Bản án số 87/2026/DS-PT ngày 11/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 87/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 87/2026/DS-PT ngày 11/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 87/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 87/2026/DS-PT
Ngày 11- 5 - 2026
“Tranh chấp về quyền sử dụng đất và
thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thuấn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Pho
Bà Lê Thị Mỹ Giang.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Tuyết Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Chu Thị Sáu –
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2026/TLPT-DS ngày 20/01/2026
về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và thừa kế tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2026/QĐXXPT-DS ngày
20/3/2026, Quyết định hoãn số 93/2026/-PT ngày 16/4/2026 giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn ThP, sinh năm 1956; địa chỉ: 4 L, phường
V, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà P có chị Phạm Thị Bích H, sinh năm
1983; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Quảng Ngãi theo văn bản ủy quyền
đề ngày 21/6/2022. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho P: Luật sư Huỳnh Ngọc
Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật tỉnh Q; địa chỉ: H H, phường N, tỉnh Quảng
Ngãi. Có mặt.
- Bị đơn:
+ Ông Trịnh B, sinh năm 1937; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh
Quảng Ngãi (chết ngày 06/4/2025).
Người kế thừa quyền, nghĩa v tố tụng của ông Trịnh Ba G có:
1/ Ông Trịnh B1, sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm A, tổ dân phố H, phường
T, tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt.
2/ Ông Trịnh T, sinh năm 1971; địa chỉ: Snhà F Ấp F, tổ A, đường R,
V, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
3/ Trịnh Thị X, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm A, Tổ dân phố H, phường
T, tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt.
4/ Ông Trịnh L, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm B, tổ dân phố A, phường T,
tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt.
+ Ông Trịnh B1, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh
Quảng Ngãi. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông B1anh Nguyễn Thanh K, sinh
năm 1989; địa chỉ: Hẻm C B, phường C, tỉnh Quảng Ngãi theo Hợp đồng ủy quyền
đề ngày 22/6/2022, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho ông Trịnh B1 Luật Trần
Thị H1 thuộc Văn phòng L3 và Cộng sự; địa chỉ: Số A P, phường N, tỉnh Quảng
Ngãi, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phạm T1, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh
Quảng Ngãi. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm T1: Bà Hồng Thị
T2 là Trợ giúp viên pháp của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q (nay
là Trung tâm T4) tham gia tố tụng thay thế ông Đoàn Nhật N theo Quyết định số
415/QĐ – TGPL, ngày 04/9/2024 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh
Q. Có mặt.
+ Ủy ban nhân dân P (người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng
UBND phường T); địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Quảng Ngãi; đại diện
theo pháp luật: Ông Võ Minh C - Chủ tịch. Vắng mặt
+ Nguyễn Thị Lệ Q, sinh năm 1982 ông Nguyễn Thanh H2, sinh
năm 1989; cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Quảng Ngãi. đơn đ
nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2022, Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện
ngày 19/5/2022, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 25/9/2024, các lời khai tại
Tòa và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị P; người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn là chị Phạm Thị Bích H; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn Luật sư Huỳnh Ngọc Ấ trình bày:
C Lê Thị B2, sinh năm 1930, chết năm 1999, c còn sng c Lê Thị B2
và c V là cha m ca bà Nguyễn Thị P đã to lp thửa đất 875, t bản đồ s 05,
xã P, din tích 468m
2
và s dng làm nhà t năm 1960, Cụ V hi sinh nên c
Thị B2 sinh sống tại nhà đất trên. Đến năm 1993 nhà ca c B2 hng không
s dụng được bà P v xây dng li. Ngày 20/12/1994 cụ B2 có lp bn di chúc
chuyn quyn s hu nhà, đất vườn li cho con gái cháu c B2 ông Phạm
T1 được chính quyền địa phương xác nhn. Sau khi c B2 qua đời (t năm 1999
đến nay) th ông Phạm T1 là cháu c B2 qun lý, s dng thửa đt 875. Trong quá
trnh s dụng đất c B2, bà Nguyễn Thị P và ông Phạm T1 chưa đăng ký kê khai
theo quy định. Trên sở Bản di chúc ca c B2 để lại, ngày 17/4/2022 ông Phạm
T1, bà P có đến UBND xã P làm th tc xin cp giy chng nhn quyn s dng
đất theo quy định ca pháp lut. UBND P tiến hành niêm yết công khai danh
sách đề ngh cp giy chng nhn quyn s dụng đất cho các h dân trên địa bàn
xã. Trong đó, có thửa đất 875, t bản đồ s 05, xã P do bà P, ông T1 kê khai. Sau
đó, bà P và ông T1 nhận được thông báo ca UBND P về việc đơn khiếu
nại đối vi vic cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất ca thửa đất trên.
C T3 là cha của ông Trịnh B, Cụ Trịnh Thiện Đ tp kết ra B, sau năm
1975 cụ T3 mi v quê, vào khong thi gian t 1989 đến năm 1991 thấy c B2
sng mt mnh nên cụ T3 có qua li vi c B2, nhưng đây không phi là v chng,
không phi hôn nhân thc tế và không có đăng kết hôn, không có con chung.
Năm 1991 cụ T3 không qua li hay sng chung vi c B2, ông Trịnh B và ông
Trịnh B1 không có quan h g vi c B2 cũng như gia đnh c B2. Thửa đất 875,
t bản đồ s 05, din tích 468m
2
không phi là tài sn chung ca c B2 và c T3
mà có nguồn gốc là của vợ chồng cụ B2 và c V. Ông Trịnh B1 và ông Trịnh B
cho rng thửa đất 875 do ông B1 và ông B qun lý t năm 1991 đến nay là không
đúng. V vy, bà P yêu cu Tòa án tuyên b di chúc ca c Thị B2 lp ngày
20/12/1994 là hp pháp và buộc ông B, ông B1 phi chm dt hành vi cn tr
quyn thc hin m tha kế theo di chúc.
- Ngày 25/9/2024, Nguyễn Thị Phấn khởi K1 bổ sung yêu cầu Tòa án
nhân dân thị xã Đc Phổ giải quyết: Xác định thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, P,
diện tích 468 m
2
(Bản đồ 2006) di sản của cụ Thị B2 để lại; Chia thừa
kế theo pháp luật đối với thửa đất 875 và tài sản gắn liền với đất là di sản
của mẹ bà để lại cho được hưởng theo pháp luật. P đồng ý giao toàn
bộ di sản thừa kế mà được hưởng cho ông Phạm T1 được trọn quyền sở
hữu, quản lý và sử dụng; Buộc ông Trịnh B và ông Trịnh B1 phải chấm dt hành
vi cản trở việc mở thừa kế theo di chúc của cụ Lê Thị B2 để lại.
- Ngày 25/3/2025 bà Nguyễn Thị P rút một phần yêu cầu khởi kiện
đối với các yêu cầu: Tuyên bố di chúc để lại di sản là quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất do Thị B2 lập ngày 20/12/1994 là hợp pháp;
Buộc ông Trịnh B ông Trịnh B1 chấm dt hành vi cản trở việc mở thừa kế
theo di chúc để lại di sản quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
do bà Lê Thị B2 lập ngày 20/12/1994.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 20/8/2022, Đơn khởi kiện phản tố ngày
22/8/2022, Đơn phản tố sửa đổi, bổ sung ngày 25/3/2023; các lời khai tại Tòa và
tại phiên tòa bị đơn; người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trịnh B1 anh
Nguyễn Thanh K; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trịnh
B1 là Luật sư Trần Thị H1 trình bày:
Sau năm 1975 cụ Trịnh Thiện Đ tp kết ngoài Bc tr về, chưa có nhà
riêng nên đã chiếm đất, khai hoang đưc mt khoảnh đất tại xóm A, xã P, huyện
Đ (nay là thửa đt 875, t bản đồ s 05, din tích 468m
2
phường T). Năm 1976 c
T3 nh mt s bà con hàng xóm dng 01 ngôi nhà vách bng gch có lun cây
bên trong, mái lợp tranh để làm nơi sinh hoạt, cư trú. Do v c T3 chết trước năm
1975 nên khoảng năm 1977 cụ D (tên tht là Thị B2) sng gn thy c T3
sng mt mnh nên đã dn qua sng chung làm bn lúc tui già. Sau khi c T3
qua đời th ông Trịnh B và ông Trịnh B1 đến dng 01 ngôi nhà và ông Trịnh B, T
qun lý s dng toàn b thửa đất do c T3 để li. Khi ông Trịnh B, T qun lý s
dụng đất cụ B2 không có ý kiến g, đồng thi c B2 không có con cái chăm c
nên ông B, ông B1 để bà B2 tiếp tc sinh sng trên thửa đất này. Trong quá trnh
chung sng c B2 không tu sa, xây dng thêm ngôi nhà ca c T3. Năm 1994
c B2 chết, ông Trịnh B là người đng ra lo tang lễ, hương khói cho 02 c B2, T3
và qun lý, s dng thửa đất 875, t bản đồ s 05, din tích 468m
2
t đó cho đến
nay.
Năm 1998 đến 1999 ngôi nhà ca cha con ông Trịnh B, Trịnh B1 xây
dng đ b sp do bo nên ông B1 đ dn dp mt bng, hin cn 01 cái
giếng nước sinh hoạt. Năm 2018 2019 con gái ca c B2 là bà P c v
hi ông Trịnh B sa cha li ngôi nhà ca c T3 để li làm nơi thờ cúng c
T3 và c B2 v vy ông B và ông B1 đ đồng .
Từ đ, bị đơn xác định r thửa đất 875, t bản đồ s 05, xã P, diện
tích 468m
2
c ngun gc là ca c ông Trịnh T3, sau khi cụ T3 chết ông
Trịnh B và Trịnh B1 là người trc tiếp qun l s dng liên tc toàn b tha
đất nêu trên t năm 1991 đến nay nên đủ điu kiện được nhà c cp
giy chng nhn quyn s dụng đất và xác định đây không phi là di sn
ca c B2 để li cho ông T1 và bà P. Ông B và ông B1 đồng hoàn tr li
chi phí sa cha nhà cho bà P nếu bà P yêu cầu; đồng thời, bị đơn phản
tố yêu cầu Tòa án xác định thửa đất 875, t bản đồ s 05, P, diện tích
468m
2
thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Trịnh B1 những người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh Ba .
Tại Đơn khởi kiện, Đơn trình bày ý kiến yêu cầu cùng ngày 12/7/2022,
văn bản trình bày ý kiến ngày 26/4/2023; các lời khai tại Tòa tại phiên tòa
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm T1; người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của ông T1Hồng Thị T2 trình bày:
Thống nhất với trnh bày của nguyên đơn và thống nhất ý kiến nguyên
đơn bà P t nguyện giao lại toàn bộ tài sản thừa kế mà nguyên đơn được
hưởng theo quy định cho ông Phạm Thảo .1
Ngày 04/9/2025 ông Phạm T1 đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập
thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P.
- Tại Bản tự khai ngày 13/10/2022 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là ông Nguyễn Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Lệ Q trình bày:
Thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P hiện nay bà Nguyễn Thị P, ông Phạm
T1 đang tranh chấp với ông Trịnh B, T. Trên thửa đất này một số tài sản của
ông, bà như: hai mái hiên và một số vật dụng khác. Khi nào Tòa án giải quyết đất
thuộc về ai họ yêu cầu tháo d thì ông H2, bà Q tháo d toàn bộ tài sản trả lại đất
và không có ý kiến g khác.
- Tại Công văn số 35/UBND ngày 20/01/2025 của UBND P c ý
kiến khác trong quá trình giải quyết v án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
UBND xã P (nay là phường T) trình bày:
Theo hsơ địa chính lưu trữ tại UBND xã P thì thửa đất 875, tờ bản đồ s
05, P, din tích 468m
2
, mục đích sử dụng ONT, tên người sử dụng quản
UBND P, ttrước đến nay không hồ khai đăng ký cấp giấy chng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.
Qua xác minh UBND P xác định: Thửa đất 875, tờ bản đồ s 05,
din tích 468m
2
c nguồn gốc của cụ Thị B2 làm nhà từ trước năm
1975 (Cụ B2 Mẹ Việt Nam A), cụ B2 sử dụng nhà đất đến năm 1989 cụ
Trịnh T3 (là cha ông Trịnh Ba, ông nội ca ông Trịnh B1) đến sống
chung cùng cụ B2 trên thửa đất này được một thời gian, năm 1991 cụ T3
chết; cụ B2 tiếp tục ở trên thửa đất này đến năm 1994 thì làm di chúc để lại
cho cháu là ông Phạm T1, c xác nhận của chính quyền địa phương; năm
1998 cụ B2 chết, ông T1 người tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất trên; con
gái của cụ B2 Nguyễn Thị P Thành phố Hồ Chí Minh nên khi thc
hiện hồ sơ địa chính năm 2006 th thửa đất chưa xác định được đối tượng
sử dụng đất; trên thửa đất còn tồn tại một ngôi nhà cấp 4C của cụ B2. Không
xác định được mi quan hệ gia cụ Lê Thị B2 và cụ Trịnh Thiện .2
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh B các
ông, bà Trịnh T, Trịnh Thị X, Trịnh L: Không có ý kiến g.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P:
1. Xác định thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, P (nay phường T), tỉnh
Quảng Ngãi, diện tích 467,8m
2
(theo đo đạc thực tế); trên đất một ngôi nhà,
diện tích xây dựng 28,5m
2
(ký hiệu g), một cái giếng đóng (không còn giá trị sử
dụng, chỉ còn lại ống sắt) là di sản của cụ Lê Thị B2 để lại.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trịnh B1 những người kế
thừa quyền, nghĩa vtố tụng của ông Trịnh B về việc yêu cầu Tòa án xác định
cho những người kế thừa quyền, nghĩa vtố tụng của ông Trịnh B được quyền sử
dụng ½ thửa đất s875, diện tích 234m
2
; ông Trịnh B1 được quyền sdụng ½
thửa đất số 875, diện tích 234m
2
, tờ bản đồ số 05, xã phổ A, (nay phường Trà
Câu), tỉnh Quảng Ngãi
3. Giao cho Nguyễn Thị P được quyền sở hữu, quản lý, sdụng thửa
đất 875, tờ bản đồ số 05, P, (nay phường T), tỉnh Quảng Ngãi, diện tích
467,8m
2
(theo đo đạc thực tế) tài sản trên đất một ngôi nhà, diện tích xây
dựng 28,5m
2
(ký hiệu g), một cái giếng đóng (không còn giá trị sử dụng, chỉ còn
lại ống sắt).
(Phần đất được xác định được giao đồ bản vẽ kèm theo
là một bộ phận không tách rời của bản án).
+ Ghi nhận việc Nguyễn Thị P tự nguyện giao toàn bộ di sản mnh được
hưởng thừa kế theo pháp luật là quyền sử dụng thửa đất 875, tờ bản đồ số 05,
P, (nay phường T), tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 467,8m
2
(theo đo đạc thực tế) và
một ngôi nhà, diện tích xây dựng 28,5m
2
(ký hiệu g), một cái giếng đóng (không
còn giá trị sử dụng, chỉ còn lại ống sắt) cho ông Phạm T1 được trọn quyền shữu,
quản lý, dử dụng.
+ Buộc Nguyễn Thị LQ ông Nguyễn Thanh H2 trách nhiệm
tháo d mái hiên, diện tích 18,2m
2
(ký hiệu H); giàng dây leo diện tích 14,5m
2
(ký hiệu K); giàng dây leo diện tích 8,6m
2
(ký hiệu C); ô vân (ký hiệu V) giao lại
mặt bng cho bà Nguyễn Thị P khi bà P (ông T1) yêu cầu.
Sau khi bản án chiệu lc pháp luật, các đương s được quyền
đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất theo phần quyết định của bn án này tại
quan đăng ký đất đai thẩm quyền để được cấp giấy chng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy
định của pháp lut đất đai.
4. Đnh chỉ xét xđối với toàn bộ phần yêu cầu độc lập của người
c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm T1 yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn Nguyễn Thị P về việc: Tuyên bố di chúc để lại di sản
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất cho Thị B2 lập ngày
20/12/1994 là hợp pháp; buộc ông Trịnh B ông Trịnh B1 chấm dt hành
vi cản trở việc mở thừa kế theo di chúc để lại di sản quyền sdụng đất
và tài sản gắn liền với đất do bà Lê Thị B2 lập ngày 20/12/1994.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí ttụng khác
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/9/2025, ông Trịnh B1 kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm:
Hủy bản án dân sự thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 6 - Quảng Ngãi để giải quyết lại theo quy định pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng quy định tại
Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hnh thc: Đơn kháng cáo của ông Trịnh Bnh L1 trong hạn luật định
là hợp lệ theo quy định tại Điều 272, 273 ca Bộ luật Tố tụng dân sự, được chấp
nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Trịnh
B1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi tuyên án đối với vụ án nêu
trên vào ngày 12/9/2025. Ngày 26/9/2025, ông Trịnh B1 kháng cáo còn trong
thời hạn luật định, nội dung và hnh thc phù hợp với quy định tại các Điều 272,
273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án xem xét theo trnh tự phúc thẩm.
[1.2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng của ông Trịnh B ông Trịnh T, bà Trịnh Thị X, ông Trịnh L nhưng những
người này không có ý kiến về nội dung vụ án, vắng mặt tại phiên tòa lần th hai
không có lý do; người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của ông Trịnh B1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn c Điều 296
Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Xét nguồn gốc diện tích đất tranh chấp, quá trnh quản lý, sử dụng đất:
[2.1] Thửa đất tranh chấp được xác đinh thửa đất số 875, tbản đồ
số 05 lập năm 2006: đng tên người quản lý, sử dụng: UBND xã, loại đối tượng:
UBS, diện tích: 468m
2
, mục đích sử dụng: ONT, thửa đất này từ trước đến trước
năm 2022 chưa ai đăng ký kê khai.
[2.2] Năm 2022 nguyên đơn kê khai đăng ký đề nghị cấp giấy chng
nhận quyền sử dụng đất; trong hồ cấp giấy tại phiếu lấy ý kiến của khu dân
cư về nguồn gốc thời điểm sử dụng đất xác định: “Nguyên thửa đất này
đất do Thị B2 tạo lập trước năm 1975, năm 1975 bà B2 xây dựng
nhà ở, đến năm 1993 B2 sửa chữa lại nhà ở, sử dụng nhà đất đến
ngày 20/12/1994 Thị B2 viết di chúc chuyển quyền sở hữu nhà
quyền sử dụng đất vườn cho ông Phạm T1 Nguyễn Thị P được UBND
P xác nhận vào ngày 07/01/1995, đến năm 1998 bà B2 chết; ông T1
Nguyễn Thị P tiếp tục sử dụng nhà và đất đến nay”. Đồng thời, tại văn bản
số 275/UBND ngày 13/02/2023 của UBND thị x Đ Công văn s
35/UBND ngày 20/01/2025 của UBND P đều khẳng định: Nguyên thửa
đất 875, tờ bản đồ s05, diện tích 468m
2
(bản đồ năm 2006) x P, thị x Đ,
tỉnh Quảng Ngiđất do bà Thị B2 xây dựng nhà ở từ trước năm 1975,
Thị B2 sử dụng nhà đất đến khoảng năm 1989 ông Trịnh T3
cha của ông Trịnh B có sống cùng với Thị B2 đến năm 1991 ông Trịnh
Thiện C1. Không xác định được mối quan hệ giữa Thị B2 và ông Trịnh
T3
[2.3] Nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận nội dung: Cụ Trịnh T3 cụ
Thị B2 cùng sinh sống trên thửa đất này từ năm 1989 đến trước năm 1991. Giữa
hai cụ không có quan hệ hôn nhân, không có con chung.
[2.4] Các giấy xác nhận về nguồn gốc đất của nhng người làm chng
các ông, bà Nguyễn Đnh S, Nguyễn Thị G1, Nguyễn N1, Phạm B3, Nguyễn
Thanh B4 Trần Văn M: Khi Tòa án làm việc th những người này trình bày
những nội dung trnh bày trong đơn không đúng ý chí của họ, người xác
định nguồn gốc thửa đất nhưng không nhớ năm không thống nhất
nhau.
[2.5] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/8/2023 xác định
hiện trạng thửa đất 875 có diện tích theo đo đạc thực tế là 474,5m
2
.
Tài sản trên đất gồm có: Một nhà tạm, diện tích xây dựng 28,5m
2
(ký
hiệu g); mái hiên, diện tích 18,2m
2
(ký hiệu h); giàng dây leo diện tích 14,5m
2
(ký
hiệu k); giàng dây leo diện ch 8,6m
2
(ký hiệu c); ô vân (ký hiệu v); một cái giếng
đóng (không còn gtrị sử dụng, chỉ còn lại ống sắt), một ngôi mộ diện tích 6,7m
2
(ký hiệu M). Ngoài ra, còn có mt số cây cối.
Diện tích thửa đất 875 qua đo đạc thựa tế có diện tích 474,5m
2
trên đất
một ngôi mộ danh diện tích 6,7m
2
(ký hiệu M). Các bên đương sự thống
nhất trừ diện tích ngôi mộ ra th thửa đất 875 sau khi trừ diện tích ngôi mộ sẽ
diện tích là 467,8m
2
.
Do đó, Bản án sơ thẩm xác định cụ Thị B2 người tạo lập, quản lý,
sử dụng thửa đất số 875 từ trước năm 1975 đến nay là có căn c, đúng pháp luật.
Căn c vào điểm a mục 1.3 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày
10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “1.3.
Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất đất đó không một trong
các giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có
di sản nhà ở; vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng
nước, ...) gắn liền với quyền sử dụng đất đó yêu cầu chia thừa kế, thì cần phân
biệt các trường hợp sau: a) Trong trường hợp đương svăn bản của UBND
cấp thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó hợp pháp, nhưng chưa kịp
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tTòa án giải quyết theo yêu cầu chia
di sản tài sản gắn liền với đất quyền sử dụng đất đó”. Đối chiếu với quy
định trên th thửa đất 875 được chính quyền địa phương xác nhận nguồn gốc đất
của cụ Thị B2 quản lý, sử dụng; chưa cấp giấy chng nhận quyền sử dụng
đất cho bất kỳ ai, trên đất còn có một ngôi nhà, diện tích xây dựng 28,5m
2
của cụ
B2; phù hợp với quy hoạch đất ở, đủ điều kiện cấp giấy chng nhận quyền sử
dụng đất. Do đó, có đủ cơ sở xác định thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P (nay là
phường T), tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 467,8m
2
(theo đo đạc thực tế), trên đất có
một ngôi nhà, mt cái giếng đóng (không còn giá trị sử dụng, chỉ còn lại ống sắt)
là di sản của cụ Lê Thị B2 để lại.
[3] Về nội dung kháng cáo của ông Trịnh B1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn bà Nguyễn
Thị Phấn khởi K1 yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố di chúc để lại di sản
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất do cụ Lê Thị B2 lập ngày 20/12/1994
hợp pháp; Buộc ông Trịnh B và ông Trịnh B1 phải chấm dt hành vi cản trở
việc mở thừa kế theo di chúc của cụ Lê Thị B2 để lại là quyền sử dụng đất đối với
thửa đất 875, tờ bản đồ số 05 xã P (nay là phường T), tỉnh Quảng Ngãi
Ngày 25/3/2025 bà Nguyễn Thị P rút các yêu cầu khởi kiện: Tuyên bố di
chúc để lại di sản quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho cụ Thị
B2 lập ngày 20/12/1994 hợp pháp; Buộc ông Trịnh B ông Trịnh B1 chấm
dt hành vi cản trở việc mở thừa kế theo di chúc để lại di sản quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất do cụ Thị B2 lập ngày 20/12/1994; đồng thời,
bổ sung yêu cầu khởi kiện: Xác định thửa đất 875, tờ bản đồ số 05 xã P, diện tích
468m
2
(Bản đ2006) là di sản của m - cụ Thị B2 đlại; Chia thừa kế theo
pháp luật đối với thửa đất 875, tờ bản đồ số 05 P, diện tích 468m
2
là di sản của
m bà - cụ Lê Thị B2 để lại cho bà được hưởng theo pháp luật. Việc nguyên đơn
sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện như trên là không vượt quá yêu cầu khởi kiện
theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3.2] Về việc không đưa người có đất liền kề và chủ ngôi mộ tham gia tố
tụng: Chủ đất liền kề với thửa 875 vợ chồng anh H2, chị Qông Nguyễn X1,
những người này có mặt tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án và không
có ý kiến về ranh giới thửa đất, không có tranh chấp về diện tích đất. Về ngôi mộ
danh, các bên đương sự thống nhất trừ diện tích ngôi mộ ra th thửa đất 875
sau khi trừ diện tích ngôi mộ sẽ có diện tích 467,8m
2
. Do đó, việc Tòa án cấp
thẩm không đưa các chủ thể này vào tham gia ttụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hoàn toàn có căn c, đúng pháp luật.
[3.3] Về diện ch thửa đất tăng thêm ý kiến của anh H2, chị Q: Ranh
giới đất trên thực địa không thay đổi, không tranh chấp với các hộ liền kề. Vợ
chồng anh H2 chị Q đã văn bản trnh bày ý kiến trong hồ vụ án xác định
trên thửa đất 875 một số tài sản của anh chị như: hai mái hiên một số vật
dụng khác. Khi nào Tòa án giải quyết đất thuộc về ai họ yêu cầu tháo d thì anh
H2 chị Q tháo d toàn bộ tài sản trả lại đất và không có ý kiến g khác. Do đó, nội
dung kháng cáo này của ông B1 là không có căn c.
[3.4] Tòa án cấp thẩm đã xác minh lời khai của những người làm chng
ông B1 cung cấp (tại bút lục 174 đến 180). Tòa án cấp sơ thẩm đã triệu tập
hợp lệ các ông Trịnh T, Trịnh Thị X, Trịnh L nhưng những người này không
ý kiến trnh bày gửi đến Tòa án, không đến dự phiên tòa. Tòa án cấp sơ thẩm
tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[3.5] Về các biên lai nộp thuế hợp đồng điện ông Trịnh B1 giao
nộp: Các tài liệu này đều bản phô coppy và không thể hiện việc đóng thuế
cho thửa đất nào nên không có căn c để chấp nhận.
[3.6] Về việc đánh giá tài sản trên đất: Bị đơn cho rng căn nhà và giếng
nước do cụ Trịnh T3 xây dựng nhưng không đưa ra được chng c chng minh.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Trịnh B1.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng:
[5.1] Án phí thẩm các chi phí tố tụng, toà án cấp thẩm đã giải
quyết đúng quy định pháp luật.
[5.2] Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự thẩm nên ông
Trịnh B1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148
Bộ luật Tố tụng dân s năm 2015 khoản 1 Điều 29 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định vmc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa
án, được trừ vào số tiền tạm ng án phí đã nộp tại Biên lai số 0002633 ngày
25/11/2025 của Thi hành dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn b kháng cáo của ông Trịnh B1.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi;
3. Ván phí dân sự phúc thẩm: Ông Trịnh B1 phải chịu án phí dân sphúc
thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ng án phí dân sự
phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số Biên lai số 0002633
ngày 25/11/2025 của Thi hành dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Ông Trịnh B1 đã nộp đủ.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân khu vực 6- Quảng Ngãi
- Phòng THADS Kv 6- QN; THADS tỉnh QN;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Vũ Văn Thuấn
Tải về
Bản án số 87/2026/DS-PT Bản án số 87/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 87/2026/DS-PT Bản án số 87/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất