Bản án số 29/2024/DS-PT ngày 26/02/2024 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 29/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 29/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 29/2024/DS-PT ngày 26/02/2024 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Vĩnh Phúc |
| Số hiệu: | 29/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/02/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 29/2024/DS-PT
Ngày 26/02/2024
V/v tranh chấp về đòi nhà đất
cho ở nhờ và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Cẩn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn, bà Lê Thị Bích Ngọc
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 168/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng
12 năm 2023 về việc “Tranh chấp về đòi nhà đất cho ở nhờ và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 164/2023/QĐ-PT ngày
20/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1985, (có mặt).
2.Chị Phùng Thị T1, sinh năm 1987, (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh T: Bà Kim Hồng T2 - Trợ
giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V, (vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Bùi Văn P, sinh năm 1961.
2. Bà Phùng Thị N, sinh năm 1965.
Cùng nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
2
Người đại diện hợp pháp của ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N : Ông
Nguyễn Văn H - Luật sư Công ty L2, (có mặt).
Địa chỉ: Số D, đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C1.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Điều L – Trưởng văn phòng,
(vắng mặt).
Địa chỉ: Khu đô thị C, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người kháng cáo: Ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2019 và các lời khai trong quá trình tố
tụng nguyên đơn anh Nguyễn Huy T, chị Phùng Thị T1 trình bày:
Ngày 22/7/2014, anh chị nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 145B, tờ bản đồ số 4, diện tích 221m
2
tại thôn Đ, xã T, thành phố V,
tỉnh Vĩnh Phúc, đứng tên ông Bùi Văn P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số X 432630 cấp ngày 20/12/2001. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được Văn phòng C1 công chứng số 2889/2014/CNQSDĐ ngày 22/7/2014. Giá
chuyển nhượng là 250.000.000 đồng, anh chị đã thanh toán đủ cho ông P, bà N
tại nhà anh chị có giấy giao nhận tiền, nhưng do xây nhà mới nên đã làm mất. Hợp
đồng chuyển nhượng đất chỉ có nội dung chuyển nhượng đất, không ghi mua bán
nhà nhưng thực tế là cả mua bán nhà. Sau đó, anh chị đã được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 060765 ngày
14/4/2015 mang tên anh chị, theo bản đồ VN2000 là thửa đất số 141, tờ bản đồ số
27, diện tích 221m
2
.
Ngày 20/10/2016, anh chị thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Q - Chi nhánh V để vay 120.000.000 đồng để kinh doanh
buôn bán hàng hóa, đến ngày 04/3/2020 anh chị đã thực hiện xong nghĩa vụ trả
nợ với Ngân hàng, xóa đăng ký thế chấp.
Sau khi nhận chuyển nhượng, do anh chị chưa có nhu cầu sử dụng đất,
đồng thời ông P, bà N chưa có chỗ ở nên anh chị đã cho ông P, bà N tiếp tục ở
nhờ, không phải trả tiền thuê nhà đất, nhưng phải có trách nhiệm đóng thuế với
nhà nước. Ông P, bà N đã ký vào cam kết cho ở nhờ ngày 06/4/2015. Cuối năm
2018, anh chị yêu cầu ông P, bà N trả lại nhà và đất nhưng không được trả nên
phát sinh tranh chấp. Việc tranh chấp này chính quyền địa phương xã T đều biết
và đã hòa giải nhưng không thành. Đến ngày 28/12/2018, hai bên tiếp tục lập giấy
thỏa thuận với nội dung anh chị tiếp tục cho ông P, bà N ở nhờ và đồng ý chuyển
nhượng lại thửa đất cho ông P, bà N với giá 700.000.000 đồng; ông P, bà N phải
thanh toán tiền trong thời hạn từ ngày 28/12/2018 đến ngày 28/3/2019, nếu hết
thời hạn trên không thanh toán thì ông P, bà N phải dọn dẹp đồ đạc để trả lại đất
và nhà cho anh chị. Ông P đã ký vào “bên ở nhờ” trước sự chứng kiến của trưởng
thôn ông Trần Xuân T3. Tuy nhiên đến hạn, ông P, bà N không thanh toán số tiền
3
700.000.000 đồng như đã thỏa thuận nên anh chị khởi kiện đề nghị Tòa án buộc
ông P, bà N trả lại thửa đất số 141, tờ bản đồ số 27, diện tích 221m
2
nêu trên.
Quá trình giải quyết Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh V1 kiểm tra hồ
sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bản đồ 299 và thực tế hiện trạng sử
dụng đất thì thửa đất số 145B tờ bản đồ 04 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất phát hành X 432630 số vào sổ 0406 do Ủy ban nhân dân thị xã V cấp ngày
20/12/2001 mang tên ông Bùi Văn P tương ứng với thửa số 142, tờ bản đồ số 27.
Thửa đất số 141, tờ bản đồ số 27 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho
anh chị là nhầm thửa, thực tế là thửa 142. Anh chị đã làm thủ tục xin cấp đổi lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 07/09/2022, anh chị đã được cấp lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 142, tờ bản đồ số 27, diện tích 221m
2
.
Anh chị yêu cầu ông P, bà N trả lại nhà đất tại thửa số 142, tờ bản đồ 27, diện tích
221m
2
đang do ông P, bà N quản lý sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm lần 1 bà N có xuất trình mẩu giấy là chữ viết của
chị T1, nhưng chị xác định không phải viết cho bà N, mẩu giấy bị cắt bỏ nội dung
xung quanh, anh chị không nhớ viết nội dung này cho ai, không biết tại sao bà N
lại có mẩu giấy này, nội dung mẩu giấy không có chữ ký xác nhận của ai, không
rõ ràng số tiền, nội dung không rõ, anh chị khẳng định không cho ông P, bà N vay
khoản tiền nào.
Bị đơn, ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N trình bày:
Ông bà thừa nhận ngày 22/7/2014, tại Văn phòng C1, ông bà có ký hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh T và chị T1. Tuy nhiên,
việc chuyển nhượng chỉ là tạm thời, mục đích không phải là chuyển nhượng nhà
đất mà chỉ sang tên đất cho anh T, chị T1 và nhờ anh T, chị T1 dùng thửa đất đó
thế chấp vay 250.000.000 đồng tại Ngân hàng hộ ông bà, tuy nhiên sau đó anh T,
chị T1 không vay hộ tiền cho ông bà, không đưa cho ông bà bất kỳ khoản tiền
nào.
Tại đơn phản tố đề ngày 23/6/2020 ông bà khai mục đích của việc chuyển
nhượng là để đảm bảo cho khoản vay của ông bà với anh T chị T1 số tiền
250.000.000 đồng nhưng thực tế ông bà mới nhận 70.000.000 đồng. Về Giấy cam
kết cho ở nhờ ngày 06/4/2015, ông bà xác nhận chữ ký phần “Bên ở nhờ ký tên”
là chữ ký của ông bà nhưng do anh T nói là phải ký vào giấy này mới đầy đủ thủ
tục để vay tiền tại ngân hàng nên ông bà mới ký vào giấy chứ mục đích ký không
phải là để ở nhờ. Nay anh T chị T1 khởi kiện ông bà về việc đòi lại tài sản là
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất ông bà không đồng ý. Lý do là việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa 2 bên chỉ là tạm thời, ông bà không bán
đất.
Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất, kết quả thể
hiện: Thửa đất đã xây tường bao loan và sử dụng ổn định theo như diện tích và
hình thể trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với các
hộ giáp ranh; trên đất có xây dựng 2 dãy nhà cấp bốn và 01 sân gạch, trong đó có
01 nhà cấp 4, 04 gian xây dựng năm 1997; 01 gian bếp xây năm 2013; công trình
4
phụ, lán để xe, tường, cổng, sân gạch đều xây dựng trước năm 2014 là tài sản của
gia đình ông bà và con là chị Bùi Thị N1 (sinh năm 1985), anh Bùi Văn C (sinh
năm 1987), chị Bùi Thị Thanh L1 (sinh năm 1990) và chị Bùi Thị H1 (sinh năm
1992). Khi xây dựng công trình các con ông bà còn nhỏ, chỉ phụ giúp việc xây
dựng, không xác định được công sức.
Ngày 22/7/2019, ông có đơn tố cáo anh T về hành vi lừa đảo chiếm đoạt
tài sản là thửa đất của gia đình ông tại thôn Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Quá trình điều tra, không có căn cứ xác định có dấu hiệu phạm tội nên ngày
22/11/2019, Công an thành phố V đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm lần 1 bà N có cung cấp cho Tòa án một mẩu giấy
do chị T1 viết có chứa nội dung ghi chép các khoản tiền liên quan tới việc vay
mượn là tài liệu chứng cứ mới, giấy này chị T1 thừa nhận chữ viết nên ông bà yêu
cầu hủy Bản án sơ thẩm lần 1. Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm
và Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết lại thì ngày 14/01/2023, ông bà có Đơn
phản tố yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
11/7/2014 giữa ông bà với anh T, chị T1 vô hiệu; yêu cầu tuyên hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 07/9/2022 cho anh T, chị T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C1, người đại diện
theo pháp luật và cũng là công chứng viên ông Nguyễn Điều L trình bày:
Theo phiếu yêu cầu công chứng của ông Bùi Văn P, ngày 22/7/2014 Văn
phòng có công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
2889/2014/CNQSDĐ giữa bên chuyển nhượng là ông Bùi Văn P, bà Phùng Thị
N và bên nhận chuyển nhượng là bà Phùng Thị T1, ông Nguyễn Huy T. Tài sản
chuyển nhượng là quyền sử dụng thửa đất số 145B, tờ bản đồ số 04, diện tích
221m
2
; địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên
ông Bùi Văn P. Sau khi Văn phòng lập hợp đồng chuyển nhượng theo yêu cầu
của các bên, các bên đã được tự đọc lại hợp đồng, đồng ý với các nội dung trong
hợp đồng và tự nguyện ký tên, điểm chỉ trước sự chứng kiến của công chứng viên.
Hợp đồng trên đã tuân thủ đầy đủ và đúng quy định của pháp luật, vì vậy hợp
đồng chuyển nhượng này là hợp pháp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 14/4/2021 của Toà án
nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T và chị T1. Buộc ông P và bà N
có trách nhiệm trả cho anh T, chị T1 thửa đất số 142, tờ bản đồ số 27, diện tích
229m
2
tại thôn Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Cụ thể có các chiều cạnh
có sơ đồ kèm theo cùng các tài sản gắn trên đất là 2 dãy nhà cấp bốn và 01 sân
gạch.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông P, bà N đã kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị
cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 48/2022/DS-PT ngày 20/9/2021 của Toà
án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số
5
04/2021/DS-ST ngày 14/4/2021 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sở thẩm
lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (được sửa chữa, bổ sung theo Quyết
định số 65/2023/QĐ-DCBSBA ngày 03/11/2023) đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Huy T và chị Phùng Thị T1.
Buộc ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N phải trả cho anh T chị T1 thửa đất số 142,
tờ bản đồ số 27, diện tích 221m
2
; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh
Phúc (được thể hiện trên sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất là
các điểm 1,2,3,4,5,6,7,1) và toàn bộ tài sản trên đất là 01 nhà cấp 4; 01 gian nhà
bếp mái lợp ngói; 01 công trình phụ; 01 lán để xe, sân gạch, cổng. (Kèm theo là
sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất).
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N
về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 11/7/2014 tại
Văn phòng C1 vô hiệu và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 406401,
số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 03351 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
V cấp ngày 07/9/2022 mang tên chị T1 anh T, diện tích 221m
2
; địa chỉ: Thôn Đ,
xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay thuộc thửa đất số 142, tờ bản đồ số 27.
Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/10/2023 bị đơn là ông Bùi Văn P, bà Phùng
Thị N kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm ngày
30/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên
Quá trình xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc phát biểu: Về tố tụng Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành thụ lý, thu thập
chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và tiến
hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội
dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn
ông Bùi Văn P, bà Phùng Thị N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số
41/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc. Án phí các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát. Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn P và bà
Phùng Thị N trong hạn luật định, việc thụ lý đơn kháng cáo đúng quy định nên
được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Nguyên đơn khởi kiện đòi lại tài
6
sản cho ở nhờ, bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý giải quyết cả hai
quan hệ đòi lại tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
là đúng, nhưng phần trích yếu bản án chỉ ghi quan hệ là tranh chấp kiện đòi tài
sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là thiếu quan hệ pháp luật. Tòa
án cấp phúc thẩm sửa lại phần nội dung trích yếu quan hệ pháp luật của Tòa án
cấp sơ thẩm, xác định quan hệ giải quyết vụ án này là tranh chấp về đòi nhà đất
cho ở nhờ và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[2] Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N thấy
rằng:
[3] Ngày 22/7/2014, anh T, chị T1 ký hợp đồng nhận chuyển nhượng của
ông P, bà N thửa đất 145B, tờ bản đồ số 4, diện tích 221m
2
tại thôn Đ, xã T, thành
phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đất chuyển nhượng đứng tên ông P theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp ngày 20/12/2001. Hợp đồng chuyển nhượng đã được công
chứng, thủ tục công chứng đúng quy định của pháp luật, các bên thừa nhận tự
nguyện ký kết hợp đồng trước mặt công chứng viên. Ngày 14/4/2015, anh T, chị
T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất nhận chuyển nhượng
nêu trên là thửa 141, tờ bản đồ 27, diện tích 221m
2
. Căn cứ Điều 692 Bộ luật Dân
sự 2005 thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh T, chị T1 với ông P,
bà N đã có hiệu lực pháp luật.
[4] Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất, ngày 06/4/2015 giữa anh T,
chị T1 với ông P, bà N đã lập “Giấy cam kết cho ở nhờ” có nội dung: Do vợ chồng
ông P, bà N chưa chuyển đến chỗ ở mới nên anh T, chị T1 cho ông P, bà N ở nhờ,
khi nào cần sử dụng thì có trách nhiệm trả lại nhà đất và cam kết nếu có điều gì
xảy ra mà dẫn đến kiện tụng ông P, bà N phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước
pháp luật. Ngày 28/12/2018, anh T, chị T1 và ông P, bà N tiếp tục ký “Giấy thỏa
thuận” có nội dung: Tiếp tục cho ông P, bà N ở nhờ và đồng ý chuyển nhượng lại
cho ông P, bà N 700.000.000 đồng tính từ ngày 28/12/2018 đến 28/3/2019 (3
tháng) ông P, bà N phải thanh toán số tiền trên nếu không thanh toán phải dọn đồ
đạc để trả lại nhà đất cho anh T, chị T1.
[5] Ông P, bà N cho rằng ký hợp đồng chuyển nhượng chỉ là giả tạo nhằm
che dấu hợp đồng vay tiền giữa ông P, bà N với anh T, chị T1.
[6] Xét thấy lời khai của ông P, bà N trong quá trình giải quyết vụ án có sự
mâu thuẫn về mục đích chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại bản tự khai, biên
bản hòa giải thể hiện mục đích của việc chuyển nhượng là để nhờ anh T chị T1
vay tiền ngân hàng hộ do ông P, bà N thuộc diện nợ xấu không thể vay được ngân
hàng, nhưng theo Biên bản xác minh ngày 19/11/2019 tại Ngân hàng N2 - chi
nhánh V1 (do cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập) thể hiện ngày 26/12/2012, bà N
có thế chấp đất để vay 70.000.000 đồng của Ngân hàng thời hạn vay 02 năm đến
ngày 26/12/2014, quá trình vay bà N trả lãi gốc đầy đủ và tất toán ngày 26/12/2014
và không thuộc diện nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng. Còn tại đơn phản tố đề
ngày 23/6/2020 ông P bà N lại trình bày ông bà có vay của anh T chị T1 số tiền
7
70.000.000 đồng, một thời gian sau cộng lãi lên 100.000.000 đồng, sau đó ông bà
có ý định vay thêm của anh T, chị T1 số tiền 150.000.000 đồng, cộng với
100.000.000 đồng trước đó là 250.000.000 đồng nên phải chuyển nhượng thửa
đất cho anh T chị T1 để đảm bảo khoản vay này. Nhưng anh T, chị T1 không thừa
nhận, ông P, bà N và người đại diện theo ủy quyền không xuất trình được tài liệu
chứng cứ chứng minh có việc vay tiền, trả lãi để chứng minh giữa hai bên có quan
hệ vay tiền.
[7] Quá trình giải quyết ông P, bà N có xuất trình mẩu giấy nhỏ hình vuông
có nội dung:
Tổng vay = 300.000.000 trả góp trong vòng 60= lần 1 5000.
T1 đóng hộ = 18x7000=12600.000
Vay cho cô lần 2 = 120.000.000 trả trong vòng 60=3000 1TH
Thuỷ đóng hộ 11 tháng x 3000 = 33000
Còn nợ lại NH 49 tháng x 2000= 98000.000
Bên góc phải cuối cùng của tờ giấy có thể hiện các con số 175000 98000
và khoanh tròn 27300.
[8] Chị T1 thừa nhận chữ viết của chị, nhưng không biết lý do tại sao bà N
lại có được mẩu giấy này, chị T1 không thừa nhận liên quan tới việc có vay nợ
tiền giữa vợ chồng chị với ông P, bà N. Nội dung giấy vay tiền trên không rõ ràng,
không có chữ ký nhận của các bên, số tiền không phù hợp với số tiền mà ông P,
bà N đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án (trong quá trình giải quyết ông
P, bà N khai vay của anh T, chị T1 250.000.000 đồng mới nhận 70.000.000 đồng)
như vậy số tiền trên mẩu giấy không phù hợp với số tiền vay như ông P, bà N đã
trình bày; người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà N tại phiên tòa xác định số
tiền ghi trong mẩu giấy trên là số tiền trong tương lai sẽ vay, thực tế chỉ mới vay
70.000.000 đồng, nhưng nội dung mẩu giấy không có khoản vay 70.000.000 đồng
và nội dung thể hiện người vay nhiều lần có trả gốc và lãi, tổng còn lại 98.000.000
đồng, các khoản tiền không phù hợp với lời trình bày của phía bị đơn. Nên không
có cơ sở để xác định nội dung mẩu giấy nêu trên là căn cứ chứng minh ông P, bà
N vay tiền của anh T, chị T1 dẫn đến việc ký hợp đồng chuyển nhượng đất giả
cách để bảo đảm tiền vay.
[9] Thực tế, ngày 20/10/2016, anh T thế chấp nhà đất vay 120.000.000 đồng
của Ngân hàng Q - V2 trong thời hạn 60 tháng, đến hạn anh T, chị T1 đã trả xong
nợ Ngân hàng, xác minh tại Ngân hàng thể hiện anh T, chị T1 là người vay tiền,
nhận tiền vay, trả tiền lãi và gốc đến khi trả xong. Việc chuyển nhượng đất từ năm
2014, đến năm 2016 anh T, chị T1 mới vay Ngân hàng, không có cơ sở, tài liệu
chứng cứ xác định anh T, chị T1 vay số tiền nêu trên cho ông P, bà N.
[10] Anh Tài, chị T1 trình bày sau khi nhận chuyển nhượng đất, do anh chị
chưa có nhu cầu, đồng thời ông P, bà N chưa có chỗ ở nên anh chị đã cho ông P,
bà N ở nhờ trên đất. Lời trình bày của anh T, chị T1 là có căn cứ vì ngày 6/4/2015,
8
ông P, bà N ký Giấy cam kết ở nhờ với nội dung xin ở nhờ khi nào anh T, chị T1
cần trả lại nhà và đất và cam kết chịu trách nhiệm nếu có kiện tụng. Sau đó, anh
T có nhiều lần yêu cầu ông P, bà N giao trả nhà nhưng không được trả. Ngày
28/12/2018, hai bên đã ký giấy thỏa thuận với nội dụng: Tiếp tục cho ở nhờ và
đồng ý chuyển nhượng lại cho ông P, bà N giá 700.000.000 đồng tính từ ngày
28/12/2018 đến ngày 28/3/2019 nếu không thanh toán đúng hạn sẽ phải dọn đồ
đạc trả lại nhà đất, không được hưởng quyền lợi liên quan gì tới nhà đất. Như vậy,
căn cứ nội dung Giấy cam kết ngày 6/4/2015 và Giấy thỏa thuận ngày 28/12/2018
thì lời khai của anh T, chị T1 xác định vì khó khăn chỗ ở nên anh T, chị T1 đã cho
ông P, bà N ở nhờ và tạo điều kiện cho mua lại nhà nhưng không thực hiện đúng
thỏa thuận là có căn cứ.
[11] Cũng căn cứ vào Giấy cam kết và Giấy thỏa thuận nêu trên có căn cứ
xác định anh T, chị T1 đã thanh toán 250.000.000 đồng cho ông P, bà N thì mới
có việc ông P, bà N ký cam kết, thỏa thuận xin ở nhờ, cam kết trả lại nhà đất, thỏa
thuận nhận chuyển nhượng lại đất giá 700.000.000 đồng trong thời hạn 3 tháng
không có việc cấn trừ tiền chuyển nhượng đất chưa thanh toán và suốt từ năm
2014 đến 2019 ông P, bà N không có ý kiến gì về việc tiền chuyển nhượng đất
chưa được thanh toán.
[12] Cũng căn cứ nội dung Giấy cam kết và Giấy thỏa thuận trên xác định
ông P, bà N ký hợp đồng chuyển nhượng đất không ghi nội dung bán nhà, nhưng
thực tế thỏa thuận cả về việc mua bán nhà nên có việc ông P, bà N ký 2 lần văn
bản cam kết ở nhờ và trả lại nhà đất cho anh T, chị T1.
[13] Phía bị đơn cho rằng giá chuyển nhượng đất các bên thỏa thuận không
đúng với giá thị trường, cán bộ Ủy ban nhân dân xã X giá 1.000.000 đồng/m
2
thời
điểm chuyển nhượng theo xác minh của Tòa án là không đúng, nhưng không cung
cấp được tài liệu chứng cứ xác định giá chuyển nhượng đất theo thị trường năm
2014, nên không có căn cứ xác định chính quyền địa phương xác định giá nêu trên
không đúng thị trường. Vấn đề giá chuyển nhượng do các bên tự do ý chí, tự
nguyện thỏa thuận, không có căn cứ xác định ông P, bà N bị ép buộc, lừa dối,
không tự nguyện thỏa thuận về giá chuyển nhượng. Giá nhà đất năm 2014 các bên
thỏa thuận 250.000.000 đồng gồm nhà và đất 221m
2
cũng phù hợp với kết quả
xác minh giá của chính quyền địa phương xác định thời điểm các bên chuyển
nhượng đất giá 1.000.000 đồng/m
2
x 221m
2
là 221.000.000 đồng tiền đất còn lại
là giá nhà, tài sản trên đất do các bên thỏa thuận. Năm 2016, Ngân hàng Đ
552.000.000 đồng để cho anh T, chị T1 vay vốn đã cách 2 năm thời điểm các bên
chuyển nhượng nên không phải căn cứ xác định các bên chuyển nhượng không
đúng giá thị trường.
[14] Từ những nhận định nêu trên không có căn cứ chứng minh hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P, bà N với anh T, chị T1 là giả tạo
nhằm che dấu giao dịch khác. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông P, bà N với anh T, chị T1 tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch
dân sự, hình thức, nội dung đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm, trái pháp
9
luật, đã có hiệu lực, đã hoàn thành và quyền sử dụng đất đã được chuyển cho anh
T, chị T1 đúng pháp luật. Thực tế, không có việc giao nhận nhà đất như việc
chuyển nhượng thông thường nhưng hai bên đã thỏa thuận cho nhau ở nhờ và cam
kết trả lại nhà đất nên đã chuyển hóa thành quan hệ cho ở nhờ. Anh Tài, chị T1
khởi kiện đòi lại nhà đất cho ở nhờ là đúng quan hệ pháp luật. Không có căn cứ
để tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông P, bà N với anh T, chị T1 ngày
22/7/2014 vô hiệu, nên không có căn cứ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã chấp cho anh T, chị T1 ngày 07/9/2022. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của anh T, chị T1, buộc ông P, bà N trả lại nhà đất tranh chấp
cho anh T, chị T1; không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông P, bà N về tuyên bố
vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/7/2014 và yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh T, chị T1 là có căn cứ.
Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn được Tòa án xem xét
giải quyết khi giải quyết vụ án, nếu có căn cứ rõ ràng việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không đúng Tòa án theo thẩm quyền quy định hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hoặc Tòa án kiến nghị cơ quan hành chính nhà nước có
thẩm quyền thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất Tòa án không phải thụ lý như là yêu cầu khởi kiện,
yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Do đó, phần quyết định của Bản án sơ thẩm
tuyên không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là không phù hợp mà chỉ cần nhận định trong bản án yêu cầu này
không có căn cứ không được chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cách
tuyên của Tòa án cấp sơ thẩm.
[15] Người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà N đề nghị hủy bản án sơ
thẩm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm không đưa các con ông P, bà N tham gia tố
tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng
vì cho rằng tài sản nhà đất có công sức đóng góp của các con, các con sinh sống
cùng ông P, bà N. Xét thấy nguồn gốc đất Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên ông P năm 2001, không phải cấp cho hộ gia đình. Ông P, bà
N cũng thừa nhận tại thời điểm xây dựng nhà ở năm 1994 các con của ông P, bà
N còn rất nhỏ và năm 2013 khi xây dựng các công trình khác con lớn đã có gia
đình ở riêng, người con thứ hai đi làm công nhân và hai người con nhỏ còn đi học
phổ thông nên việc đóng góp công sức như thế nào bản thân ông P, bà N cũng
không thể xác định được. Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn cũng không xuất
trình được tài liệu chứng cứ chứng minh tài sản nhà đất có công sức đóng góp của
các con ông P, bà N, nên không có cơ sở xác định nhà đất tranh chấp của vợ chồng
ông P, bà N có quyền tài sản của các con, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa các con
ông P, bà N tham gia tố tụng là có căn cứ.
[16] Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng đơn khởi kiện
nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả thửa đất 141, nhưng sau đó đổi thành thửa 142,
nguyên đơn không sửa chữa bổ sung đơn khởi kiện là vi phạm tố tụng. Thấy rằng
Đơn khởi kiện anh T, chị T1 yêu cầu ông P, bà N trả nhà đất đang ở là thửa 141,
nhưng quá trình giải quyết phát hiện nhầm lẫn số thửa do cơ quan Nhà nước cấp
10
nhầm, thực tế thửa đất anh T, chị T1 được cấp nhận chuyển nhượng của ông P, bà
N là thửa 142, anh T, chị T1 đã đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đúng với thửa 142. Đối tượng khởi kiện là nhà đất ông P, bà N đang quản lý
sử dụng, đúng với nhà đất anh T, chị T1 đã nhận chuyển nhượng của ông P, bà N
và cho ở nhờ, việc thay đổi số thửa là thay đổi thông tin về thửa đất đang tranh
chấp không làm thay đổi phạm vi, đối tượng khởi kiện, sau khi thay đổi số thửa
141 thành 142 anh T, chị T1 đã có trình bày sửa lại số thửa yêu cầu giải quyết
trong quá trình tố tụng tiếp theo từ khi được cấp đổi lại số thửa. Trường hợp này
không cần thiết phải làm thủ tục sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện như ý kiến của
người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà N tại phiên tòa phúc thẩm.
[17] Thực tế khi kiểm tra hiện trạng toàn bộ nhà và các công trình phụ, bếp,
tường, cổng xây trên diện tích 240m
2
, phần diện tích tăng thêm được xác định do
lấn chiếm cổng xây 19m
2
phần đường và ngõ. Năm 2015, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho anh T, chị T1 và cấp đổi năm 2022 diện tích đất là 221m
2
nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết 221m
2
. Đối với diện tích đất 19m
2
và
công trình trên diện tích đất lấn chiếm đường ngõ và lấn chiếm hành lang giao
thông, khi trả lại nhà đất ông P, bà N phải bàn giao lại cho anh T, chị T1 được tiếp
tục sử dụng, khi nào Nhà nước thu hồi anh T, chị T1 phải chấp hành quyết định
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
[18] Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ
kháng cáo của ông P, bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[19] Về chi phí tố tụng và án phí:
[20] Về chi phí tố tụng: Đối với chi phí về việc xem xét thẩm định tại chỗ
(02 lần) đo đạc anh T tự nguyện chịu không đề nghị giải quyết nên không xem
xét.
[21] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ông P là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí được miễn án phí dân sự sơ thẩm,
phúc thẩm. Bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Bùi Văn P, bà Phùng Thị N,
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Huy T và chị Phùng Thị T1.
Buộc ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N phải trả cho anh T, chị T1 thửa đất
số 142, tờ bản đồ số 27, diện tích 221m
2
tại địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố V,
tỉnh Vĩnh Phúc và tài sản trên đất gồm 01 nhà cấp 4, 01 gian nhà bếp mái lợp ngói,
11
01 công trình phụ, 01 lán để xe, sân gạch, cổng và các tài sản khác gắn liền với
đất được thể hiện trên Sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất được
giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,1 (sơ đồ kèm theo bản án).
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị
N về tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 22/7/2014
giữa ông P, bà N với anh Nguyễn Huy T và chị Phùng Thị T1 tại Văn Phòng C1
vô hiệu.
3. Chi phí tố tụng và án phí:
- Chi phí tố tụng: Ghi nhận anh Nguyễn Huy T chịu toàn bộ chi phí thẩm
định, định giá, anh T đã thanh toán đủ.
- Về án phí sơ thẩm:
+ Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho ông Bùi Văn P và bà Phùng Thị N.
Trả lại ông P số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005032 ngày 16/02/2023 tại Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Anh nguyễn Huy T4, chị Phùng Thị T1 không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm. Trả lại anh Nguyễn Huy T và chị Phùng Thị T1 số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm
đã nộp 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí số AA/2017/0004487 ngày
11/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Bùi Văn P. Bà Phùng
Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0001235 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
của Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- TAND TP Vĩnh Yên;
- Chi cục THADS TP Vĩnh Yên;
- Các đương sự trong vụ án;
- Lưu: hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Huy Cẩn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm