Bản án số 25/2025/DS-ST ngày 13/08/2025 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 25/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 25/2025/DS-ST ngày 13/08/2025 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 25/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Đình Nở, bà Hoàng Thị Viên. - Hủy GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang (trước sáp nhập) cấp ngày 29/12/2015 cho anh Lương Văn Học, đối với diện tích đất 1.782m2 thuộc một phần thửa đất số 351, tờ bản đồ số 02 xã Tiên Kiều, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang (nay là xã Hùng An, tỉnh Tuyên Quang). Anh Lương Văn Học có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích đất tại GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện 14 Bắc Quang, tỉnh Hà Giang (trước sáp nhập) cấp ngày 29/12/2015 để được cấp lại GCNQSDĐ theo đúng ranh giới, hiện trạng, diện tích sử dụng đất thực tế. 2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Đình Nở, bà Hoàng Thị Viên về việc yêu cầu công nhận 1.782m2 đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Nở, bà Viên. - Tạm giao diện tích đất 1.782m2 đất rừng sản xuất được đánh số hiệu tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 khép về điểm 1 (có vị trí
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG
Bản án số: 25/2025/DS-ST
Ngày 13 - 8 - 2025
"V/v Yêu cầu công nhận QSD đất;
yêu cầu hủy GCNQSD đất".
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Như Thiêm, bà Bàn Thị Ba.
- Thư phiên tòa: Đặng Thảo Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên
tòa: bà Vương Thị Chiêm - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 13/8/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (cơ sở 2) xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2024/TLST-DSTC ngày
07/11/2024 vviệc "Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất", theo Quyết định đưa vụ án rat xử số
07/2025/QĐXXST-DS ngày 18/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa s
22/2025/QĐST-DS ngày 18/7/2025 Thông báo về việc thay đổi thời gian mở
phiên toà ngày 07/8/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lương Đình Nở, Hoàng Th Viên. Cùng địa ch:
Thôn Kim, Tiên Kiu, huyn Bc Quang, tnh Giang (nay thôn Kim,
Hùng An, tnh Tuyên Quang). Viên có mt.
Ông Lương Đình Nở chết ngày 17/3/2024. Hoàng Th Viên u quyn
tham gia t tụng cho anh ơng Văn Qung (Giy u quyn ngày 17/3/2025).
Ngưi kế tha quyền và nghĩa vụ t tng ca ông Lương Đình N:
1. Hoàng Thị Viên, sinh năm 1961
2. Anh Lương Văn Hữu, sinh năm 1982
3. Anh Lương Văn Hải, sinh năm 1983
4. Chị Lương Thị Mai, sinh năm 1987
5. Anh Lương Văn Quảng, sinh năm 1990
6. ChLương Thị Huế, sinhm 1992
ng địa chỉ: Thôn Kim, xã Tiên Kiều, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
(nay thôn Kim, xãng An, tỉnh Tun Quang);
Người đại diện theo uquyền của những người kế tha quyn nghĩa
v t tng của ông Lương Đình Nở: Anh Lương Văn Quảng, sinh năm 1990, địa
2
chỉ hiện nay: Thôn Kim, Hùng An, tỉnh Tuyên Quang; CCCD s
002090006782; nghề nghiệp: Lao động tự do (Giấy uquyền ngày 01/8/2025),
anh Quảng mặt.
- B đơn: Anh Lương Văn Học, sinh năm 1985. Địa ch hin nay: Thôn
Kim, Hùng An, tỉnh Tuyên Quang. mặt;
- Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
1. U ban nhân dân huyn Bc Quang, tnh Hà Giang (đã giải th).
Người kế tha quyền nghĩa v t tng ca UBND huyn Bc Quang:
Ch tch U ban nhân dân xã Hùng An, tnh Tuyên Quang.
Nời đại din theo u quyn ca Ch tch UBND xã Hùng An: Ông Lc
Linh Tuyn. Chc v: Phó ch tch UBND xã Hùng An, tnh Tuyên Quang (Giy
u quyn s 01/GUQ-UBND, ngày 06/8/2025). Có đơn đề ngh t x vng mt.
2. Anh Lương Văn Hu, bà Dương Thị Đán, Ông Lương Văn Tam (Tâm),
ng đa ch: Thôn Kim, Hùng An, tỉnh Tuyên Quang, có đơn xin xét xử vắng
mặt;
3. Ông Lương Xuân Niên, đa ch: T 9, xã V Xuyên, tnh Tuyên Quang,
có mt;
4. Ma Th Nhung, đa ch: Thôn Phòng Chao, Bch Xa, tnh Tuyên
Quang, đơn xin xét xử vắng mặt;
5. Bà Ma Th Hoàn, đa ch: Thôn Nn Mc, xã Hàm Yên, tnh Tuyên Quang,
đơn xin t xử vắng mặt;
6. Ma Th Sỵ, địa ch: Thôn Làng n, Bch Xa, tnh Tuyên Quang,
đơn xin t xử vắng mặt;
7. Ông Ma Văn Sơn, ông Ma Văn Hương, cùng địa ch: Thôn Bá, xã Bch
Xa, tnh Tuyên Quang, đơn xin t xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 10/8/2023 các Bản tự khai, biên bản hòa
giải, nguyên đơn ông Lương Đình Nở, Hoàng Thị Viên, người đại diện theo uỷ
quyền của ông Nở bà Viên là anh Lương Văn Quảng trình bày:
Vợ chồng ông Nở, Viên một thửa đất, loại đất vườn rừng, diện tích
khoảng 1.169m
2
, địa chtại thôn Kim, Tiên Kiều, huyện Bắc Quang, tỉnh
Giang, nguồn gốc đất của bmẹ ông Nở để lại. Gia đình ông Nở sử dụng đã
trồng cam, chè, cọ và một số cây khác trên đất, quá trình sử dụng không có tranh
chấp với ai nhưng chưa làm hsơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất (gọi tắt là GCNQSDĐ). Năm 2020, đoàn đo đạc bản đồ địa chính huyện
Bắc Quang xuống Tiên Kiều đo đạc đến khu đất của vợ chồng ông Nở. Khi
công khai kết quả đo đạc tại trụ sở thôn Kim, vợ chồng ông Nở phát hiện khu đất
của gia đình ông đề nghị đo đạc nằm trong GCNQSDĐ số BM 509047 do
UBND huyện Bắc Quang cấp ngày 29/12/2015 cho anh Lương Văn Học, địa chỉ
cùng thôn Kim, xã Tiên Kiều.
Vợ chồng ông Nở đã đến nhà anh Học đề nghị anh Học làm thủ tục để trả
lại phần diện tích đất cho gia đình ông Nở nhưng anh Học không đồng ý. Vợ
3
chồng ông Nở đã làm Đơn đề nghị UBND xã Tiên Kiều giải quyết tranh chấp đất
đai nhưng kết quả hoà giải không thành.
Ông Lương Đình Nở, Hoàng Thị Viên khởi kiện đề nghị Tòa án nhân
dân tỉnh Hà Giang:
1. Công nhận quyền sử dụng đất dối với 1.169m
2
đất đang tranh chấp
giữa vợ chồng ông Nở và anh Học hiện đang nằm trong một phần GCNQSDĐ số
BM 509047, do UBND huyện Bắc Quang cấp ngày 29/12/2015 mang tên Lương
Văn Học thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Nở, bà Viên.
2. Huỷ một phần GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện Bắc Quang
cấp ngày 29/12/2015 của anh Lương Văn Học đối với diện tích đất đang có tranh
chấp.
Tại các bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Lương Văn Học
trình bày: Thửa đất đang tranh chấp nằm trong GCNQSDĐ số BM 509047 do
UBND huyện Bắc Quang cấp ngày 29/12/2015 cho anh Lương Văn Học có nguồn
gốc của bố đẻ anh Học là ông Lương Văn Sen (ông Sen là anh trai ruột ông Nở).
Ông Sen đã trồng cọ và các cây gỗ mọc tự nhiên được ông Sen bảo vệ, chăm sóc
để bảo vệ nguồn nước của gia đình. Năm 2014, ông Sen có đề nghị nhà nước làm
hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ từ tên ông Sen sang tên anh Học. Năm 2015, anh được
UBND huyện Bắc Quang cấp GCNQSDĐ mang tên anh và anh đã trực tiếp quản
lý, sử dụng toàn bộ khu đất.
Từ khoảng năm 2006 đến năm 2014, gia đình ông Nở nhiều lần cho con
chặt phá dần cây cọ và gỗ trên đất, được ông Sen và anh Học nhắc nhở nhiều lần
nhưng ông Nở không nghe, còn thách thức, lăng mạ bố con anh Học. Năm 2015,
ông Nở cho con trai tên Lương Văn Hữu trồng chè, cam vào dưới cây cọ trong
đất của nhà anh Học, nhằm chiếm khu đất của nhà anh Học. Năm 2019, ông Nở
cho các con chặt toàn bộ cây cọ các cây cối khác trên đất. Khoảng tháng 3/2022,
anh Hữu con ông Nở dẫn đoàn đo đạc đến đo đạc khu đất đnghị cấp GCNQSDĐ
nhưng anh Học ngăn cản với lý do đất đã nằm trong GCNQSDĐ của anh Học nên
đã phát sinh tranh chấp giữa hai bên, ông Nở đã khởi kiện tại Toà án.
Quan điểm của anh Học không nhất trí với toàn byêu cầu khởi kiện của
vợ chồng ông Nở, đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Nở, giữ nguyên GCNQSDĐ UBND huyện Bắc Quang đã cấp cho anh được
quyền sử dụng đất.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lương Văn Hữu vợ Linh Thị
Thẩm ý kiến: Anh Hữu con trai ông Nở, bà Viên. Từ khoảng năm 1999 bố
mẹ anh Hữu giao cho anh Hữu quản lý, sử dụng khu đất hiện nay đang tranh
chấp với anh Học. Vợ chồng anh Hữu trồng lúa nương, sau đó trồng chè, sử dụng
ổn định, không tranh chấp với ai. Năm 2020, gia đình ông Nở ý định làm
hồ cấp GCNQSDĐ thì mới phát hiện khu đất đã nằm trong GCNQSDĐ của
anh Học. Mặc bố mẹ anh Hữu cho anh quản lý, sử dụng khu đất nhưng vợ
chồng anh Hữu không có quyền định đoạt đối với khu đất. Anh Hữu đề nghị Toà
án không đưa anh vào tham gia tố tụng với cách là người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan. Anh Hữu có Đơn đề nghị xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng
4
tại Toà án. Quan điểm của anh Hữu đồng ý với ý kiến của ông Lương Đình Nở,
bà Hoàng Thị Viên.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị Đán trình bày:
Đán vợ ông Lương Văn Sen, mẹ đẻ bị đơn anh Lương Văn Học, chị dâu của
ông Nở. Bà xác nhận thửa đất đang có tranh chấp giữa vợ chồng ông Nở anh
Học nguồn gốc trước đây của bố mẹ chồng (ông Lương Văn Khoa,
Hoàng Thị Quyển) khai phá, sử dụng. Sau khi bố mchồng chết (ông Khoa
chết năm 1994, Quyển chết năm 2004), vchồng quản khai thác cọ
(chỉ trông coi khai thác cọ, không trồng cấy do gia đình không người).
Năm 2014, ông Nở cho con đến chặt bỏ cọ trồng chè, gia đình Đán biết
nhưng không ý kiến gì. Nay ông Nở khởi kiện đòi đất yêu cầu huỷ
GCNQSDĐ của anh Học, Đán không đồng ý, đề nghị Toà án không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nở, buộc vợ chồng ông Nở trả lại đất
cho anh Học.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Thanh Tam (Lương
Thanh Tâm) trình bày: Ông Tam anh trai ruột của ông Nở. Khu đất đang
tranh chấp giữa ông Nở và anh Học là của bố mẹ ông (cụ Lương Văn Khoa và c
Hoàng Thị Quyển) để lại. Bố mẹ ông Tam chưa chia cho ai diện tích đất trên và
trước khi chết, cả hai cụ đều không có di chúc để lại thửa đất đang có tranh chấp
cho ai. Nay ông Tam đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu huỷ 1 phần GCNQSDĐ
của anh Học, tạm giao khu đất tranh chấp cho ông Nở trực tiếp quản lý, sử
dụng, những người hàng thừa kế của cụ Khoa, cụ Quyển sẽ chia thừa kế theo
quy định của pháp luật. Ông Tam đề nghị Toà án không đưa ông vào tham gia tố
tụng, ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án này và đề nghị Toà án giải quyết,
xét xử vắng mặt ông.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Xuân Niên trình bày:
Ông Niên anh trai ruột ông Nở. Khu đất đang tranh chấp giữa ông Nở anh
Học của bố mẹ ông (cụ Lương Văn Khoa và cụ Hoàng Thị Quyển) để lại. Bố
mẹ ông Niên chưa chia cho ai diện tích đất trên trước khi chết, cả hai cụ đều
không có di chúc để lại thửa đất đang có tranh chấp cho ai nhưng ông Nở và ông
Sen tự chia nhau hết phần đất của bố mẹ để lại, các con khác của cụ Khoa không
ý kiến gì. Theo quan điểm của ông Niên, khu đất tranh chấp là của ông Nở
được ông Sen chia cho, việc anh Học được cấp GCNQSDĐ đối với phần đất tranh
chấp không đúng ranh giới sử dụng đất thực tế của anh Học và ông Nở.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ma Văn Sơn, ông Ma Văn
Hương (là cháu ngoại cụ Khoa và cụ Quyển) trình bày: Ông Hương, ông Sơn là
con đẻ của Lương Thị Thâm (bà Thâm là con đẻ cụ Khoa, cụ Quyển). Thâm
đã chết năm 2006. Khi còn sống, bà Thâm không nói với hai ông về đất đai của
ông bà ngoại nên các ông không biết gì về khu đất tranh chấp giữa ông Nở và anh
Học. Quan điểm của các ông là không ý kiến gì về khu đất đang có tranh chấp.
Ông Hương, ông Sơn có đề nghị Toà án không đưa các ông vào tham gia tố tụng,
giải quyết xét xử vắng mặt các ông.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ma Thị Nhung, Ma Thị Hoàn,
Ma Thị Sỵ (là cháu ngoại cụ Khoa, cụ Quyển), con đẻ bà Lương Thị Thâm trình
bày: Đối với nguồn gốc, diện tích đất hiện nay ông Lương Đình Nở anh
5
Nguyễn Văn Học đang tranh chấp theo các nắm được đất của ông Lương
Đình Nở, còn quá trình sử dụng diện tích đất trên do ai quản lý, sử dụng thì các
bà không nắm được. Trên đất có trồng cây chè, cây cọ, còn có các tài sản trên đất
khác hay không các không nắm được. Các tài sản cây trồng trên đất do
ông Lương Đình Nở trồng. Nay ông Nở khởi kiện về việc tranh chấp đất đai với
anh Học các bà không có ý kiến hay yêu cầu gì vì diện tích đất tranh chấp không
liên quan đến các bà, các đề nghị Toà án không đưa vào tham gia tố tụng
các bà không quyền lợi hay nghĩa vliên quan, các không yêu cầu độc
lập và đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, đồng thời bà
Nhung, bà Hoàn, bà Sỵ có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt các bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà
Giang (trước sáp nhập) trình bày: Việc cấp GCNQSDĐ cho anh Lương Văn Học,
UBND huyện Bắc Quang đã làm đúng quy định của pháp luật, tại thời điểm cấp
GCNQSDĐ đất không tranh chấp. Căn cứ pháp lý: Về thẩm quyền theo quy
định Điều 105 Luật đất đai; vhình thức theo quy định tại Kế hoạch số 80/KH-
UBND ngày 15/4/2013 của UBND tỉnh Giang; căn cứ, trình tự thủ tục cấp
GCNQSDĐ theo quy định tại Điều 97 Luật đất đai, khoản 1 Điều 76 của Nghị
định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ. UBND huyện Bắc Quang
không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng Nở, Viên về việc yêu cầu
huỷ một phần GCNQSDĐ của anh Học, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện Bắc Quang sau
sáp nhập: Chủ tịch UBND Hùng An, tỉnh Tuyên Quang trình bày: Đề nghị
TAND tỉnh Tuyên Quang căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải
quyết vụ án theo quy định của pháp luật; UBND Hùng An sẽ chấp hành nghiêm
khi bản án của Toà án hiệu lực. UBND xã Hùng An giữ nguyên quan điểm
trình bày của đại diện UBND huyện Bắc Quang (cũ), không nhất trí với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu huỷ GCNQSDĐ đã cấp cho bị đơn.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Hà
Giang (trước sáp nhp) xác định:
- Diện tích đất tranh chấp giữa hộ gia đình ông Lương Đình Nở, bà Hoàng
Thị Viên và anh Lương Văn Học nằm thôn Kim, xã Tiên Kiều, huyện Bắc
Quang, tỉnh Giang, giáp với tỉnh lộ 208 đường Vĩnh Hảo - Tiên Kiều - Việt
Hồng.
* Theo chỉ dẫn của anh Lương Văn Quảng là người đại diện theo uỷ quyền
của nguyên đơn xác định thửa đất tranh chấp có các vị trí tứ cận như sau:
+ Phía Đông giáp đt ao nhà anh Lương Văn Hc t đim 2 đến đim
9, có các kích thưc 10,6m + 8,2m + 15,8m + 7,1m + 14,5m + 2,2m + 6,1m;
+ Phía Tây và phía nam giáp đưng tnh l 208 đưng Vĩnh Ho - Tiên Kiu
- Vit Hng t đim 9 đến đim 1 có các kích thưc 6,9m + 5,0m + 19,1m
+19,5m; + Phía Bc giáp đt ông Lương Đình N từ đim 1 đến 2, kích thưc
67,1m.
Anh Lương Văn Quảng chỉ dẫn gồm 12 điểm, được đánh số thứ tự t1 đến
12 khép về 1, có tổng diện tích 1.782 m
2
.
6
* Theo chỉ dẫn của bị đơn anh Lương Văn Học khu vực đất tranh chấp nằm
trong GCNQSDĐ của anh Học trùng với các điểm anh Quảng chỉ dẫn gồm 12
điểm, được đánh số th từ t 1 đến 12 khép về 1. Ngoài ra phần đất theo
GCNQSDĐ không có tranh chấp anh Học không đề nghị đo đạc, xem xét.
- Tài sản gắn liền trên đất tranh chấp, gồm:
Do chỉ dẫn của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Quảng
bị đơn anh Học giống nhau nên xác định tài sản trên đất gồm có: 9 cây cam
sành D > 7cm (quả, đã xuống cấp) cao 3,5m; 160 cây tre gai D < 7cm; 03 cây cọ
cao 1-3m; 03 cây cọ cao 3,1-7m; 05 cây xoan D = 1,1-15m; 120 cây nứa D < 3cm;
02 cây núc nắc D = 15cm; 01 cây bồ đề D = 15cm; 01 cây màng tang D = 15cm;
Chè năng suất búp 2,1-3 tấn/ha= 1.599 m
2
(Tổng diện tích đất 1.782 m
2
- diện tích
đường mòn 183m
2
)
Theo Biên bn đnh giá Hội đồng định giá và các đương sự thống nhất:
- Về đất: Tại thời điểm định giá khu vực đất tranh chấp không việc
chuyển nhượng QSDĐ do vậy Hội đồng định giá căn cứ Quyết định số
28/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh Giang về ban hành
bảng giá đất chi tiết trên địa bàn giai đoạn 2020-2024; Quyết định số 31/2022/QĐ-
UBND ngày 20/12/2022 của UBND tỉnh Hà Giang quy định hệ số điều chỉnh giá
đất năm 2023 trên địa bàn tỉnh Giang để xác định giá trị quyền sử dụng đất
đang tranh chấp. Cụ thể: 1.782m
2
x 15.000 đ/m
2
x 1,0 (hệ số) = 26.730.000
đồng;
- Về tài sản trên đất: Lấy giá theo Quyết định 1354/QĐ-UBND ngày
10/7/2019 của UBND tỉnh Giang ban hành đơn giá bồi thường thiệt hại cây
trồng, vật nuôi thuỷ sản khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Giang,
tổng giá trị tài sản trên đất là 39.228.000 đồng.
Tổng giá trị đất, tài sản trên đất 26.730.000đ + 39.228.000đ =
65.958.000đ.
Tại buổi tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn ông Nở, bà
Viên bổ sung yêu cầu: Huỷ GCNQSDĐ của anh Học đối với diện tích đất
1.782m
2
đất theo như Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2023 Biên bản
định giá ngày 23/11/2023; đồng thời công nhận quyền sử dụng diện tích 1.782m
2
đất là của ông, bà.
Tại bản án dân sự số 02/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của TAND tỉnh Hà
Giang (trước sáp nhập) đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Đình Nở,
Hoàng Thị Viên.
- Hủy một phần GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện Bắc Quang
cấp ngày 29/12/2015 cho ông Lương Văn Học đối với diện tích đất 1.782m
2
thuộc
một phần thửa đất số 351, tờ bản đồ số 02 (được đánh số hiệu tại các điểm 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 khép về điểm 1). Anh Học có trách nhiệm liên hệ với
quan có thẩm quyền điều chỉnh diện tích đất tại GCNQSDĐ số BM 509047 do
UBND huyện Bắc Quang cấp ngày 29/12/2015.
7
Ủy ban nhân dân huyện Bắc Quang có trách nhiệm thu hồi GCNQSDĐ số
BM 509047 do UBND huyện Bắc Quang cấp ngày 29/12/2015 cho ông Lương
Văn Học để cấp đổi GCNQSDĐ hoặc điều chỉnh GCNQSDĐ cho ông Lương Văn
Học đối với diện tích thửa đất 351, tờ bản đồ số 02 đúng diện tích, đúng ranh giới
theo quy định của pháp luật.
- Tạm giao diện tích đất 1.782m
2
được đánh số hiệu tại các điểm 1, 2, 3, 4,
5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 khép về điểm 1 (có tứ cạnh tiếp giáp: Phía Đông giáp đất
ao nhà anh Lương Văn Học từ điểm 2 đến điểm 9, các kích thước 10,6m +
8,2m + 15,8m + 7,1m + 14,5m + 2,2m + 6,1m; Phía Tây và phía Nam giáp đường
tỉnh lộ 208 đường nh Hảo - Tiên Kiều - Việt Hồng từ điểm 9 đến điểm 1 có các
kích thước 6,9m + 5,0m + 19,1m + 19,5m; Phía Bắc giáp đất ông Lương Đình Nở
từ điểm 1 đến 2, kích thước 67,1m ) thuộc một phần thửa đất số 351, tờ bản đồ số
02 nằm trong GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện Bắc Quang cấp ngày
29/12/2015 mang tên ông Lương Văn Học, địa chỉ đất tại thôn Kim, xã Tiên Kiều,
huyện Bắc Quang, tỉnh Giang cho vợ chồng ông Lương Đình Nở, Hoàng
Thị Viên quản lý, sử dụng. (Có sơ đồ kèm theo).
Những người ng tha kế theo pháp luật của cụ Lương n Khoa c
Hng Thị Quyển có quyền chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra Bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí và quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không nhất trí với Bản án sơ thẩm, ngày 18/3/2024 bị đơn anh Lương Văn
Học có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét.
Tại Bản án phúc thẩm số 455/DS-PT ngày 23/8/2024 của TAND cấp cao
tại Hà Nội đã tuyên xử: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.
1. Huỷ Bản án dân sự thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của
TAND tỉnh Hà Giang. Giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Hà Giang giải quyết, xét
xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 07/11/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Giang đã thụ hồ ván dân
sự nói trên để giải quyết, xét xử lại theo thủ tục thẩm. Tiến hành thu thập bổ
sung tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Ngày 19/5/2025 Toà án nhân dân tỉnh Giang (trước sáp nhập) tiến nh
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải vụ án,
tuy nhiên do đại diện theo uỷ quyền người đại diện kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của nguyên đơn, anh ơng Văn Quảng; người đại diện theo uỷ quyền
của UBND huyện Bắc Quang (trước sáp nhập) vắng mặt, anh Quảng đơn xin
vắng mặt và đề nghị không tiến hành hoà giải, anh Học có mặt đề nghị Toà án tiến
hành phiên họp theo quy định. Do đó Toà án đã tiến hành công khai tài liệu, chứng
cứ cho bị đơn Lương Văn Học và Thông báo kết quphn họp cho các đương sự
vắng mặt được biết. Do nguyên đơn có đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải,
do đó vụ án thuộc trường hợp không tiến hành h giải được.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nở, bà Viên đồng thời là
người đại diện theo uỷ quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
8
của ông Nở, anh Lương Văn Quảng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc: Đề
nghị Toà án xem xét công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 1.782m
2
nay có địa chtại thôn Kim, xã Hùng An, tỉnh Tuyên Quang là của vợ chồng ông
Nở, Viên; Hủy một phần GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện Bắc
Quang cấp ngày 29/12/2015 cho anh Lương Văn Học đối với diện tích đất
1.782m
2
thuộc một phần thửa đất số 351, tờ bản đồ số 02 Tiên Kiều trước đây.
Bị đơn anh Lương Văn Học trình bày: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn ngun gc tha đt đang có tranh chp là ca
ông bà ni anh ông Khoa, bà Quyn đ li. B anh, ông Lương Văn Sen
(anh trai rut ca ông N) qun lý, s dng và đã chuyn quyn s dng
cho anh. Vic anh đã đưc cp GCNQSDĐ là hp pháp, đ ngh HĐXX
xem xét gii quyết theo quy đnh ca pháp lut.
Ngưi có quyn li, nghĩa v liên quan ông Lương Xuân Niên trình
bày: Đt đai do b m đ li, ông N và ông Sen đã chia nhau s dng và
đã đưc cp GCNQSDĐ các anh ch em không ai có ý kiến gì, nay anh Hc
đưc cp GCNQSDĐ đi vi phn din tích đt ông N đang s dng chưa
đưc cp giy cho ai, chưa đưc chia tha kế là không đúng, ông N cũng
đã chết nay anh Qung và anh Hc không thng nht đưc vi nhau thì đ
ngh Toà án gii quyết theo quy đnh ca pháp lut, ông không có ý kiến
gì.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang:
- Việc việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư
phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án: Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng theo
quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản
1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản
1 Điều 158; khoản 1 Điều 165; khoản 1 Điều 166 BLTTDS; khoản 4 Điều 32 của
Luật Tố tụng hành chính; Điều 100, Điều 101, 105 Luật Đất đai năm 2013; điểm
b tiểu mục 6.6 mục 6 phần I Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của
Bộ Tài nguyên Môi trường; Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí a
án. Đề nghị HĐXX:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Đình
Nở bà Hoàng Thị Viên: Huỷ GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện Bắc
Quang cấp ngày 29/12/2015 mang tên anh Lương Văn Học, diện tích 1.782m
2
đất
rừng sản xuất. Anh Lương n Học có trách nhiệm liên hệ với quan có thẩm
quyền điều chỉnh diện ch đất tại GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện
Bắc Quang cấp ngày 29/12/2015.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Lương Đình Nở và bà Hoàng Thị Viên về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng
9
diện tích đất tranh chấp 1.782m
2
của ông Nở, Viên. Tạm giao cho ông Lương
Đình Nở (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm bà Hoàng Thị Viên, anh
Lương Văn Hữu, anh Lương Văn Hải, chị Lương Thị Mai, anh Lương Văn Quảng,
chị Lương Thị Huế) Hoàng Thị Viên quản lý, sdụng diện tích 1.782m
2
,
đất rừng sản xuất nằm trong thửa số 351, tờ bản đồ số 2 thôn Kim, xã Tiên Kiều,
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang (nay là xã Hùng An, tỉnh Tuyên Quang).
Những người thừa kế theo pháp luật của cụ Lương Văn Khoa, cụ Hoàng
Thị Quyển có quyền chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
3. Về chi phí ttụng: Ông Nở, Viên phải chịu 3.035.000đ tiền chi phí
xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; anh Học phải chịu 3.035.000đ tiền
chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá i sản. Ông Nở đã nộp tạm ứng, do
đó buộc anh Học phải trả cho ông Nở, bà Viên số tiền 3.035.000đ.
4. Về án phí: Anh Học phải chịu 300.000đ án pDSST; trả lại cho ông
Nở, Viên số tiền tạm ứng án phí thẩm 300.000đ đã nộp theo Biên lai số
0000124, ngày 06/10/2023 tại Cục THADS tỉnh Giang (nay THADS tỉnh
Tuyên Quang).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ tranh chấp: Theo Đơn khởi kiện quá trình ttụng, nguyên
đơn ông Lương Đình Nở, bà Hoàng Thị Viên yêu cầu Tòa án công nhận diện tích
đất 1.782m
2
đất vườn rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông Nở;
yêu cầu huỷ một phần GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện Bắc Quang
(cũ) cấp ngày 29/12/2015 của anh Lương Văn Học đối với diện tích đất đang
tranh chấp. Vì vậy xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "Yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy một phần GCNQSDĐ", thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 9 Điều 26,
Điều 34, 37 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1
Điều 4 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao.
[2] Về việc vắng mặt những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh
Lương Văn Hữu, ông Lương Thanh Tâm (Tam), ông Ma Văn Hương, ông Ma
Văn Sơn, bà Ma Thị Nhung, bà Ma Thị Hoàn, bà Ma Thị S đại diện theo uỷ
quyền của Chủ tịch UBND Hùng An tại phiên toà: các đương sự đều đã đơn
đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt và đã có lời khai trong qtrình giải quyết v
án. Xét thấy, các đương sự vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xvụ án,
do vậy căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét
xử theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung: Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận diện
tích đất 1.782m
2
nằm
trong GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện Bắc
Quang cấp ngày 29/12/2015 cho anh Lương Văn Học của ông Nở, bà Viên. Xét
thấy:
[4] Ông Nở, bà Vn đu c đnh thửa đt có tranh chp có ngun gc của b
mông N đlại, tn đt có trng cọ, khi bmông Ncòn sng anh em ông N, ông
Sen cùng sử dụng chung. Sau khi b m ông N chết, ông N là người trc tiếp qun
10
lý, sử dng trng chè, trồng cam., gia đình ông Sen, anh Hc biết nng không tranh
chấp.
[5] Tạic Biên bn xác minh ông Lương Văn Cường (BL 121, 122), ông Đinh
Văn S (BL 125), ông Đng Vit Hùng (BL 123), là những ngưi sinh ra hin đang
sinh sng tại thôn Kim, nhng ni này cho biết: Nguồn gốc khu đất tranh chấp gia
ông Nở và anh Hc là của b m ông Nở ông Sen để lại. Khoảng trưc năm 2000
ông Nở chặt bỏ cđể trồng các loi y kc, ông Sen còn sng, biết rõ nng không
có ý kiến gì. Ông N đã canh tác, sử dụng n định, không tranh chp vi ai tđó đến
nay.
[6] Tại biên bn c minh ông Triu Văn Thu (BL 129), Trưởng tn Kim, xã
Tiên Kiu cho biết: Ông Thu sinh ra lnn ti thôn Kim, xác nhận v nguồn gốc khu
đất có tranh chp là của bố mẹ ông N để lại, khi bố m ông N còn sng, ông là
ni s dng đất cùng v chng ông Nở. Sau khi b mẹ ông Nở chết, v chng ông
Ntiếp tục s dụng khu đt, cht dn cđi, khong m 2012-2013 t ông N cho vợ
chồng anh Hu (con trai) trng c trên đất qun lý, s dụng n định, kng có tranh
chấp, Khong cuối năm 2020 có đoàn đo đc đất đến địa bàn xã Tiên Kiều, có đến đo
đạc khu vực đi chè của anh Hu thì pt hiện khu đt đã nằm trong GCNQS ca
anh Hc. Do không thoả thun được dn đến đu năm 2022 phát sinh tranh chp, tn
Kim và UBND xã Tn Kiều đã hoà giải nng kng thành. Trưc khi có tranh chp
năm 2022, thôn ca bao ginhn đưc đơn đngh gii quyết tranh chấp đt gia anh
Hc ông Nở.
[7] Tại Biên bản xác minh cán bộ địa chính Tiên Kiều (BL 132, 133,
134A) cung cấp: Năm 1998 trên địa bàn Tiên Kiều thực hiện khoanh vẽ, lp
bản đồ giải thửa, năm 2000 cấp GCNQSDĐ cho người dân, ông Nở được cấp
GCNQSDĐ tại thửa 55 với diện ch 20.800m
2
, ông Sen được cấp GCNQSDĐ tại
thửa 56 diện tích 28.160m
2
. Thửa đất tranh chấp không nằm trong thửa số 55
của ông Nở và thửa số 56 của ông Sen. Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp đất
đồi cọ, mmsử dụng chung của anh em ông Sen, ông Nở. Khoảng năm 2000,
phần đất tiếp giáp đường nhựa được ông Nở cho vợ chồng con trai (anh Hữu)
trồng cam, chè và sdụng từ đó đến nay. Gia đình anh Học chỉ chặt lá cọ trên đất
để làm nhà, không trồng cấy cây gì. Trước năm 2000, khu đất không được ai kê
khai cấp GCNQSDĐ. Năm 2004 trên địa bàn xã Tiên Kiều tổ chức đo vẽ bản đồ
địa chính, năm 2014 lập hồ sơ cấp đổi, cấp mới GCNQSDĐ, ông Sen đã tặng cho
anh Học đối với thửa số 56, anh Học được cấp GCNQSDĐ số BM 509047 ngày
29/12/2015. Khoảng năm 2022, xã nhận được Đơn đề nghị giải quyết tranh chấp
đất giữa ông Nở và anh Học, UBND xã đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
[8] Tại bản đồ giải thửa cán bộ địa chính Tiên Kiều cung cấp kèm
theo Biên bản xác minh (BL 134B) xác định: Diện tích đất đang tranh chấp
không nằm trong thửa số 56 của GCNQSDĐ số S044520 cấp ngày 15/12/2000
cho hộ gia đình ông Sen.
[9] Tại Biên bản lấy lời khai ông Lương Thanh Tâm (BL 135, 136), ông
Lương Xuân Niên (BL 154, 155) (là anh trai ruột của ông Nở), các ông đều cho
rằng khu đất tranh chấp của bố mẹ ông Nở, ông Sen để lại. Ông Tâm xác
nhận khu đất trên là di sản thừa kế của bmẹ ông để lại chưa được chia, ông Tâm
đề nghị huỷ một phần GCNQSDĐ của anh Học, tạm giao khu đất cho ông Nở
11
quản lý, sử dụng, anh em ông Tâm sẽ chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà ông Niên cũng đề nghị Toà án giải quyết, nhất trí đề nghị huỷ
GCNQSDĐ của anh Học để điều chỉnh lại diện tích đất được cấp không đúng và
đồng ý tạm giao cho gia đình ông Nở. Mặt khác anh Học cũng xác nhận diện tích
đất đang tranh chấp của ông nội anh (ông Khoa, bà Quyển) để lại, chưa được
chia thừa kế.
[10] Như vậy, từ những nhận định nêu trên, các đoạn từ [6], [7], [8], [9]
đủ căn cứ xác định diện tích 1.782m
2
đất đang tranh chấp là di sản thừa kế chưa
chia nên việc ông Lương Đình Nở, bà Hoàng Thị Viên yêu cầu công nhận quyền
sử dụng đất đối với diện tích đất 1.782m
2
nói trên là không có căn cứ.
[11] Thửa đt tranh chp nói trên cũng không nm trong GCNQSDĐ của hộ gia
đình ông Lương Văn Sen trưc đây n việc anh Học cho rằng tha đất tranh chp ca
ông Sen đã tặng cho anh Hc không có căn cứ.
[12] Xét thấy mặc thực tế vchồng ông Nở người đã sử dụng đất từ
năm 2000 đến nay, nhưng diện tích đất tranh chấp di sản thừa kế của bố mông
Nở để lại chưa được cấp GCNQSDD, các con của cụ Khoa và cụ Quyển hiện còn
sống (ông Tâm, ông Niên) cho rằng cụ Khoa cụ Quyển không để lại di chúc,
thửa đất chưa được chia thừa kế theo pháp luật. quan chuyên môn xác định
ranh giới đất chưa chính xác, không xác minh làm rõ diện tích đất của bố mẹ ông
Nở đlại nằm trong diện tích đất anh Học kê khai cấp GCNQSDĐ do ai khai phá,
sử dụng tình trạng thửa đất (có tranh chấp không) dẫn đến vic UBND huyện
Bắc Quang cấp GCNQS cho anh Học kng đúng ranh giới sử dụng đất thực tế.
Do khu đất là di sản thừa kế của bố mẹ ông Nở để lại chưa chia nên không có cơ
sở ng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đang tranh chp 1.782m
2
cho vợ chồng ông Nở, Viên. Do đó, cần tạm giao cho vợ chồng ông Nở qun lý,
sử dụng có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp lut.
[13] Theo Đơn trình y ý kiến của anh ơng Văn Học ơng Th
Đán có ý kiến về việc nguồn gốc thửa đất tranh chấp là của ông bà nội anh Học để
lại chưa chia thừa kế, đề nghị Tán xem t giải quyết chia thừa kế đối với
10.000m
2
đất theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên q trình giải quyết anh Học
không thực hiện thủ tc phản tố, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cậnng
khai chứng cngày 19/5/2025 anh Học ý kiến "i không u cầu phản tố,
nếu quyền lợi của tôi kng đưc bảo đảm thì tôi sẽ khởi kin yêu cầu chia thừa kế
đối vi tài sản là tn bộ đất đai ông bà tôi để lại ca được chia mà hiện nay ông
Nở, Viên, anh Hữu, anh Hải đang quản , sử dụng". Do đó không thuộc phạm vi
khởi kin của nguyên đơn, XX không xem t, giải quyết căn cứ.
[14] V vic triu tập người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ma Th
Nhung, Ma Th Hoàn, Ma Th S: Ngày 17/3/2025, Tòa án nhân dân tỉnh
Giang (trước sáp nhập) đã uỷ thác thu thập chứng cứ cho Toà án nhân dân huyện
Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (cũ) thực hiện tống đạt hợp lệ lấy lời khai đối với
Ma ThNhung, Ma Thị Hoàn, Ma Thị S. Tại các biên bản lấy lời khai ngày
22 25/4/2025 Sỵ, Nhung, Hoàn đều khẳng định nguồn gốc sử dụng
đất của ông Nở, còn quá trình sử dụng diện tích đất do ai người quản , sử
dụng thì các bà không nắm được. Các tài sản cây trồng trên đất như cây chè,
cây cọdo ông Nở trồng. Bà Nhung, bà S, bà Hoàn đều không ý kiến gì đối
12
với diện tích đất đang tranh chấp giữa ông Nở anh Học, đề nghị Toà án
không triệu tập đến Toà án làm việc các bà không quyền lợi, nghĩa vụ gì liên
quan, đồng thời đơn xin xét xử vắng mặt (BL 334 đến BL 352).
[15] V vic gii quyết đối vi các tài sản trên đất: Theo Biên bn xem xét
thẩm định ti ch ngày 23/11/2023 th hin trên din tích đất tranh chp có cáci
sản như sau: 9 cây cam sành D > 7cm (quả, đã xuống cấp) cao 3,5m; 160 cây tre
gai D < 7cm; 03 cây cọ cao 1 - 3m; 03 cây cọ cao 3,1 - 7m; 05 cây xoan D = 1,1
- 15m; 120 cây nứa D < 3cm; 02 cây núc nắc D = 15cm; 01 cây bồ đề D = 15cm;
01 cây màng tang D = 15cm; Chè năng suất búp 2,1 - 3 tấn/ha = 1.599m
2
. Theo
Biên bản định giá cùng ngày thì i sản trên đất giá tr 39.228.000đ. Các đương
s đều xác nhn các cây cối trên đất do ông N trng, cây chè do anh Hu
trng. Ti phiên toà anh Học cũng không ý kiến gì v vic gii quyết phn tài
sản trên đất. Mt khác quá trình gii quyết v án nhng người có quyn lợi, nghĩa
v liên quan đã nhận được Thông báo v vic thv án của Tòa án, được Toà
án triu tp làm vic. Tuy nhiên không ai có ý kiến, u cu gì v vic gii quyết
đối vi tài sn là cây trồng trên đất, không đề ngha án xem xét, gii quyết ni
dung này. Do đó cần xác định tài sn cây trng trên đất thuc quyn qun lý, s
dng của gia đình ông N.
[16] Đối với yêu cầu về việc hủy một phần GCNQSDĐ số BM 509047 do
UBND huyện Bắc Quang cấp ngày 29/12/2015 cho anh Lương Văn Học, diện
tích 1.782 m
2
đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa 351, tờ bản đồ số 2 thôn Kim, xã
Tiên Kiều, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Xét thấy:
[17] Về thẩm quyền cấp GCNQSDĐ: GCNQSDĐ cấp tông Lương Văn
Sen sang tên anh Lương Văn Học thuộc trường hợp cấp đổi, theo Quyết định số
4558/QĐ-UBND, ngày 29/12/2015 của UBND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
(trước sáp nhập). Việc UBND huyện Bắc Quang (cũ) đã cấp GCNQSDĐ số BM
50904, ngày 29/12/2015 mang tên Lương Văn Học sai thẩm quyền theo quy
định tại khoản 3 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013, Điều 37 Nghị định s
43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính Phủ.
[18] Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ: Theo GCNQSDĐ của anh Lương
Văn Học, sơ đồ thửa đất số 351có ranh giới: Phía Đông giáp thửa 341, thửa 352,
thửa 362; Phía Tây giáp thửa 340. Căn cứ báo cáo số 164/BC-UBND, ngày
20/3/2023 của UBND xã Tiên Kiều thì thửa 340 có diện tích 14.495m
2
là đất đồi
cọ hiện do gia đình anh Lương Văn Hữu đang sử dụng trồng chè. Theo Biên bản
xác định ranh giới, mốc giới thửa đất của anh Lương Văn Học lập ngày 16/4/2014
(BL 62) chỉ chữ giáp ranh của ông Đào Văn Sơn (chủ sử dụng thửa đất 341),
Nguyễn Thị Vân (chủ sử dụng thửa đất 352), không chữ giáp ranh của
các hộ còn lại, trong đó gia đình ông Nở cụ thể anh Lương Văn Hữu (con
trai ông Nở) đang sử dụng trồng chè thửa đất 340 là chưa chính xác, dẫn đến
cấp cả phần đất của hai cụ để lại chưa được các đồng thừa kế thoả thuận chia cho
ai, chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 76 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính Phủ và điểm b tiểu mục 6.6, mục 6 phàn I của Thông tư số
09/2007/TT-BTNMT hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
[19] Từ nhận định nêu trên, đoạn từ [17], [18] thấy rằng: Việc UBND huyện
Bắc Quang cấp GCNQSDĐ cho anh Học không đúng thẩm quyền, không đúng
13
trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Do đó, yêu cầu của ông Nở, bà Viên
về việc hủy một phần GCNQSDĐ số BM 509047, UBND huyện Bắc Quang cấp
ngày 29/12/2015 cho anh Lương Văn Học đối với phần diện tích đất 1.782m
2
thuộc một phần thửa đất số 351, tờ bản đsố 02 Tiên Kiều, huyện Bắc Quang,
tỉnh Hà Giang (cũ) là có cơ sở, cần chấp nhận.
[20] Tuy nhiên, căn cứ quy định tại Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự HĐXX
xét thấy cần phải hủy toàn bộ GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện Bắc
Quang cấp ngày 29/12/2015 cho anh Lương Văn Học; đề nghị cơ quan nhà nước
thẩm quyền thực hiện việc cấp lại GCNQSDĐ cho anh Học theo đúng ranh
giới, hiện trạng, diện tích sdụng đất thực tế, đảm bảo đúng quy định của pháp
luật.
[21] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang
tại phiên toà về việc giải quyết vụ án căn cứ, phù hợp với nhận định của
HĐXX nên chấp nhận.
[22] Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ
định giá tài sản ngày 23/11/2023 6.070.000đ ông Nở đã nộp trước. Xét thấy
yêu cầu khởi kiện của ông Nở, bà Viên được chấp nhận một phần, do đó ông Nở,
Viên phải chịu 1/2 số tiền chi phí tố tụng là 3.025.000đ; bị đơn anh Lương Văn
Học phải chịu 1/2 số tiền chi phí tố tụng là 3.025.000đ. Ông Nở đã nộp tạm ứng
trước, do đó cần buộc anh Học phải trả cho ông Nở, bà Viên số tiền 3.025.000đ.
[23] Về án phí: Bị đơn anh Lương Văn Học phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật. Ông Nở, bà Viên được trả lại số tiền tạm ứng án phí
đã nộp.
[24] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản
1 Điều 38; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều
165; khoản 1 Điều 166 BLTTDS; khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính;
Điều 100, Điều 101, 105 Luật Đất đai năm 2013; điểm b tiểu mục 6.6 mục 6 phần
I Thông 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ i nguyên Môi
trường; Điều 37 Nghị định s43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Đình Nở,
Hoàng Thị Viên.
- Hủy GCNQSDĐ sBM 509047 do UBND huyện Bắc Quang, tỉnh
Giang (trước sáp nhập) cấp ngày 29/12/2015 cho anh Lương Văn Học, đối vi
diện tích đất 1.782m
2
thuộc một phần thửa đất số 351, tờ bản đồ s02 Tiên
Kiều, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang (nay là xã Hùng An, tỉnh Tuyên Quang).
Anh Lương Văn Học có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước thẩm
quyền điều chỉnh diện tích đất tại GCNQSDĐ số BM 509047 do UBND huyện
14
Bắc Quang, tỉnh Hà Giang (trước sáp nhập) cấp ngày 29/12/2015 để được cấp lại
GCNQSDĐ theo đúng ranh giới, hiện trạng, diện tích sử dụng đất thực tế.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Đình Nở,
bà Hoàng Thị Viên về việc yêu cầu công nhận 1.782m
2
đất thuộc quyền quản lý,
sử dụng của ông Nở, bà Viên.
- Tạm giao diện tích đất 1.782m
2
đất rừng sản xuất được đánh số hiệu tại
các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 khép về điểm 1 (có vị trí: Phía Đông
giáp đất ao nhà anh Lương Văn Học từ điểm 2 đến điểm 9, các kích thước
10,6m + 8,2m + 15,8m + 7,1m + 14,5m + 2,2m + 6,1m; Phía Tây phía Nam
giáp đường tỉnh lộ 208 đường Vĩnh Hảo - Tiên Kiều - Việt Hồng từ điểm 9 đến
điểm 1 các kích thước 6,9m + 5,0m + 19,1m + 19,5m; Phía Bắc giáp đất ông
Lương Đình Nở từ điểm 1 đến 2, kích thước 67,1m ) thuộc một phần thửa đất số
351, tờ bản đồ số 02 thôn Kim, xã Tiên Kiều, huyện Bắc Quang , tỉnh Giang
(nay là thôn Kim, Hùng An, tỉnh Tuyên Quang) nằm trong GCNQSDĐ số BM
509047 do UBND huyện Bắc Quang (cũ) cấp ngày 29/12/2015 mang tên Lương
Văn Học cho ông Lương Đình Nở (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
Viên, anh Hữu, anh Hải, chị Mai, anh Quảng, chị Huế) Hoàng Thị Viên
quản lý, sử dụng. (Có sơ đồ thửa đất kèm theo).
Những người ng thừa kế theo pháp luật của cụ ơng Văn Khoa cụ
Hng Thị Quyển có quyền chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Lương Đình Nở, bà Hoàng Thị Viên phải chịu
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi pđịnh giá tài sản 3.035.000đ (Ba triệu
không trăm ba lăm nghìn đồng), ông Nở đã thanh toán xong.
Buộc anh Lương Văn Học phải trả cho ông Lương Đình Nở, Hoàng Thị
Viên số tiền 3.035.000đ (Ba triệu không trăm ba lăm nghìn đồng) tiền chi phí tố
tụng ông Nở đã nộp tạm ứng (người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng bà Viên,
anh Hữu, anh Hải, chị Mai, anh Quảng, chị Huế).
Kể từ ngày Đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357
Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Anh Lương Văn Học phải chịu án phí dân sự thẩm
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Trả lại ông Lương Đình Nở (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà
Viên, anh Hữu, anh Hải, chị Mai, anh Quảng, chị Huế), số tiền tạm ứng án phí
thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000124,
ngày 06/10/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Giang (Nay là Thi hành án
dân sự tỉnh Tuyên Quang).
5. V quyền kng cáo: Án xử công khai sơ thm có mt bà Viên, anh Hc, anh
Qung, ông Nn có quyền kháng o Bn án trong hạn 15 ngày ktừ ngày tuyên án;
Những ni có quyn li, nga vụ liên quan: Chtch UBND xã Hùng An,
anh Hu, ch Mai, anh Quảng, chị Huế, bà Đán, ông Tâm, Nhung, bà Hoàn, bà S,
ông n, ông Hương vng mt, có quyn kháng cáo Bản án trong hn 15 ny k từ
ngày k từ ny nhận được Bản án hoặc kể từ ny bản án được niêm yết.
15
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật
thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh;
- THADS tỉnh;
- Các đương sự (theo đa chỉ);
- Lưu hồ sơ, HCTP, Toà DS, P.GĐKT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Mỹ Lệ
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hồ Như Thiêm Bàn Thị Ba
Vũ Mỹ Lệ
Tải về
Bản án số 25/2025/DS-ST Bản án số 25/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 25/2025/DS-ST Bản án số 25/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất