Bản án số 87/2026/DS-PT ngày 11/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 87/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 87/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 87/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 87/2026/DS-PT ngày 11/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ngãi |
| Số hiệu: | 87/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 87/2026/DS-PT
Ngày 11- 5 - 2026
“Tranh chấp về quyền sử dụng đất và
thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thuấn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Pho
Bà Lê Thị Mỹ Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Chu Thị Sáu –
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2026/TLPT-DS ngày 20/01/2026
về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và thừa kế tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2026/QĐXXPT-DS ngày
20/3/2026, Quyết định hoãn số 93/2026/QĐ-PT ngày 16/4/2026 giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1956; địa chỉ: 4 L, phường
V, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà P có chị Phạm Thị Bích H, sinh năm
1983; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Quảng Ngãi theo văn bản ủy quyền
đề ngày 21/6/2022. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà P: Luật sư Huỳnh Ngọc
Ấ – Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q; địa chỉ: H H, phường N, tỉnh Quảng
Ngãi. Có mặt.
- Bị đơn:
+ Ông Trịnh B, sinh năm 1937; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh
Quảng Ngãi (chết ngày 06/4/2025).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh Ba G có:

1/ Ông Trịnh B1, sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm A, tổ dân phố H, phường
T, tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt.
2/ Ông Trịnh T, sinh năm 1971; địa chỉ: Số nhà F Ấp F, tổ A, đường R, xã
V, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
3/ Bà Trịnh Thị X, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm A, Tổ dân phố H, phường
T, tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt.
4/ Ông Trịnh L, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm B, tổ dân phố A, phường T,
tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt.
+ Ông Trịnh B1, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh
Quảng Ngãi. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông B1 có anh Nguyễn Thanh K, sinh
năm 1989; địa chỉ: Hẻm C B, phường C, tỉnh Quảng Ngãi theo Hợp đồng ủy quyền
đề ngày 22/6/2022, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trịnh B1 có Luật sư Trần
Thị H1 thuộc Văn phòng L3 và Cộng sự; địa chỉ: Số A P, phường N, tỉnh Quảng
Ngãi, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phạm T1, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh
Quảng Ngãi. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm T1: Bà Hồng Thị
T2 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q (nay
là Trung tâm T4) tham gia tố tụng thay thế ông Đoàn Nhật N theo Quyết định số
415/QĐ – TGPL, ngày 04/9/2024 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh
Q. Có mặt.
+ Ủy ban nhân dân xã P (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là
UBND phường T); địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Quảng Ngãi; đại diện
theo pháp luật: Ông Võ Minh C - Chủ tịch. Vắng mặt
+ Bà Nguyễn Thị Lệ Q, sinh năm 1982 và ông Nguyễn Thanh H2, sinh
năm 1989; cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2022, Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện
ngày 19/5/2022, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 25/9/2024, các lời khai tại
Tòa và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị P; người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn là chị Phạm Thị Bích H; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn Luật sư Huỳnh Ngọc Ấ trình bày:
Cụ Lê Thị B2, sinh năm 1930, chết năm 1999, lúc còn sống cụ Lê Thị B2
và cụ V là cha m của bà Nguyễn Thị P đã tạo lập thửa đất 875, tờ bản đồ số 05,
xã P, diện tích 468m
2
và sử dụng làm nhà ở từ năm 1960, Cụ V hi sinh nên cụ Lê

Thị B2 sinh sống tại nhà đất trên. Đến năm 1993 nhà của cụ B2 hư hng không
sử dụng được bà P về xây dựng lại. Ngày 20/12/1994 cụ B2 có lập bản di chúc
chuyển quyền sở hữu nhà, đất vườn lại cho con gái và cháu cụ B2 là ông Phạm
T1 được chính quyền địa phương xác nhận. Sau khi cụ B2 qua đời (từ năm 1999
đến nay) th ông Phạm T1 là cháu cụ B2 quản lý, sử dụng thửa đất 875. Trong quá
trnh sử dụng đất cụ B2, bà Nguyễn Thị P và ông Phạm T1 chưa đăng ký kê khai
theo quy định. Trên cơ sở Bản di chúc của cụ B2 để lại, ngày 17/4/2022 ông Phạm
T1, bà P có đến UBND xã P làm thủ tục xin cấp giấy chng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật. UBND xã P tiến hành niêm yết công khai danh
sách đề nghị cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân trên địa bàn
xã. Trong đó, có thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P do bà P, ông T1 kê khai. Sau
đó, bà P và ông T1 nhận được thông báo của UBND xã P về việc có đơn khiếu
nại đối với việc cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất trên.
Cụ T3 là cha của ông Trịnh B, Cụ Trịnh Thiện Đ tập kết ra B, sau năm
1975 cụ T3 mới về quê, vào khoảng thời gian từ 1989 đến năm 1991 thấy cụ B2
sống một mnh nên cụ T3 có qua lại với cụ B2, nhưng đây không phải là vợ chồng,
không phải hôn nhân thực tế và không có đăng ký kết hôn, không có con chung.
Năm 1991 cụ T3 không qua lại hay sống chung với cụ B2, ông Trịnh B và ông
Trịnh B1 không có quan hệ g với cụ B2 cũng như gia đnh cụ B2. Thửa đất 875,
tờ bản đồ số 05, diện tích 468m
2
không phải là tài sản chung của cụ B2 và cụ T3
mà có nguồn gốc là của vợ chồng cụ B2 và cụ V. Ông Trịnh B1 và ông Trịnh B
cho rng thửa đất 875 do ông B1 và ông B quản lý từ năm 1991 đến nay là không
đúng. V vậy, bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc của cụ Lê Thị B2 lập ngày
20/12/1994 là hợp pháp và buộc ông B, ông B1 phải chấm dt hành vi cản trở
quyền thực hiện mở thừa kế theo di chúc.
- Ngày 25/9/2024, bà Nguyễn Thị Phấn khởi K1 bổ sung yêu cầu Tòa án
nhân dân thị xã Đc Phổ giải quyết: Xác định thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P,
diện tích 468 m
2
(Bản đồ 2006) là di sản của cụ Lê Thị B2 để lại; Chia thừa
kế theo pháp luật đối với thửa đất 875 và tài sản gắn liền với đất là di sản
của mẹ bà để lại cho bà được hưởng theo pháp luật. Bà P đồng ý giao toàn
bộ di sản thừa kế mà bà được hưởng cho ông Phạm T1 được trọn quyền sở
hữu, quản lý và sử dụng; Buộc ông Trịnh B và ông Trịnh B1 phải chấm dt hành
vi cản trở việc mở thừa kế theo di chúc của cụ Lê Thị B2 để lại.
- Ngày 25/3/2025 bà Nguyễn Thị P rút một phần yêu cầu khởi kiện
đối với các yêu cầu: Tuyên bố di chúc để lại di sản là quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất do bà Lê Thị B2 lập ngày 20/12/1994 là hợp pháp;
Buộc ông Trịnh B và ông Trịnh B1 chấm dt hành vi cản trở việc mở thừa kế
theo di chúc để lại di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
do bà Lê Thị B2 lập ngày 20/12/1994.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 20/8/2022, Đơn khởi kiện phản tố ngày
22/8/2022, Đơn phản tố sửa đổi, bổ sung ngày 25/3/2023; các lời khai tại Tòa và

tại phiên tòa bị đơn; người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trịnh B1 là anh
Nguyễn Thanh K; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trịnh
B1 là Luật sư Trần Thị H1 trình bày:
Sau năm 1975 cụ Trịnh Thiện Đ tập kết ngoài Bắc trở về, chưa có nhà ở
riêng nên đã chiếm đất, khai hoang được một khoảnh đất tại xóm A, xã P, huyện
Đ (nay là thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, diện tích 468m
2
phường T). Năm 1976 cụ
T3 nhờ một số bà con hàng xóm dựng 01 ngôi nhà vách bng gạch có luồn cây
bên trong, mái lợp tranh để làm nơi sinh hoạt, cư trú. Do vợ cụ T3 chết trước năm
1975 nên khoảng năm 1977 cụ D (tên thật là Lê Thị B2) sống ở gần thấy cụ T3
sống một mnh nên đã dọn qua sống chung làm bạn lúc tuổi già. Sau khi cụ T3
qua đời th ông Trịnh B và ông Trịnh B1 đến dựng 01 ngôi nhà và ông Trịnh B, T
quản lý sử dụng toàn bộ thửa đất do cụ T3 để lại. Khi ông Trịnh B, T quản lý sử
dụng đất cụ B2 không có ý kiến g, đồng thời cụ B2 không có con cái chăm sóc
nên ông B, ông B1 để bà B2 tiếp tục sinh sống trên thửa đất này. Trong quá trnh
chung sống cụ B2 không tu sửa, xây dựng thêm ngôi nhà của cụ T3. Năm 1994
cụ B2 chết, ông Trịnh B là người đng ra lo tang lễ, hương khói cho 02 cụ B2, T3
và quản lý, sử dụng thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, diện tích 468m
2
từ đó cho đến
nay.
Năm 1998 đến 1999 ngôi nhà của cha con ông Trịnh B, Trịnh B1 xây
dng đ bị sập do bo nên ông B1 đ dọn dẹp mặt bng, hiện cn 01 cái
giếng nước sinh hoạt. Năm 2018 – 2019 con gái của cụ B2 là bà P c về
hi ông Trịnh B sửa cha lại ngôi nhà của cụ T3 để lại làm nơi thờ cúng cụ
T3 và cụ B2 v vậy ông B và ông B1 đ đồng .
Từ đ, bị đơn xác định r thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P, diện
tích 468m
2
c nguồn gốc là của cụ ông Trịnh T3, sau khi cụ T3 chết ông
Trịnh B và Trịnh B1 là người trc tiếp quản l sử dụng liên tục toàn bộ thửa
đất nêu trên từ năm 1991 đến nay nên đủ điều kiện được nhà nước cấp
giấy chng nhận quyền sử dụng đất và xác định đây không phải là di sản
của cụ B2 để lại cho ông T1 và bà P. Ông B và ông B1 đồng hoàn trả lại
chi phí sửa cha nhà cho bà P nếu bà P yêu cầu; đồng thời, bị đơn phản
tố yêu cầu Tòa án xác định thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P, diện tích
468m
2
thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Trịnh B1 và những người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh Ba .
Tại Đơn khởi kiện, Đơn trình bày ý kiến và yêu cầu cùng ngày 12/7/2022,
văn bản trình bày ý kiến ngày 26/4/2023; các lời khai tại Tòa và tại phiên tòa
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm T1; người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của ông T1 là bà Hồng Thị T2 trình bày:
Thống nhất với trnh bày của nguyên đơn và thống nhất ý kiến nguyên
đơn bà P t nguyện giao lại toàn bộ tài sản thừa kế mà nguyên đơn được
hưởng theo quy định cho ông Phạm Thảo .1

Ngày 04/9/2025 ông Phạm T1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập và
thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P.
- Tại Bản tự khai ngày 13/10/2022 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là ông Nguyễn Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Lệ Q trình bày:
Thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P hiện nay bà Nguyễn Thị P, ông Phạm
T1 đang tranh chấp với ông Trịnh B, T. Trên thửa đất này có một số tài sản của
ông, bà như: hai mái hiên và một số vật dụng khác. Khi nào Tòa án giải quyết đất
thuộc về ai họ yêu cầu tháo d thì ông H2, bà Q tháo d toàn bộ tài sản trả lại đất
và không có ý kiến g khác.
- Tại Công văn số 35/UBND ngày 20/01/2025 của UBND xã P và các ý
kiến khác trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là UBND xã P (nay là phường T) trình bày:
Theo hồ sơ địa chính lưu trữ tại UBND xã P thì thửa đất 875, tờ bản đồ số
05, xã P, diện tích 468m
2
, mục đích sử dụng ONT, tên người sử dụng quản lý là
UBND xã P, từ trước đến nay không có hồ sơ kê khai đăng ký cấp giấy chng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.
Qua xác minh UBND xã P xác định: Thửa đất 875, tờ bản đồ số 05,
diện tích 468m
2
c nguồn gốc của cụ Lê Thị B2 làm nhà ở từ trước năm
1975 (Cụ B2 là Mẹ Việt Nam A), cụ B2 sử dụng nhà đất đến năm 1989 cụ
Trịnh T3 (là cha ông Trịnh Ba, là ông nội của ông Trịnh B1) có đến sống
chung cùng cụ B2 trên thửa đất này được một thời gian, năm 1991 cụ T3
chết; cụ B2 tiếp tục ở trên thửa đất này đến năm 1994 thì làm di chúc để lại
cho cháu là ông Phạm T1, c xác nhận của chính quyền địa phương; năm
1998 cụ B2 chết, ông T1 là người tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất trên; con
gái của cụ B2 là bà Nguyễn Thị P ở Thành phố Hồ Chí Minh nên khi thc
hiện hồ sơ địa chính năm 2006 th thửa đất chưa xác định được đối tượng
sử dụng đất; trên thửa đất còn tồn tại một ngôi nhà cấp 4C của cụ B2. Không
xác định được mối quan hệ gia cụ Lê Thị B2 và cụ Trịnh Thiện .2
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh B là các
ông, bà Trịnh T, Trịnh Thị X, Trịnh L: Không có ý kiến g.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P:
1. Xác định thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P (nay là phường T), tỉnh
Quảng Ngãi, diện tích 467,8m
2
(theo đo đạc thực tế); trên đất có một ngôi nhà,
diện tích xây dựng 28,5m
2
(ký hiệu g), một cái giếng đóng (không còn giá trị sử
dụng, chỉ còn lại ống sắt) là di sản của cụ Lê Thị B2 để lại.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trịnh B1 và những người kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh B về việc yêu cầu Tòa án xác định

cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trịnh B được quyền sử
dụng ½ thửa đất số 875, diện tích 234m
2
; ông Trịnh B1 được quyền sử dụng ½
thửa đất số 875, diện tích 234m
2
, tờ bản đồ số 05, xã phổ A, (nay là phường Trà
Câu), tỉnh Quảng Ngãi
3. Giao cho bà Nguyễn Thị P được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng thửa
đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P, (nay là phường T), tỉnh Quảng Ngãi, diện tích
467,8m
2
(theo đo đạc thực tế) và tài sản trên đất là một ngôi nhà, diện tích xây
dựng 28,5m
2
(ký hiệu g), một cái giếng đóng (không còn giá trị sử dụng, chỉ còn
lại ống sắt).
(Phần đất được xác định và được giao có sơ đồ bản vẽ kèm theo và
là một bộ phận không tách rời của bản án).
+ Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị P tự nguyện giao toàn bộ di sản mnh được
hưởng thừa kế theo pháp luật là quyền sử dụng thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã
P, (nay là phường T), tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 467,8m
2
(theo đo đạc thực tế) và
một ngôi nhà, diện tích xây dựng 28,5m
2
(ký hiệu g), một cái giếng đóng (không
còn giá trị sử dụng, chỉ còn lại ống sắt) cho ông Phạm T1 được trọn quyền sở hữu,
quản lý, dử dụng.
+ Buộc bà Nguyễn Thị Lệ Q và ông Nguyễn Thanh H2 có trách nhiệm
tháo d mái hiên, diện tích 18,2m
2
(ký hiệu H); giàng dây leo diện tích 14,5m
2
(ký hiệu K); giàng dây leo diện tích 8,6m
2
(ký hiệu C); ô vân (ký hiệu V) giao lại
mặt bng cho bà Nguyễn Thị P khi bà P (ông T1) yêu cầu.
Sau khi bản án c hiệu lc pháp luật, các đương s được quyền
đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất theo phần quyết định của bản án này tại
Cơ quan đăng ký đất đai có thẩm quyền để được cấp giấy chng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy
định của pháp luật đất đai.
4. Đnh chỉ xét xử đối với toàn bộ phần yêu cầu độc lập của người
c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm T1 và yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà Nguyễn Thị P về việc: Tuyên bố di chúc để lại di sản là
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Lê Thị B2 lập ngày
20/12/1994 là hợp pháp; buộc ông Trịnh B và ông Trịnh B1 chấm dt hành
vi cản trở việc mở thừa kế theo di chúc để lại di sản là quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất do bà Lê Thị B2 lập ngày 20/12/1994.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/9/2025, ông Trịnh B1 kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm:
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 6 - Quảng Ngãi để giải quyết lại theo quy định pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng quy định tại
Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hnh thc: Đơn kháng cáo của ông Trịnh Bnh L1 trong hạn luật định
là hợp lệ theo quy định tại Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được chấp
nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Trịnh
B1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi tuyên án đối với vụ án nêu
trên vào ngày 12/9/2025. Ngày 26/9/2025, ông Trịnh B1 kháng cáo là còn trong
thời hạn luật định, nội dung và hnh thc phù hợp với quy định tại các Điều 272,
273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án xem xét theo trnh tự phúc thẩm.
[1.2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng của ông Trịnh B là ông Trịnh T, bà Trịnh Thị X, ông Trịnh L nhưng những
người này không có ý kiến về nội dung vụ án, vắng mặt tại phiên tòa lần th hai
không có lý do; người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của ông Trịnh B1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn c Điều 296
Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Xét nguồn gốc diện tích đất tranh chấp, quá trnh quản lý, sử dụng đất:
[2.1] Thửa đất có tranh chấp được xác đinh là thửa đất số 875, tờ bản đồ
số 05 lập năm 2006: đng tên người quản lý, sử dụng: UBND xã, loại đối tượng:
UBS, diện tích: 468m
2
, mục đích sử dụng: ONT, thửa đất này từ trước đến trước
năm 2022 chưa ai đăng ký kê khai.
[2.2] Năm 2022 nguyên đơn kê khai đăng ký đề nghị cấp giấy chng
nhận quyền sử dụng đất; trong hồ sơ cấp giấy tại phiếu lấy ý kiến của khu dân
cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất xác định: “Nguyên thửa đất này
là đất do bà Lê Thị B2 tạo lập trước năm 1975, năm 1975 bà B2 xây dựng
nhà ở, đến năm 1993 bà B2 sửa chữa lại nhà ở, sử dụng nhà ở và đất đến
ngày 20/12/1994 bà Lê Thị B2 viết di chúc chuyển quyền sở hữu nhà và
quyền sử dụng đất vườn ở cho ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị P được UBND
xã P xác nhận vào ngày 07/01/1995, đến năm 1998 bà B2 chết; ông T1 và bà
Nguyễn Thị P tiếp tục sử dụng nhà và đất đến nay”. Đồng thời, tại văn bản
số 275/UBND ngày 13/02/2023 của UBND thị x Đ và Công văn số
35/UBND ngày 20/01/2025 của UBND xã P đều khẳng định: “Nguyên thửa

đất 875, tờ bản đồ số 05, diện tích 468m
2
(bản đồ năm 2006) x P, thị x Đ,
tỉnh Quảng Ngi là đất do bà Lê Thị B2 xây dựng nhà ở từ trước năm 1975,
bà Lê Thị B2 sử dụng nhà và đất ở đến khoảng năm 1989 ông Trịnh T3 là
cha của ông Trịnh B có sống cùng với bà Lê Thị B2 đến năm 1991 ông Trịnh
Thiện C1. Không xác định được mối quan hệ giữa bà Lê Thị B2 và ông Trịnh
T3”
[2.3] Nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận nội dung: Cụ Trịnh T3 và cụ Lê
Thị B2 cùng sinh sống trên thửa đất này từ năm 1989 đến trước năm 1991. Giữa
hai cụ không có quan hệ hôn nhân, không có con chung.
[2.4] Các giấy xác nhận về nguồn gốc đất của nhng người làm chng
các ông, bà Nguyễn Đnh S, Nguyễn Thị G1, Nguyễn N1, Phạm B3, Nguyễn
Thanh B4 và Trần Văn M: Khi Tòa án làm việc th những người này trình bày
những nội dung trnh bày trong đơn không đúng ý chí của họ, có người xác
định nguồn gốc thửa đất nhưng không nhớ năm và không thống nhất
nhau.
[2.5] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/8/2023 xác định
hiện trạng thửa đất 875 có diện tích theo đo đạc thực tế là 474,5m
2
.
Tài sản trên đất gồm có: Một nhà tạm, có diện tích xây dựng 28,5m
2
(ký
hiệu g); mái hiên, diện tích 18,2m
2
(ký hiệu h); giàng dây leo diện tích 14,5m
2
(ký
hiệu k); giàng dây leo diện tích 8,6m
2
(ký hiệu c); ô vân (ký hiệu v); một cái giếng
đóng (không còn giá trị sử dụng, chỉ còn lại ống sắt), một ngôi mộ diện tích 6,7m
2
(ký hiệu M). Ngoài ra, còn có một số cây cối.
Diện tích thửa đất 875 qua đo đạc thựa tế có diện tích 474,5m
2
trên đất có
một ngôi mộ vô danh có diện tích 6,7m
2
(ký hiệu M). Các bên đương sự thống
nhất trừ diện tích ngôi mộ ra th thửa đất 875 sau khi trừ diện tích ngôi mộ sẽ có
diện tích là 467,8m
2
.
Do đó, Bản án sơ thẩm xác định cụ Lê Thị B2 là người tạo lập, quản lý,
sử dụng thửa đất số 875 từ trước năm 1975 đến nay là có căn c, đúng pháp luật.
Căn c vào điểm a mục 1.3 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày
10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “1.3.
Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong
các giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có
di sản là nhà ở; vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng
nước, ...) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà yêu cầu chia thừa kế, thì cần phân
biệt các trường hợp sau: a) Trong trường hợp đương sự có văn bản của UBND
cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Tòa án giải quyết theo yêu cầu chia
di sản là tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất đó”. Đối chiếu với quy
định trên th thửa đất 875 được chính quyền địa phương xác nhận nguồn gốc đất
là của cụ Lê Thị B2 quản lý, sử dụng; chưa cấp giấy chng nhận quyền sử dụng

đất cho bất kỳ ai, trên đất còn có một ngôi nhà, diện tích xây dựng 28,5m
2
của cụ
B2; phù hợp với quy hoạch đất ở, đủ điều kiện cấp giấy chng nhận quyền sử
dụng đất. Do đó, có đủ cơ sở xác định thửa đất 875, tờ bản đồ số 05, xã P (nay là
phường T), tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 467,8m
2
(theo đo đạc thực tế), trên đất có
một ngôi nhà, một cái giếng đóng (không còn giá trị sử dụng, chỉ còn lại ống sắt)
là di sản của cụ Lê Thị B2 để lại.
[3] Về nội dung kháng cáo của ông Trịnh B1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn bà Nguyễn
Thị Phấn khởi K1 yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố di chúc để lại di sản là
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do cụ Lê Thị B2 lập ngày 20/12/1994
là hợp pháp; Buộc ông Trịnh B và ông Trịnh B1 phải chấm dt hành vi cản trở
việc mở thừa kế theo di chúc của cụ Lê Thị B2 để lại là quyền sử dụng đất đối với
thửa đất 875, tờ bản đồ số 05 xã P (nay là phường T), tỉnh Quảng Ngãi
Ngày 25/3/2025 bà Nguyễn Thị P rút các yêu cầu khởi kiện: Tuyên bố di
chúc để lại di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho cụ Lê Thị
B2 lập ngày 20/12/1994 là hợp pháp; Buộc ông Trịnh B và ông Trịnh B1 chấm
dt hành vi cản trở việc mở thừa kế theo di chúc để lại di sản là quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất do cụ Lê Thị B2 lập ngày 20/12/1994; đồng thời,
bổ sung yêu cầu khởi kiện: Xác định thửa đất 875, tờ bản đồ số 05 xã P, diện tích
468m
2
(Bản đồ 2006) là di sản của m bà - cụ Lê Thị B2 để lại; Chia thừa kế theo
pháp luật đối với thửa đất 875, tờ bản đồ số 05 xã P, diện tích 468m
2
là di sản của
m bà - cụ Lê Thị B2 để lại cho bà được hưởng theo pháp luật. Việc nguyên đơn
sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện như trên là không vượt quá yêu cầu khởi kiện
theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3.2] Về việc không đưa người có đất liền kề và chủ ngôi mộ tham gia tố
tụng: Chủ đất liền kề với thửa 875 là vợ chồng anh H2, chị Q và ông Nguyễn X1,
những người này có mặt tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án và không
có ý kiến về ranh giới thửa đất, không có tranh chấp về diện tích đất. Về ngôi mộ
vô danh, các bên đương sự thống nhất trừ diện tích ngôi mộ ra th thửa đất 875
sau khi trừ diện tích ngôi mộ sẽ có diện tích là 467,8m
2
. Do đó, việc Tòa án cấp
sơ thẩm không đưa các chủ thể này vào tham gia tố tụng với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hoàn toàn có căn c, đúng pháp luật.
[3.3] Về diện tích thửa đất tăng thêm và ý kiến của anh H2, chị Q: Ranh
giới đất trên thực địa không thay đổi, không tranh chấp với các hộ liền kề. Vợ
chồng anh H2 chị Q đã có văn bản trnh bày ý kiến trong hồ sơ vụ án xác định
trên thửa đất 875 có một số tài sản của anh chị như: hai mái hiên và một số vật
dụng khác. Khi nào Tòa án giải quyết đất thuộc về ai họ yêu cầu tháo d thì anh
H2 chị Q tháo d toàn bộ tài sản trả lại đất và không có ý kiến g khác. Do đó, nội
dung kháng cáo này của ông B1 là không có căn c.
[3.4] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh lời khai của những người làm chng
mà ông B1 cung cấp (tại bút lục 174 đến 180). Tòa án cấp sơ thẩm đã triệu tập
hợp lệ các ông bà Trịnh T, Trịnh Thị X, Trịnh L nhưng những người này không

có ý kiến trnh bày gửi đến Tòa án, không đến dự phiên tòa. Tòa án cấp sơ thẩm
tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[3.5] Về các biên lai nộp thuế và hợp đồng điện mà ông Trịnh B1 giao
nộp: Các tài liệu này đều là bản phô tô coppy và không thể hiện việc đóng thuế
cho thửa đất nào nên không có căn c để chấp nhận.
[3.6] Về việc đánh giá tài sản trên đất: Bị đơn cho rng căn nhà cũ và giếng
nước do cụ Trịnh T3 xây dựng nhưng không đưa ra được chng c chng minh.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Trịnh B1.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng:
[5.1] Án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng, toà án cấp sơ thẩm đã giải
quyết đúng quy định pháp luật.
[5.2] Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên ông
Trịnh B1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án, được trừ vào số tiền tạm ng án phí đã nộp tại Biên lai số 0002633 ngày
25/11/2025 của Thi hành dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Trịnh B1.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi;
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trịnh B1 phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ng án phí dân sự
phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số Biên lai số 0002633
ngày 25/11/2025 của Thi hành dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Ông Trịnh B1 đã nộp đủ.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân khu vực 6- Quảng Ngãi
- Phòng THADS Kv 6- QN; THADS tỉnh QN;

- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Vũ Văn Thuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm