Bản án số 1752027/2026/HS-PT ngày 06/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1752027/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1752027/2026/HS-PT ngày 06/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1752027/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Tuấn K tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh Phúc
Bản án số: 30/2026/HS-PT
Ngày 29-01-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phn Hi đng xét x phúc thm gm có:
Thm phán Ch ta phiên tòa: Ông Trn Thanh Tòng.
Các Thm phán: Bà Phm Th Hng Vân;
Bà Lê Th Bích Tuyn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phm Đức Anh Thư ký Tòa án nhân dân tnh
Tây Ninh.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyn Út Nh - Kim sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026 ti tr s Tòa án nhân dân tnh Tây Ninh
xét x phúc thm công khai v án hình s phúc thm th lý s:
175/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối vi b cáo Nguyn Tun
K; do có kháng cáo ca b cáo đối vi Bn án hình s sơ thm s: 63/2025/HS-
ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 ca Tòa án nhân dân Khu vc 11 Tây Ninh.
- B cáo có kháng cáo: Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1984 tại tỉnh Tây Ninh;
CCCD: 072084000829 cấp ngày 10-3-2024; nơi trú: Tổ H, ấp C, C, tỉnh
Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B,
sinh năm 1957 Mai Thị S, sinh năm 1957; vợ là chị Nguyễn Thị Hồng
T, sinh năm 1984 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt
tạm giam từ ngày 14-02-2025 tại Trại tạm giam số 1 Công án tỉnh Tây Ninh cho
đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Anh Tích L, Luật Văn phòng
L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.
(Trong v án còn có b hi Huỳnh n H: Không có kháng cáo, kháng
ngh; Tòa án không triu tp).
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liu có trong h sơ v án và din biến ti phiên tòa, ni
dung v án đưc tóm tt như sau:
2
Khoảng tháng 12-2021, sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất s44, tờ
bản đồ số 02, diện tích 27554m
2
, địa chỉ tại P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, ông
Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983, ngụ thôn C, B, huyện T, tỉnh Bình Định
(Chỗ ở: Chung S số G, đường N, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương)
muốn tăng giá trị thửa đất để bán lại kiếm lời, nhưng do thời điểm này Nhà nước
đang siết chặt việc phân lô, tách thửa đất trên cả nước, tại tỉnh Tây Ninh cũng có
văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh đang siết chặt việc phân lô, tách thửa
đất, công nhận đường trên giấy đất nên ông T1 không thể đến quan chức
năng để làm thtục xin mở đường, tách thửa đất được phải nhờ người môi
giới lén lút đi cửa sau gặp người chức vụ, quyền hạn để hối lộ tmới thể
xin mđường, tách thửa đất được. Do đó, ông T1 đã kêu Nguyễn Văn K1, sinh
năm 1986, ngụ ấp P, P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh tìm người “chạy lo” hồ
thủ tục để xin mở 02 con đường đất với chiều ngang 8m, chiều dài 207m dọc đi
qua thửa đất và tách thành 03 thửa đất.
Qua môi giới mua bán đất, Văn K1 hỏi Huỳnh Tấn T2, sinh năm 1980,
ngụ ấp T, T, huyện C, tỉnh Tây Ninh quen biết ai thể giúp chạy lo làm
hồ mở đường, tách thửa đất thì T2 trả lời quen “Sếp” trong quân đội, để
hỏi thăm rồi trả lời sau. Sau đó, T2 gặp hỏi Huỳnh Văn H, sinh năm 1973,
ngụ ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh thì H nói để đi hỏi sếp rồi trả lời. Sau đó,
ông T1 đến quán nước đầu Kênh T thuộc P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay
C, tỉnh Tây Ninh) gặp H, Văn K1 T2. Tại đây, Văn K1 giới thiệu với ông
T1 là H và T2 là hai “Sếp” giúp ông T1 chạy lo hồ sơ.
Sau đó, H gọi điện thoại nói cho Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1984, ngụ khu
phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh khi đó giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội
đồng nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh biết việc ông T1 nhờ chạy lo hồ sơ
xin mở đường, tách thửa. Hớn gửi qua Zalo hình ảnh bản sao giấy tờ đất thửa
đất số 44, tbản đồ số 02, diện tích 27.554m
2
, toạ lạc tại ấp P, xã P, Huyện D,
tỉnh Tây Ninh, do ông T1 đứng tên và bản vẽ dự thảo việc mở 02 con đường qua
Zalo của Tuấn K, rồi nhờ Tuấn K chạy lo hồ sơ. Khi nghe H nhờ chạy lo, Tuấn
K biết vào thời điểm này tại tỉnh Tây Ninh văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân
dân tỉnh đang siết chặt việc phân lô, tách thửa đất, công nhận đường trên giấy
đất nên không thể hối lộ người chức vụ, quyền hạn để xin mở đường, tách
thửa đất, nhưng do đang thiếu nợ nên Tuấn K nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền
của H để lấy tiền trả nợ. Do vậy, Tuấn K nói với H thể “chạy lo” hồ thủ
tục xin mở đường, tách thửa đất cho ông T1 thông báo số tiền chạy lo làm hồ
800.000.000 đồng, đưa trước 400.000.000 đồng, không tiền hoa hồng,
trong thời gian 04 tháng.
Sau đó, H thông báo lại cho T2 Văn K1 biết là người nhận chạy lo
làm hồ tách thửa đất, mở đường cho ông T1. Do muốn tiền huê hồng nên
H bàn bạc thống nhất với Văn K1T2 nâng số tiền “chạy lo” làm hồ sơ thủ tục
xin mở đường, tách thửa đất lên 1.400.000.000 đồng để thỏa thuận với ông T1
thì ông T1 đồng ý. Đến ngày 02-12-2021, tại quán nước đầu Kênh T, H ông
T1 lấy mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất sửa lại thành hợp đồng đặt cọc chạy
3
lo dịch vụ pháp làm đường, tách thửa, rồi H ông T1 hợp đồng đặt cọc,
ông Văn K1 tên người làm chứng, hợp đồng không công chứng. Nội dung
hợp đồng thể hiện: Làm đường, tách thửa đất nói trên với tổng số tiền
1.400.000.000 đồng; Thời hạn 04 tháng kể tngày ký hợp đồng; Đặt cọc 02 lần
vào các ngày 07 và 17 tháng 12-2021, số tiền 1.000.000.000 đồng; Đến ngày 07-
4-2022, sau khi H bàn giao cho ông T1 03 cuốn sổ được tách ra từ thửa đất số 44
nói trên và mỗi cuốn số đều được thể hiện đường riêng thì thanh toán số tiền còn
lại. Mục đích của việc hợp đồng để làm tin khi nào H chạy lo không làm
được thì trả lại tiền.
Sau khi hợp đồng đặt cọc, H gọi điện thoại nói với ông T1 “Sếp nói từ
đây đến cuối năm D chỉ còn hai suất để chạy hồ sơ làm đường, tách thửa”
nhiều lần nói làm được nên vào các ngày 08, 09, 17 và 21 tháng 12-2024, ông
T1 chuyển khoản cho Văn K1 05 lần với tổng số tiền 1.000.000.000 đồng, rồi
Văn K1 rút tiền mặt đưa lại cho H. Hớn đưa cho Tuấn K 400.000.000 đồng, chia
cho Văn K1 100.000.000 đồng và chia cho T2 205.000.000 đồng, còn lại
295.000.000 đồng Hớn cất giữ. Sau khi nhận tiền, Tuấn K không liên hệ, không
làm hồ không có động thái liên quan đến việc chạy lo làm hồ sơ thủ tục
mở đường, tách thửa đất cho ông T1. Tuấn K sử dụng hết số tiền 400.000.000
đồng vào mục đích nhân. Đến tháng 5-2023, ông T1 trực tiếp làm hthủ
tục tách thửa đất nói trên thành 10 thửa đất (không mở đường trên đất), rồi
sang nhượng lại cho nhiều người, sau đó ông T1 tố cáo vụ việc đến quan
Công an.
Kết luận giám định số 348/KL-KTHS ngày 30-3-2025 của Phòng K3
Công an tỉnh T kết luận:
+ Chữ viết, chữ mang tên “Nguyễn Văn K1trên tài liệu cần giám
định (Ký hiệu A01; A02) với chữ viết, chữ của Nguyễn Văn K1trên tài
liệu mẫu (Ký hiệu M01) là do cùng một người viết và ký ra.
+ Chữ viết, chữ mang tên “Huỳnh Văn H” trên tài liệu cần giám định
(Ký hiệu A01) với chữ viết, chữ của Huỳnh Văn H” trên tài liệu mẫu (Ký
hiệu M02) là do cùng một người viết và ký ra.
+ Chữ viết, chữ ký mang tên “Nguyễn Văn T1” trên tài liệu cần giám định
(Ký hiệu A01; A02) với chữ viết, chữ ký của “Nguyễn Văn T1” trên tài liệu mẫu
(Ký hiệu M04) là do cùng một người viết và ký ra.
Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện Tuấn K có sở hữu tài sản nhưng
đã thế chấp ngân hàng nên Cơ quan điều tra không kê biên.
Về trách nhiệm dân sự: Ông H yêu cầu b cáo K trả lại số tiền
400.000.000 đồng.
Ti Bn án hình s sơ thm s: 63/2025/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2025 ca Tòa án nhân dân Khu vc 11 - Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
4
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày 14-02-2025.
Biện pháp pháp: Căn cứ Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584,
585, 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn K bồi thường cho ông
Huỳnh Văn H số tiền 400.000.000 đồng.
Ngoài ra, bn án còn tuyên: Án phí, quyn kháng cáo theo quy định ca
pháp lut.
Ngày 13-10-2025, b cáo Nguyn Tun K kháng cáo xin gim nh hình
pht.
Ti phiên tòa phúc thm:
B cáo gi nguyên ni dung kháng cáo.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Tây Ninh đề ngh: Căn c đim a
khon 1 Điu 355; Điu 356 ca B lut T tng hình s: Gi nguyên Bn án
hình s sơ thm s: 63/2025/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 ca Tòa án
nhân dân Khu vc 11 Tây Ninh.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến, với nội dung: Bị cáo đã khắc
phục bồi thường được số tiền 30.000.000 đồng, đây là số tiền vợ bị cáo phải vay
mượn của nhiều người trong hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn; nên đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo vì nợ nần dẫn đến bế tắc
nên thực hiện hành vi phạm tội, tuy vậy việc tách thửa đã thành công nên có thể
xem là đã khắc phục xong hậu quả; bị cáo trụ cột chính trong gia đình; bị cáo
nhiều bệnh nền phải thăm khám thường xuyên. Từ những phân tích trên đề
nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
B cáo thng nht, không b sung.
Li nói sau cùng ca b cáo: B cáo rt ăn năn, hi hn v hành vi phm
ti ca mình; b cáo đã gây ra thit hi cho b hi cũng như khó khăn cho gia
đình; b cáo xin gim nh hình pht.
NHN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Trên cơ s ni dung v án, căn c vào các tài liu có trong h sơ v án
đã đưc tranh tng ti phiên tòa, Hi đồng xét x nhn định như sau:
[1] V t tng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo đúng hình thức và trong thời hạn
theo quy định ti các Điu 331, 332, 333 ca B lut T tng hình s; đủ điều
kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
5
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra,
truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của
cấp thẩm. Do đó, hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, quan
tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm là hợp pháp, đúng pháp luật.
[2] Xét hành vi ca b cáo, thy rng: Vào thời điểm năm 2021 bị cáo K
biết Ủy ban nhân dân tỉnh T văn bản chỉ đạo siết chặt việc phân lô, tách
thửa đất, công nhận đường trên giấy đất. Do đang thiếu nợ, bị cáo nảy sinh ý
định chiếm đoạt tiền của ông H; nên mặc dù biết rõ bản thân không thể thực hiện
được công việc nhưng bị cáo nói dối nói với ông H thể “chạy lo” hồ thủ
tục xin mở đường, tách thửa đất số 44, tờ bản đồ số 02, diện tích 2.7554 m
2
; tọa
lạc tại ấp P, P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; với số tiền 800.000.000 đồng
trong thời gian 04 tháng. Sau khi nhận số tiền 400.000.000 đồng của ông H, bị
cáo sdụng hết số tiền vào mục đích nhân không liên hệ, không làm h
và không động thái liên quan đến việc chạy lo làm hthủ tục mở
đường, tách thửa đất; khi quá thời hạn cam kết 04 tháng bị cáo đưa ra các do
“Chưa làm được”, “đang làm”, “Nhà nước đang siết chặt việc phân lô, tách
thửa”…, đồng thời bị cáo thuê Công ty đo đạc lập bản trích đo mục đích kéo dài
thời gian nhằm làm cho bị hại tin tưởng tiếp tục chờ đợi. Trong khi Ủy ban nhân
dân xã C, tỉnh Tây Ninh ban hành Công văn số 210/UBND-KT ngày 17-9-2025,
nội dung: “Thửa đất số 44, tờ bản đsố 2, tại P, huyện D, tỉnh Tây Ninh
(nay C, tỉnh Tây Ninh) không nằm trong các trường hợp vận động người
dân mở rộng hoặc mở mới đường giao thông nông thôn, phục vụ mục đích công
cộng không chủ trương cho phép mở mới đường giao thông tại vị trí thửa
đất nêu trên” (bút lục 523). Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi
phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra,
truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong h
sơ vụ án; Toà án cp sơ thm xét x b cáo K phm ti “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn
c, đúng pháp lut.
[3] Xét kháng cáo ca b cáo, thy rng:
[3.1] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp thẩm đã xem xét bị cáo K
các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải; trong quá trình ng tác tại Ủy ban nhân dân A, huyện C, tỉnh Tây Ninh,
bị cáo được Bộ Q tặng kỷ niệm chương do nhiều cống hiến xây dựng lực
lượng trang quần chúng; nhiều thành tích xuất sắc được tặng thưởng các
giấy khen của các cấp, các ngành; mẹ của bị cáo công tác tại địa phương đóng
góp nhiều công sức được tặng thưởng nhiều kỷ niệm chương snghiệp văn
phòng cấp uỷ, vì sự nghiệp công tác tổ chức đảng, một đảng viên gương mẫu,
năm 2023 được tặng huy hiệu 40 năm tuổi đảng; cha bị cáo tham gia kháng
chiến có bà nội Võ Thị K2 được phong tặng Mẹ Việt Nam Anh Hùng; bị hại xin
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên được áp dụng các điểm s, v khon 1, khon
2 Điu 51 ca B lut Hình s; là có căn c.
6
[3.2] Gia đình b cáo lâm vào hoàn cnh khó khăn, nhưng ti cp phúc
thm b cáo đã tác động gia đình t nguyn np s tin 30.000.000 đồng nhm
khc phc mt phn thit hi; là tình tiết gim nh trách nhim hình s mi b
cáo đưc hưởng theo quy định ti đim b khon 1 Điu 51 ca B lut Hình
s.
[3.3] Xét thy nhân thân b cáo không có tin án, tin s; không có tình
tiết tăng nng trách nhim hình s; có 03 tình tiết gim nh trách nhim hình
s quy định ti khon 1 Điu 51 ca B lut Hình s và nhiu tình tiết gim
nh khác quy định ti khon 2 Điu 51 ca B lut Hình s; nên xét thy cn
gim nh mt phn mc hì nh pht mà cp sơ thm đã tuyên cho b cáo; tuy
nhiên, thy rng s tin b cáo đã bi thường nh, chưa đến 1/10 s tin chiếm
đot 400.000.000 đồng nên khi xem xét áp dng tình tiết gim nh mi ti tiu
mc [3.2] Hi đồng xét x xem xét đến mc độ bi thường để cân nhc hình
pht nhm đảm bo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị
cáo, cũng như giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3.4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo
của bị cáo; không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà; sửa bản án
hình sự sơ thẩm.
[4] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; phải chịu
án phí dân sự thẩm 18.500.000 đồng tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành
theo quy định tại Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
phúc thẩm.
Vì các l trên,
QUYT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn K.
- Sửa Bản án hình sự thẩm số: 63/2025/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Tây Ninh.
1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ
sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 04 (bốn) năm 06
(sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày 14-02-2025.
2. Biện pháp pháp: Căn cứ các Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự; các Điều
584, 585, 589 Bộ luật Dân sự:
7
Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn K trách nhiệm bồi thường cho bị hại Huỳnh
Văn H số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng. Ghi nhận bị cáo Nguyễn Tuấn
K đã bồi thường cho bị hại được số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng tại
Biên lai thu số 0000216 ngày 22 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án Dân sự
tỉnh Tây Ninh; bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho ông Huỳnh Văn H số tiền
370.000.000 (ba trăm bảy mươi triệu) đồng.
3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Án phí:
4.1. Bị cáo Nguyễn Tuấn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)
án phí hình sự thẩm và 18.500.000 (mười tám triệu năm trăm ngàn) đồng án
phí dân sự sơ thẩm.
4.2. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7
và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
6. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
phúc thẩm.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
- VKSND T.TN;
- TAND Khu vực 11 – Tây Ninh;
- VKSND Khu vực 11 – Tây Ninh;
- P. THADS Khu vực 11 – Tây Ninh;
- Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Văn phòng Cơ quan điều tra CA Tỉnh
TN;
- Phòng TTKTNV và THA TATTN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án HSPT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thanh Tòng
Tải về
Bản án số 1752027/2026/HS-PT Bản án số 1752027/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 1752027/2026/HS-PT Bản án số 1752027/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất