221m
2
.
Ngày 20/10/2016, anh chị thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân ng
Thương mại Cphần Q - Chi nhánh V để vay 120.000.000 đồng để kinh doanh
buôn n ng hóa, đến ngày 04/3/2020 anh chị đã thực hiện xong nghĩa vụ trả
nợ với Ngân hàng, xóa đăng ký thế chấp.
Sau khi nhận chuyển nhượng, do anh chị chưa nhu cầu sử dụng đất,
đồng thời ông P, N chưa chỗ nên anh chị đã cho ông P, N tiếp tục
nhờ, không phải trả tiền thuê nhà đất, nhưng phải trách nhiệm đóng thuế với
nhà nước. Ông P, N đã vào cam kết cho nhờ ngày 06/4/2015. Cuối m
2018, anh chị yêu cu ông P, N trả lại nhà và đất nhưng không được trả nên
phát sinh tranh chấp. Việc tranh chấp này chính quyền địa phương T đều biết
đã hòa gii nhưng không thành. Đến ngày 28/12/2018, hai n tiếp tục lập giy
thỏa thuận với nội dung anh chị tiếp tục cho ông P,N ở nhvà đồng ý chuyển
nhượng lại thửa đất cho ông P, N với giá 700.000.000 đồng; ông P, N phải
thanh tn tiền trong thời hạn từ ngày 28/12/2018 đến ngày 28/3/2019, nếu hết
thi hạn trên kng thanh toán thì ông P, N phải dọn dẹp đồ đạc để trả lại đất
và nhà cho anh chị. Ông P đã ký vào “bên nhờ” trước sự chứng kiến của trưởng
thôn ông Trần Xuân T3. Tuy nhiên đến hn, ông P, bà N không thanh toán số tin
3
700.000.000 đồng như đã thỏa thuận nên anh chị khởi kiện đề nghị Tòa án buộc
ông P, N trả lại thửa đất số 141, tờ bản đồ số 27, diện tích 221m
2
nêu trên.
Quá trình gii quyết Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh V1 kim tra hồ
cấp giy chứng nhn quyền sdụng đất, bản đồ 299 thực tế hin trạng sử
dụng đất tthửa đất s145B tờ bản đồ 04 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất phát hành X 432630 số vào sổ 0406 do Ủy ban nhân n thị V cấp ngày
20/12/2001 mang tên ông Bùi Văn P tương ứng với thửa số 142, tờ bản đồ số 27.
Thửa đất số 141, tờ bản đồ số 27 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho
anh chị nhầm thửa, thực tế là thửa 142. Anh chị đã m thủ tục xin cấp đổi lại
giy chứng nhn quyền sdụng đất. Ngày 07/09/2022, anh chị đã được cấp lại
giy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 142, tờ bản đs 27, diện tích 221m
2
.
Anh chị yêu cầu ông P, bà N trả li nhà đất tại thửa số 142, tờ bản đồ 27, din tích
221m
2
đang do ông P, bà N quản lý sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ln 1 bà N xuất trình mẩu giấy là chữ viết của
chị T1, nhưng chị xác định không phải viết cho N, mu giấy bị cắt bỏ ni dung
xung quanh, anh chị không nhớ viết nội dung này cho ai, không biết tại sao bà N
li có mu giấy này, nội dung mẩu giấy không chữ ký xác nhận của ai, không
rõ ràng số tin, nội dung không rõ, anh chị khng định không cho ông P, N vay
khoản tiền nào.
Bị đơn, ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N trình bày:
Ông thừa nhận ngày 22/7/2014, tại n phòng C1, ông ký hợp
đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất cho vợ chồng anh T và chị T1. Tuy nhiên,
việc chuyển nhượng chỉ tạm thời, mục đích không phải chuyển nhượng nhà
đất mà chỉ sang tên đất cho anh T, chị T1 nhờ anh T, chị T1 dùng thửa đất đó
thế chấp vay 250.000.000 đồng tại Ngân hàng hộ ông bà, tuy nhiên sau đó anh T,
chị T1 không vay hộ tiền cho ông bà, không đưa cho ông bất kỳ khoản tiền
nào.
Tại đơn phản tố đề ngày 23/6/2020 ông bà khai mục đích của việc chuyển
nhượng là để đảm bảo cho khoản vay của ông với anh T chị T1 số tiền
250.000.000 đồng nhưng thực tế ông mi nhn 70.000.000 đồng. Về Giấy cam
kết cho nh ngày 06/4/2015, ông bà xác nhận chữ ký phần Bên nhký tên”
là chữ ký của ông bà nhưng do anh T nói là phải ký vào giấy này mới đầy đủ th
tục để vay tiền tại ngân hàng nên ông mới ký vào giy chứ mục đích ký kng
phải để nhờ. Nay anh T chị T1 khởi kiện ông về việc đòi lại tài sản
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất ông bà không đồng ý. Lý do là việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa 2 bên chỉ tạm thời, ông không n
đất.
Tòa án tiến nh xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất, kết quả thể
hin: Thửa đất đã xây tường bao loan sdụng n định theo như diện tích
hình thể trong giấy chứng nhận quyền sdụng đất, không tranh chấp với các
hộ giáp ranh; trên đất có xây dựng 2 dãy nhà cấp bốn và 01 sân gạch, trong đó có
01 nhà cấp 4, 04 gian xây dựng năm 1997; 01 gian bếp xây năm 2013; công trình
4
phụ, lán để xe, tường, cổng,n gch đều xây dựng trước năm 2014 là tài sản của
gia đình ông con chị Bùi Thị N1 (sinh năm 1985), anh Bùi n C (sinh
năm 1987), chị Bùi Thị Thanh L1 (sinh m 1990) và chị Bùi Thị H1 (sinh năm
1992). Khi xây dựng công trình các con ông còn nhỏ, chỉ phụ giúp việc y
dựng, không xác định được công sức.
Ngày 22/7/2019, ông có đơn tố cáo anh T về nh vi lừa đảo chiếm đoạt
tài sn là thửa đất của gia đình ông tại thôn Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Quá trình điều tra, không n cứ xác định dấu hiệu phạm tội nên ngày
22/11/2019, Công an thành phố V đã ra quyết định kng khởi tố vụ án hình sự.
Tại phiên tòa phúc thm lần 1 bà N có cung cấp cho Tòa án mt mu giy
do chị T1 viết chứa nội dung ghi chép các khoản tiền liên quan tới việc vay
mượn là tài liệu chứng cứ mi, giy này chị T1 thừa nhận chữ viết nên ông bà yêu
cầu hủy Bản án sơ thẩm lần 1. Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm
Tòa án cấp sơ thẩm thụ giải quyết lại thì ngày 14/01/2023, ông Đơn
phản tố u cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày
11/7/2014 giữa ông với anh T, chị T1 hiệu; yêu cầu tuyên hủy giy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 07/9/2022 cho anh T, chị T1.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C1, người đại diện
theo pháp luật và cũng là công chứng viên ông Nguyễn Điều L trình bày:
Theo phiếu yêu cầung chứng của ông Bùi Văn P, ngày 22/7/2014 n
phòng công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
2889/2014/CNQSDĐ giữa bên chuyển nhượng ông Bùi n P, Phùng Thị
N bên nhận chuyển nhượng Phùng Thị T1, ông Nguyễn Huy T. i sản
chuyển nhượng là quyền sử dụng thửa đất số 145B, tờ bản đsố 04, diện tích
221m
2
; địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đứng n
ông Bùi n P. Sau khi n phòng lập hợp đồng chuyển nhượng theo yêu cầu
của các bên, c bên đã được tự đọc lại hợp đồng, đồng ý với các nội dung trong
hợp đồng và tự nguyn ký n, điểm chỉ trước sự chứng kiến của ng chứng viên.
Hợp đồng trên đã tuân thủ đầy đủ đúng quy định của pháp luật, vậy hợp
đồng chuyển nhượng này là hợp pháp.
Tại Bn án n ssơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 14/4/2021 của Toà án
nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T chị T1. Buộc ông P N
trách nhiệm trả cho anh T, chị T1 thửa đất s142, tờ bản đồ số 27, diện tích
229m
2
tại thôn Đ, T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Cụ thể các chiều cạnh
đồ m theo cùng các tài sản gắn trên đất 2 dãy nhà cấp bốn 01 n
gạch.
Sau khi xét xử sơ thm, ông P, bà N đã kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị
cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại Bn án dân sự phúc thm số 48/2022/DS-PT ngày 20/9/2021 của T
án nhân n tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Hủy toàn bộ Bản án n sự sơ thm số
5
04/2021/DS-ST ngày 14/4/2021 của Toà án nhân n thành phố Vĩnh n, tỉnh
Vĩnh Phúc; giao hồ cho Tòa án nhân n thành phố Vĩnh Yên xét xử sthẩm
li theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án
nhân n thành phố Vĩnh n, tỉnh Vĩnh Phúc (được sửa chữa, bổ sung theo Quyết
định số 65/2023/QĐ-DCBSBA ngày 03/11/2023) đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Huy T và chị Phùng Thị T1.
Buộc ông Bùi n P và Phùng Thị N phải trả cho anh T chị T1 thửa đất số 142,
tờ bản đồ số 27, diện ch 221m
2
; địa chỉ: Thôn Đ, T, thành phố V, tỉnh Vĩnh
Phúc (được thể hiện trên sơ đồ hiện trạng thửa đất i sản gắn liền với đất là
các điểm 1,2,3,4,5,6,7,1) toàn bộ tài sản trên đất 01 nhà cấp 4; 01 gian nhà
bếp mái lợp ngói; 01 công trình phụ; 01 lán để xe, sân gạch, cổng. (Kèm theo
đồ hin trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất).
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bùi n P Phùng Thị N
v việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 11/7/2014 tại
Văn phòng C1 vô hiu và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 406401,
số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 03351 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh
V cấp ngày 07/9/2022 mang tên chị T1 anh T, diện tích 221m
2
; địa chỉ: Thôn Đ,
xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay thuộc thửa đất số 142, tờ bản đồ số 27.
Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xthẩm, ngày 03/10/2023 bđơn ông Bùi n P, Phùng
Thị N kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thm ngày
30/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên
Quá trình xét xphúc thẩm tại phiên a, nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu khởi kin, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc phát biểu: Về tố tụng Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến nh thụ , thu thập
chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, chuyn hồ sơ cho Viện kim sát và tiến
hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng n sự. Về nội
dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kng o của bị đơn
ông Bùi Văn P, Phùng Thị N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số
41/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân n thành phố Vĩnh n, tỉnh
Vĩnh Phúc. Án phí các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các i liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà n cvào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát. Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn P
Phùng Thị N trong hn lut định, việc thụ đơn kháng cáo đúng quy định nên
được xem xét gii quyết theo thủ tục phúc thẩm. Nguyên đơn khởi kiện đòi lại tài
6
sản cho nhờ, bđơn yêu cầu phản tố yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý giải quyết cả hai
quan hệ đòi li tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
là đúng, nhưng phần trích yếu bản án chỉ ghi quan h là tranh chấp kiện đòi tài
sản là quyền sử dụng đất và tài sản gn lin với đất là thiếu quan hệ pháp luật. Tòa
án cấp phúc thẩm sửa li phần nội dung trích yếu quan hệ pháp lut của Tòa án
cấp sơ thẩm, xác định quan hệ giải quyết vụ án này tranh chấp về đòi nhà đất
cho ở nhờ và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[2] t đơn kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn P Phùng Thị N thy
rằng:
[3] Ngày 22/7/2014, anh T, chị T1 ký hợp đồng nhận chuyển nhượng của
ông P, bà N thửa đất 145B, tờ bản đồ số 4, din tích 221m
2
tại thôn Đ, xã T, thành
phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đất chuyển nhượng đứng tên ông P theo Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất cấp ngày 20/12/2001. Hợp đồng chuyển nhượng đã được công
chứng, thủ tục công chứng đúng quy định của pháp luật, các bên thừa nhận tự
nguyện ký kết hợp đồng trước mt công chứng viên. Ngày 14/4/2015, anh T, chị
T1 đã được cấp giy chứng nhn quyền sdụng phần đất nhận chuyển nhượng
nêu tn là thửa 141, tờ bản đồ 27, diện tích 221m
2
. Căn cứ Điều 692 Bộ luật n
sự 2005 thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh T, chị T1 với ông P,
bà N đã có hiu lực pháp luật.
[4] Sau khi hp đồng chuyển nhượng đất, ngày 06/4/2015 giữa anh T,
chị T1 với ông P, bà N đã lập Giấy cam kết cho nhờ” có ni dung: Do vợ chng
ông P, bà N chưa chuyn đến chỗ mi nên anh T, chị T1 cho ông P, bà N nhờ,
khi nào cn sử dụng ttrách nhiệm trả lại nhà đất cam kết nếu điu
xảy ra dẫn đến kin tụng ông P, N phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước
pháp luật. Ngày 28/12/2018, anh T, chị T1 và ông P, bà N tiếp tục ký “Giấy thỏa
thun” có nội dung: Tiếp tục cho ông P, bà N ở nhđồng ý chuyển nhượng lại
cho ông P, N 700.000.000 đồng tính từ ngày 28/12/2018 đến 28/3/2019 (3
tháng) ông P, bà N phải thanh toán số tiền trên nếu không thanh toán phi dọn đồ
đạc để trả lại nhà đất cho anh T, chị T1.
[5] Ông P, N cho rằng ký hợp đồng chuyển nhượng chỉ là giả tạo nhằm
che dấu hợp đồng vay tiền giữa ông P, bà N với anh T, chị T1.
[6] Xét thấy li khai của ông P, bà N trong quá trình giải quyết vụ án có sự
mâu thuẫn về mục đích chuyển nhượng quyền sdụng đất. Tại bản tự khai, biên
bản hòa giải thể hiện mục đích của việc chuyển nhượng là để nhờ anh T chị T1
vay tiền ngân hàng hộ do ông P, bà N thuộc din n xu không thvay được ngân
hàng, nhưng theo Biên bản xác minh ngày 19/11/2019 tại Ngân hàng N2 - chi
nhánh V1 (do cơ quan Cnh sát điều tra thu thập) thể hiện ngày 26/12/2012,N
có thế chấp đất để vay 70.000.000 đồng của Ngân hàng thời hạn vay 02 m đến
ngày 26/12/2014, qtrình vay N trả lãi gốc đầy đủ tất toán ngày 26/12/2014
không thuộc diện nợ xu trong hthống Ngân hàng. Còn tại đơn phản tố đề
ngày 23/6/2020 ông P N lại trình y ông có vay của anh T chị T1 số tin
7
70.000.000 đồng, mt thời gian sau cộng lãi lên 100.000.000 đồng, sau đó ông
ý định vay thêm của anh T, chị T1 số tin 150.000.000 đồng, cộng vi
100.000.000 đồng trước đó là 250.000.000 đồng nên phi chuyển nhượng thửa
đất cho anh T chị T1 để đảm bảo khoản vay này. Nng anh T, chị T1 kng thừa
nhận, ông P, bà N và người đại diện theo ủy quyền không xuất trình được i liu
chứng cứ chứng minh có việc vay tiền, trả lãi để chứng minh giữa hai n có quan
hệ vay tiền.
[7] Qtrình gii quyết ông P, bà N có xuất trình mẩu giy nhỏ hình vuông
có nội dung:
Tổng vay = 300.000.000 trả góp trong vòng 60= lần 1 5000.
T1 đóng hộ = 18x7000=12600.000
Vay cho cô lần 2 = 120.000.000 trả trong vòng 60=3000 1TH
Thuỷ đóng hộ 11 tháng x 3000 = 33000
Còn nợ lại NH 49 tháng x 2000= 98000.000
Bên góc phải cuối cùng của tờ giấy thể hiện các con số 175000 98000
và khoanh tròn 27300.
[8] Chị T1 thừa nhận chữ viết của chị, nhưng không biết lý do tại sao N
li được mẩu giấy này, chị T1 không thừa nhận liên quan tới việc vay nợ
tin giữa vợ chồng chị vi ông P, bà N. Nội dung giy vay tiền trên không ng,
không chữ nhận của các bên, số tin không phợp với số tiền mà ông P,
bà N đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án (trong quá trình giải quyết ông
P, bà N khai vay của anh T, chị T1 250.000.000 đồng mi nhận 70.000.000 đồng)
như vậy số tiền trên mẩu giấy không phợp với số tiền vay như ông P, N đã
trình bày; người đại diện theo ủy quyền của ông P,N tại phiên tòa xác định số
tin ghi trong mẩu giấy trên số tin trong tương lai svay, thực tế chỉ mi vay
70.000.000 đồng, nhưng nội dung mu giy không có khoản vay 70.000.000 đồng
nội dung thể hiện người vay nhiu lần trả gốc và lãi, tổng n lại 98.000.000
đồng, các khoản tiền không phù hợp với li trìnhy của phía bị đơn. Nên không
có cơ sở để xác định nội dung mẩu giấy nêu trên là căn cứ chứng minh ông P,
N vay tiền của anh T, chị T1 dẫn đến việc hợp đồng chuyển nhượng đất giả
cách để bảo đảm tiền vay.
[9] Thực tế, ngày 20/10/2016, anh T thế chấp nhà đất vay 120.000.000 đồng
của Ngân hàng Q - V2 trong thời hạn 60 tháng, đến hạn anh T, chị T1 đã trả xong
nợ Ngân hàng, xác minh tại Ngân ng thể hiện anh T, chị T1 người vay tiền,
nhận tiền vay, trả tiền lãi và gốc đến khi trả xong. Việc chuyển nhưng đất từ năm
2014, đến năm 2016 anh T, chị T1 mới vay Ngân hàng, không có sở, tài liệu
chứng cứ xác định anh T, chị T1 vay số tiền nêu trên cho ông P, N.
[10] Anh Tài, chị T1 trình bày sau khi nhận chuyển nhượng đất, do anh chị
chưa nhu cầu, đồng thời ông P, N chưa chỗ ở nên anh chị đã cho ông P,
N nhờ trên đất. Li trình y của anh T, chị T1 là có n cứ ngày 6/4/2015,
8
ông P, N ký Giấy cam kết ở nhờ với nội dung xin ở nhờ khi nào anh T, chị T1
cần trả lại nhà đất cam kết chịu trách nhiệm nếu kiện tụng. Sau đó, anh
T nhiều lần yêu cầu ông P, N giao trả nhà nhưng không được trả. Ngày
28/12/2018, hai n đã giấy thỏa thuận vi nội dụng: Tiếp tục cho nhờ
đồng ý chuyển nhượng li cho ông P, N giá 700.000.000 đồng tính từ ngày
28/12/2018 đến ngày 28/3/2019 nếu kng thanh toán đúng hn sẽ phải dọn đồ
đạc trả lại nhà đất, không được hưng quyền lợi liên quan tới nhà đất. Như vy,
căn cứ ni dung Giấy cam kết ngày 6/4/2015 Giấy thỏa thuận ngày 28/12/2018
thì li khai của anh T, chị T1 xác địnhkkhăn chỗ nên anh T, chị T1 đã cho
ông P, N nhờ và tạo điều kiện cho mua lại nhà nhưng không thực hiện đúng
thỏa thuận là có căn cứ.
[11] Cũng căn cứ vào Giấy cam kết Giấy thỏa thuận nêu trên có căn cứ
xác định anh T, chị T1 đã thanh toán 250.000.000 đồng cho ông P, N tmi
có việc ông P, bà N cam kết, thỏa thun xin ở nh, cam kết trả li nhà đất, thỏa
thun nhận chuyển nhượng lại đất giá 700.000.000 đồng trong thời hạn 3 tháng
không việc cấn trtin chuyển nhượng đất chưa thanh toán suốt từ m
2014 đến 2019 ông P, bà N không ý kiến về việc tiền chuyển nhượng đất
chưa được thanh toán.
[12] Cũng căn cứ nội dung Giấy cam kết Giấy thỏa thuận tn xác định
ông P, bà N hợp đồng chuyển nhưng đất không ghi nội dung bán nhà, nhưng
thực tế thỏa thuận cả về việc mua n nhà nên việc ông P, N 2 lần n
bản cam kết ở nhờ và trả lại nhà đất cho anh T, chị T1.
[13] Phía bị đơn cho rằng giá chuyển nhượng đất các bên thỏa thuận không
đúng vi giá thị trưng, cán bộ Ủy ban nhân dân xã X giá 1.000.000 đồng/m
2
thời
đim chuyển nhưng theo xác minh của Tòa án là không đúng, nhưng không cung
cấp được tài liu chứng cxác định giá chuyển nhượng đất theo thị trường m
2014, nên không n cứ xác định chính quyền địa phương xác định giá nêu trên
không đúng thị trường. Vấn đề giá chuyển nhượng do các n tự do ý c, t
nguyện thỏa thuận, không căn cứ xác định ông P, N bị ép buộc, lừa dối,
không tự nguyện thỏa thuận về giá chuyển nhưng. Giá nhà đất năm 2014 các bên
thỏa thuận 250.000.000 đồng gồm nhà đất 221m
2
cũng phù hợp với kết quả
xác minh giá của chính quyền địa phương xác định thời điểm các n chuyển
nhượng đất giá 1.000.000 đồng/m
2
x 221m
2
là 221.000.000 đồng tiền đất n lại
là giá nhà, tài sản trên đất do các bên thỏa thuận. m 2016, Ngân hàng Đ
552.000.000 đồng để cho anh T, chị T1 vay vn đã cách 2 năm thời điểm các bên
chuyển nhượng nên không phải n cứ xác định c bên chuyển nhượng không
đúng giá thị trường.
[14] Từ những nhận định nêu trên kng có căn cứ chứng minh hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P, N với anh T, chị T1 giả tạo
nhằm che dấu giao dịch khác. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa
ông P, N với anh T, chị T1 tuân thủ các điu kiện có hiu lực của một giao dịch
dân sự, hình thức, nội dung đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm, trái pháp
9
luật, đãhiu lực, đã hoàn thành và quyền sử dụng đất đã được chuyn cho anh
T, chị T1 đúng pháp luật. Thực tế, không việc giao nhận nhà đất như việc
chuyển nhượng thông thường nhưng hai n đã thỏa thuận cho nhau ở nhờ và cam
kết trả lại nhà đất nên đã chuyển hóa tnh quan hệ cho nhờ. Anh Tài, chị T1
khởi kiện đòi lại nhà đất cho nhờ đúng quan hệ pháp luật. Không có căn cứ
để tuyên bố hợp đồng chuyển nhưng đất giữa ông P, bà N với anh T, chị T1 ngày
22/7/2014 vô hiệu, n không có căn chủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã chấp cho anh T, chị T1 ngày 07/9/2022. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của anh T, chị T1, buộc ông P, N trả lại nhà đất tranh chấp
cho anh T, chị T1; không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông P,N về tuyên bố
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/7/2014 yêu cu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh T, chị T1 là căn cứ.
Yêu cầu hủy giy chứng nhn quyền sử dụng đất của bị đơn được Tòa án xem xét
gii quyết khi giải quyết vụ án, nếu căn cứ ng việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không đúng Tòa án theo thẩm quyền quy định hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hoặc Tòa án kiến nghị quan nh chính nhà nước
thm quyền thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyn sdụng đất; yêu cầu hủy giấy
chứng nhn quyền sdụng đất Tòa án kng phải thụ lý như là yêu cầu khởi kiện,
yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Do đó, phần quyết định của Bản án thm
tuyên không chấp nhận yêu cầu phản tcủa bị đơn về hủy giy chứng nhận quyền
sử dụng đất không phù hợp mà chỉ cần nhn định trong bản án yêu cầu y
không có n cứ không được chp nhn, Tòa án cấp phúc thm điều chỉnh li cách
tuyên của Tòa án cấp thẩm.
[15] Người đại diện theo ủy quyền của ông P, N đề nghị hủy bản án sơ
thm với do Tòa án cấp sơ thẩm kng đưa các con ông P, N tham gia tố
tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng
cho rằng i sản nhà đất ng sức đóng góp của các con, các con sinh sống
cùng ông P, N. Xét thấy nguồn gốc đất Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng n ông P m 2001, không phải cấp cho hộ gia đình. Ông P, bà
N cũng thừa nhận tại thời điểm xây dựng nhà ở m 1994 các con của ông P,
N còn rất nhỏ và năm 2013 khi xây dựng c công trình khác con lớn đã gia
đình ở riêng, ngưi con thứ hai đi làm công nhân và hai người con nhỏ còn đi học
phổ thông nên việc đóng góp công sức như thế nào bản thân ông P, N cũng
không thể xác định được. Tại phiên tòa phúc thẩm phía bđơn cũng kng xuất
trình được tài liu chứng cứ chứng minh tài sản nhà đất có công sức đóng góp của
các con ông P, bà N, nên không có cơ sở xác định nhà đất tranh chấp của vợ chồng
ông P, bà N quyền tài sản của các con, Tòa án cấp thẩm không đưa các con
ông P, N tham gia tố tụng là có căn cứ.
[16] Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng đơn khởi kiện
nguyên đơn yêu cu bđơn trả thửa đất 141, nhưng sau đó đổi thành thửa 142,
nguyên đơn không sửa chữa bổ sung đơn khởi kin là vi phạm tố tụng. Thấy rằng
Đơn khởi kiện anh T, chị T1 u cầu ông P, N trả nhà đất đang ở là thửa 141,
nhưng qtrình giải quyết phát hiện nhầm lẫn sthửa do quan Nnước cấp
10
nhầm, thực tế thửa đất anh T, chị T1 được cấp nhn chuyn nhượng của ông P, bà
N thửa 142, anh T, chị T1 đã đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sdụng
đất đúng với thửa 142. Đối tượng khởi kiện nhà đất ông P, N đang quản
sử dụng, đúng với nhà đất anh T, chị T1 đã nhn chuyển nhượng của ông P, bà N
cho nhờ, việc thay đổi số thửa thay đổi thông tin về thửa đất đang tranh
chấp không m thay đổi phạm vi, đối tượng khởi kiện, sau khi thay đổi số thửa
141 thành 142 anh T, chị T1 đã trình bày sửa li số thửa yêu cầu giải quyết
trong quá trình tố tụng tiếp theo tkhi được cấp đổi lại số thửa. Trường hợp này
không cần thiết phải làm thủ tục sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện như ý kiến của
người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà N tại phiên tòa phúc thẩm.
[17] Thực tế khi kiểm tra hin trng toàn bộ nhà và các công trình phụ, bếp,
tường, cổng xây trên din tích 240m
2
, phần diện tích tăng thêm được xác định do
ln chiếm cổng xây 19m
2
phn đường ngõ. m 2015, cấp giy chứng nhn
quyền sử dụng đất cho anh T, chị T1 và cấp đổi năm 2022 diện tích đất là 221m
2
nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết 221m
2
. Đối vi diện tích đất 19m
2
công trình tn diện tích đất ln chiếm đưng ngõ ln chiếm hành lang giao
thông, khi tr lại nhà đt ông P, bà N phi bàn giao li cho anh T, ch T1 được tiếp
tc s dụng, khi nào Nnước thu hi anh T, ch T1 phi chp hành quyết đnh
của cơ quan Nhà nước có thm quyn.
[18] T nhng phân tích trên Hi đồng xét x không chp nhn toàn b
kháng cáo ca ông P, N, gi nguyên bn án sơ thẩm.
[19] Về chi phí tố tụng và án phí:
[20] Về chi ptố tụng: Đối với chi pvề việc xem xét thẩm định tại chỗ
(02 lần) đo đạc anh T tự nguyện chịu không đề nghị gii quyết nên không xem
xét.
[21] Về án phí: Các đương sự phi chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ông P là người cao tui, có đơn xin miễn án phí được miễn án pn sự sơ thẩm,
phúc thẩm. Bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 B lut Tố tụng n sự; Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 m 2016 quy định vmức thu, miễn,
gim, thu, np, qun lý và s dng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Bùi n P, Phùng Thị N,
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Huy T và ch Phùng Thị T1.
Buộc ông Bùi n P Phùng Thị N phải trả cho anh T, chị T1 thửa đất
số 142, tờ bản đồ s27, diện tích 221m
2
tại địa chỉ: Thôn Đ, T, thành phố V,
tỉnh Vĩnh Phúc và tài sản trên đất gồm 01 nhà cấp 4, 01 gian nhà bếp mái lợp ngói,
11
01 công trình phụ, 01 lán để xe, n gạch, cổng và các tài sản khác gắn liền với
đất được thể hiện tn đồ hin trạng thửa đất tài sản gắn lin với đất được
gii hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,1 (sơ đồ kèm theo bản án).
2. Không chấp nhận yêu cu phản tố của ông Bùi n P Phùng Th
N v tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ký ngày 22/7/2014
giữa ông P, N với anh Nguyễn Huy T chị Phùng Thị T1 tại n Phòng C1
vô hiệu.
3. Chi phí tố tụng và án phí:
- Chi ptố tụng: Ghi nhận anh Nguyễn Huy T chịu toàn bộ chi pthẩm
định, định giá, anh T đã thanh toán đủ.
- Về án phí sơ thẩm:
+ Miễn nộp án phí dân sự thẩm cho ông Bùi Văn P Phùng Thị N.
Trả lại ông P stiền tạm ng án pđã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005032 ngày 16/02/2023 tại Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Anh nguyễn Huy T4, ch Png Th T1 không phải chịu án p n sự sơ
thẩm. Trả lại anh Nguyễn Huy T ch Phùng Th T1 s tiền tạmng án phí thẩm
đã nộp 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí số AA/2017/0004487 ngày
11/6/2019 tại Chi cục Thi hành ánn sự thành phố Vĩnh Yên, tnh Vĩnh Phúc.
- Án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Bùi Văn P. Bà Phùng
Thị N phi chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng, được trừ vào 300.000
đồng tiền tạm ng án pphúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0001235 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án n sthành
phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
của Luật Thi hành án dân sự Luật sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân scó quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Bn án phúc thm có hiu lc pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- TAND TP Vĩnh Yên;
- Chi cục THADS TP Vĩnh Yên;
- Các đương sự trong vụ án;
- Lưu: hồ sơ ván.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Huy Cẩn
Tải về
Bản án số 29/2024/DS-PT Bản án số 29/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất