Bản án số 261/2026/HS-ST ngày 28/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 261/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 261/2026/HS-ST ngày 28/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 261/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trộm cắp tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 261/2026/HS-ST Bản án số 261/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 261/2026/HS-ST Bản án số 261/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – BẮC NINH
Bản án số: 261/2026/HS-ST
Ngày: 28/7/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Đức Lâm
Ông Nguyễn Công Tân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký TAND Khu vực 2 - Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện VKSND Khu vực 2 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị
T - Kiểm sát viên.
Ngày 28/7/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 237/2026//TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm
2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 253/2026/QĐXXST–HS ngày 14/7/2026
đối với:
Bị cáo: Nguyễn Văn L; Sinh ngày 10/8/1997;
Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: thôn H, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
CCCD: ************
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12.
Con ông: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1973.
Con bà: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1975.
Vợ, con: chưa có.
Anh chị em ruột: bị can là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án: Bản án số 316/2023/HS-ST ngày 16/11/2023, Tóa án nhân dân Quận
N, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4- Hà Nội) xử phạt L 18 tháng
tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình
sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. L chấp hành xong hình phạt tù ngày
14/11/2024.
2
Tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2026; hiện đang tạm giam
tại Trại tạm giam số 2- Công an tỉnh B. (có mặt)
* Bị hại:
1. Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1989
Nơi thường trú: thôn L (nay là thôn L), xã H, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
2. Anh Đinh Văn P, sinh năm 1979
Nơi thường trú: thôn N (nay là thôn H), xã H, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976
Nơi thường trú: thôn V (nay là thôn V), xã H, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
2. Cháu Nguyễn Thành T2, sinh năm 2011
Nơi thường trú: thôn L (nay là thôn L), xã H, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
Đại diện theo pháp luật của cháu T2. Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1982
Nơi thường trú: thôn L (nay là thôn L), xã H, tỉnh Bắc Ninh
*Người làm chứng:
1. Anh Đào Văn T3, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn Hưng Đạo, xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh
2. Chị Lê Thị T4, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn N (nay là thôn H), xã H, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 10/8/1997, trú tại thôn H, xã H, tỉnh Bắc Ninh là người
đang có 01 tiền án, không có việc làm ổn định. Trong các ngày 09/4/2026 và
10/4/2026, L đã một mình thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Buổi chiều ngày 09/4/2026, L cởi trần, mặc quần ngố bò màu xanh,
đi dép màu đen đi bộ đến thôn L, xã H, tỉnh Bắc Ninh tìm người nào để tài sản sơ hở
thì trộm cắp. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, L đi bộ đến cổng nhà anh Nguyễn
Xuân H, sinh năm 1989, thấy cánh cổng mở, bên trong khu vực cửa nhà có kê nhiều
thiết bị đồ điện lạnh cũ nhưng không có ai trông coi. L đi vào trong cửa nhà, dùng tay
xách trộm 02 cuộn dây điện (trong đó 01 cuộn dây điện màu vàng, loại dây 02 lõi
đồng, nhãn hiệu “Trần Phú”, trọng lượng 5kg, chiều dài 75m, chưa qua sử dụng và 01
cuộn dây điện màu xám, loại dây 3 lõi đồng to, nhãn hiệu “Kangjin”, trọng lượng
13kg, chiều dài 91m, chưa qua sử dụng) đang để trên thềm nhà rồi bỏ đi khỏi nhà anh
H. Tiếp đó, L đem hai cuộn dây điện trộm cắp được của anh H ra khu vực nghĩa trang
của thôn L, xã H, tỉnh Bắc Ninh cất giấu để tìm cách tiêu thụ rồi bỏ đi khỏi nghĩa
trang. Khoảng 17 giờ cùng ngày, L đang đi bộ trên đường thì gặp cháu Nguyễn Thành
T2, sinh năm 2011, trú tại thôn L, xã H, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe đạp điện nên đi
3
nhờ đến nghĩa trang T6. Khi đến nghĩa trang, L lấy 02 cuộn dây điện trộm cắp cho
vào trong bao tải dứa màu trắng nhặt được ở rìa đường rồi đem để trên bệ để chân xe
đạp điện của cháu T2. Lúc này cháu T2 hỏi L về nguồn gốc của dây điện, thì Lâm
mắng “hỏi ít thôi”, không nói cho biết là tài sản trộm cắp, nên cháu T2 không bảo gì.
Sau đó, L điều khiển xe đạp điện chở cháu T2 cùng bao tải đựng 02 cuộn dây điện
trộm cắp của anh H đi tới cửa hàng mua bán phế liệu của anh Nguyễn Văn T1, sinh
năm 1976, ở thôn V, xã H, tỉnh Bắc Ninh để bán. Tại đây, L nói với anh T1 hai cuộn
dây điện đem bán là tài sản của L rồi bán cho anh T1 lấy tổng số tiền 1.300.000 đồng.
Tiếp đó, L điều khiển xe đạp điện chở cháu T2 đi đến thôn L, xã H, tỉnh Bắc Ninh thì
đỗ xe lại, trả xe cho cháu T2 đồng thời tự cho cháu T2 50.000 đồng rồi L bỏ đi ăn tiêu
hết số tiền bán tài sản trộm cắp.
Vụ thứ hai: Buổi đêm ngày 10/4/2026, L mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave,
không nhớ biển kiểm soát của một người nam giới mới quen, không biết họ tên, địa
chỉ đang chơi game tại một quán Internet chỉ nhớ ở khu vực cầu C, xã K, tỉnh Thái
Nguyên rồi điều khiển đi trộm cắp tài sản của người khác nhưng không nói cho người
này biết. Khoảng 23 giờ cùng ngày 10/4/2026, L đi xe mô tô tới bờ kênh cánh đồng
thuộc địa phận thôn N, xã H, tỉnh Bắc Ninh, phát hiện 01 con trâu cái, có 02 sừng dài
và cong đều (dài khoảng 40 - 50 cm), lông màu đen, dây chạc xỏ qua mũi buộc vào
cọc ở cạnh bờ kênh, là tài sản của anh Đinh Văn P, sinh năm 1979, trú tại thôn N, xã
H, tỉnh Bắc Ninh, xung quanh không có người trông coi. L đỗ xe mô tô lại, dùng tay
tháo dây chạc buộc con Trâu khỏi cọc. Tiếp đó, L một tay điều khiển xe mô tô, một
tay cầm dây chạc dắt trộm con trâu bỏ đi để tìm nơi tiêu thụ. Khi L dắt trộm con trâu
của anh P đi đến đoạn đường V, thuộc địa phận thôn H, xã H, tỉnh Bắc Ninh, chưa bán
được cho ai thì gặp anh Đào Văn T3, sinh năm 1976, trú tại thôn H, xã H, tỉnh Bắc
Ninh đi đến. Anh T3 nghi ngờ L trộm cắp trâu của người khác nên hỏi L nguồn gốc
con trâu. Thấy vậy, L nói với anh T3 con trâu là tài sản của L. Anh T3 không tin lời
L nói và bảo L chứng minh nguồn gốc con trâu là tài sản của L, đồng thời dùng điện
thoại quay video lại hình ảnh L cùng con trâu. Lúc này, sợ hành vi trộm cắp tài sản bị
phát hiện, L đã bỏ lại con trâu rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Anh T3 gọi điện hỏi chị
Lê Thị T4, sinh năm 1977, trú tại thôn N, xã H, tỉnh Bắc Ninh là người nuôi trâu kiểm
tra xem có bị mất trộm trâu không nhưng không bị mất trộm. Chị T4 biết anh P cùng
là người nuôi trâu kinh doanh nên gọi điện hỏi anh Phúc kiểm T5 xem có bị mất trộm
trâu không. Sau đó, anh Phúc kiểm T5 con trâu buộc ở bờ kênh thì phát hiện bị mất
trộm. Anh P đi đến chỗ anh T3 đang giữ con trâu do L bỏ lại thì xác định chính là con
trâu đã bị trộm cắp.
Ngày 18/4/2026, anh Đinh Văn P, anh Nguyễn Xuân H trình báo Công an xã H
về việc bị mất trộm tài sản nêu trên.
Cùng ngày 18/4/2026, Công an xã H tiến hành thu giữ được tại camera an ninh
lắp đặt tại nhà anh H và cửa hàng của anh T1 toàn bộ hình ảnh video ghi lại việc L
trộm cắp 02 cuộn dây điện của anh H và hình ảnh L đi xe đạp điện cùng cháu T2 vào
cửa hàng của anh T1 bán cuộn dây điện trộm cắp; thu giữ được trong điên thoại di
4
động của anh T3 video ghi lại việc L cùng con trâu trộm cắp của anh P khi anh T3 hỏi
về nguồn gốc trâu, đồng thời thu giữ của anh T1 hai cuộn dây điện L đem bán nêu
trên. Tiếp đó, Công an xã H đã tiếp nhận của anh P con trâu bị L trộm cắp, tiến hành
cân xác định có trọng lượng 410kg rồi bàn giao cho anh P chăm sóc.
Ngày 19/4/2026, Nguyễn Văn L đến Công an xã H, tỉnh Bắc Ninh đầu thú về
hành vi trộm cắp 02 cuộn dây điện của anh H và 01 con trâu của anh P vào các ngày
nêu trên. Sau đó, Công an xã H đã bàn giao L cùng vật chứng, tài liệu có liên quan
đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh B để điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2026 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân xã H định giá và kết luận:
thời điểm ngày 09/4/2026 tài sản của anh H bị trộm cắp gồm: 01 (một) cuộn dây điện
màu vàng, loại dây 02 lõi đồng, nhãn hiệu “Trần Phú”, trọng lượng 5kg, chiều dài
75m, chưa qua sử dụng có trị giá 1.050.000 đồng; 01 (một) cuộn dây điện màu xám,
loại dây 3 lõi đồng to, nhãn hiệu “Kangjin” trọng lượng 13kg, chiều dài 91m, chưa
qua sử dụng có trị giá 2.457.000 đồng. Tại thời điểm ngày 10/4/2026, 01 con trâu,
giống cái, màu lông đen, sừng dài, trọng lượng 410kg của anh P bị trộm cắp có trị giá
31.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 122/CT-VKS- KV2 ngày 03/7/2026 của Viện Kiểm sát
nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Lâm ra trước Toà án
nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại
khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo
trạng đã truy tố là đúng, không oan, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai và
vi phạm pháp luật.
Bị hại và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên
tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ. Bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh vẫn giữ nguyên quan
điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
*Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản
2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo
Nguyễn Văn L từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023
về tội “Trộm cắp tài sản”.
* Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1
số tiền 1.300.000 đồng.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015, điểm a khoản 1 Điều
23, Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, buộc bị cáo phải
chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
5
Bị cáo không có ý kiến đối đáp với bản luận tội của Kiểm sát viên;
Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều
hợp pháp.
[2] Tại phiên toà vắng mặt bị hại là anh H và anh P; vắng mặt người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan và vắng mặt người làm chứng nhưng những người này đã
có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình
sự là có căn cứ.
[3] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã
gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó
có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn L là người đang có 01 tiền án, không có việc làm
ổn định. Trong các ngày 09/4/2026 và 10/4/2026, L đã một mình thực hiện 02 vụ trộm
cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/4/2026, Nguyễn Văn L có hành
vi lén lút đột nhập vào nhà anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1989, ở thôn L, xã H, tỉnh
Bắc Ninh rồi trộm cắp được của anh H1 02 cuộn dây điện chưa qua sử dụng (01 cuộn
nhãn hiệu “Trần Phú”, 01 cuộn nhãn hiệu “Kangjin”) có tổng trị giá 3.507.000 đồng,
đang để tại thềm nhà. Sau đó, L mang cuộn dây điện trộm cắp bán cho anh Nguyễn
Văn T1 được 1.300.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 10/4/2026, tại bờ kênh cánh đồng thuộc địa
phận thôn N, xã H, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Văn L lén lút dắt trộm 01 con trâu, giống
cái, màu lông đen, sừng dài, trọng lượng 410kg, trị giá 31.000.000 đồng là tài sản của
anh Đinh Văn P, sinh năm 1979, trú tại thôn N, xã H, tỉnh Bắc Ninh. Trên đường dắt
con trâu trộm cắp đi bán, L bị người dân phát hiện nên bỏ lại trên đường. Sau đó, L
đầu thú hành vi phạm tội với Công an.
Tổng trị giá tài sản L trộm cắp được trong hai vụ là 34.507.000 đồng. Cơ quan
điều tra đã thu giữ được tài sản bị trộm cắp để trả lại các bị hại.
6
Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định
tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 122/CT-VKS –
KV2 ngày 03/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh truy tố bị cáo
về tội danh và Điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là
người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết lấy trộm tài sản của người khác là
vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài, sinh sống bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự
xã hội và quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm
tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng lúc sơ hở của người khác để ý lén lút lấy tài sản của
họ. Hành vi của bị cáo không chỉ gây thiệt hại về mặt vật chất cho nạn nhân mà còn
làm suy giảm niềm tin của xã hội vào sự an toàn và trật tự. Từ đánh giá nêu trên,
HĐXX xét thấy, cần phải áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo Nguyễn Văn L ra
khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung như đề nghị
của đại diện Viện kiểm sát Khu vực 2 - Bắc Ninh là có căn cứ. Tuy nhiên, khi lượng
hình cần đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi lượng hình cho bị cáo là cần
thiết. Hiện bị cáo Nguyễn Văn L đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an
tỉnh B nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm
bảo cho việc thi hành án là có căn cứ.
[5]. Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã Tóa án nhân dân Quận N, thành phố Hà
Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4- Hà Nội) xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ
trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 14/11/2024.
[6]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần, đã bị kết án
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên
phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái Phạm” quy định tại điểm g, h
khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội ra đầu thú, nên được hưởng các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự là có căn cứ.
[7]. Về vật chứng của vụ án:
+ Đối với 01 xe mô tô L dùng đi trộm cắp, L khai đã trả lại người thanh niên
không biết họ tên, địa chỉ cho mượn trước đó và số tiền bán tài sản có được bị cáo và
cháu T2 đã chi tiêu cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không
có căn cứ để xử lý.
+ Đối với 02 cuộn dây điện bị cáo đã trộm của anh Nguyễn Xuân H cơ quan điều
trả lại cho anh H là có căn cứ.
7
+ Đối với 01 con trâu bị cáo trộm của anh Đinh Văn P, Cơ quan điều tra đã trả
lại cho anh Đinh Văn P là có căn cứ.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra truy tố đến nay, anh H và anh P
đã được trả lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng không xem xét
xử lý là có căn cứ.
Đối với yêu cầu của anh Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền
1.300.000đồng Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo đã có hành vi gian dối khi bán 02
cuộn dây điện cho anh T1 để lấy số tiền 1.300.000đồng. Vì vậy, bị cáo phải có trách
nhiệm trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 1.300.000đồng là có căn cứ.
[9]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có công ăn việc làm, ổn định, không có
tài sản riêng. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là có
căn cứ.
[10]. Vấn đề khác:
Đối với cháu Nguyễn Thành T2 là người cho L mượn xe đạp điện chở cháu T2
và dây điện trộm cắp được đem đi bán và anh Nguyễn Văn T1 là người mua dây điện
của L nhưng cả hai đều không biết đây là tài sản do L trộm cắp mà có nên không có
căn cứ xử lý đối với cháu Nguyễn Thành T2 và anh Nguyễn Văn T1 là có căn cứ.
[11] Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/NQ-
UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà
án buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; 300.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm là có căn cứ.
Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên
quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản
1 Điều 52; Điều 38; Điều 329 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02
năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
19/4/2026.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584,
585, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L có trách nhiệm hoàn trả cho anh
Nguyễn Văn T1 số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng).
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều
23, Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc
bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015
8
Bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo thủ
tục tố tụng hình sự.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Ninh
- VKSND tỉnh Bắc Ninh
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bắc Ninh
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Ninh
- VKSND Khu vực 2 - Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng;
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Hoàng Thị Hương Lan
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 261/2026/HS-ST Bản án số 261/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 261/2026/HS-ST Bản án số 261/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất