Bản án số 247/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TAND tỉnh Ninh Thuận về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 247/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 247/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TAND tỉnh Ninh Thuận về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Thuận
Số hiệu: 247/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thỏa thuận hứa chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 247/2025/DS-PT
Ngày: 31 - 12 2025
V/v Tranh chấp thỏa thuận
hứa chuyển nhượng quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông ng Lâm Viên
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Dịu
Ông Trần Minh Thật
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Trung Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh a: Thị Thái Bình
- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử
phúc thẩm ng khai vụ án dân sthụ số 190/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng
10 năm 2025. Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 260/2025/QĐ-PT ngày
10 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hạnh N, sinh năm 1995; có mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường B, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyn Nht T, sinh
năm 1996; vắng mặt
Địa chỉ: Thôn T, phường C, tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn
Hiếu N1 - Công ty L công sự - Chi nhánh thành phố H thuộc Đoàn Luật
thành ph H. Vắng mặt
- Bị đơn:
+ Ông Nguyễn Hiếu N1, sinh năm 1972 có mặt
+ Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1972; có mặt
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
- Bà Võ Thị Nhật H, sinh năm 1997 có mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk.
- Bà Võ Thị Bích T1, sinh năm 2002 có mặt
Địa chỉ: Ô Lô A H, phường N, tỉnh Khánh Hòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1994; có mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của ông A:
- Ông Nguyễn Phúc H1, sinh năm 2001 có mặt
Địa chỉ: 102/11/10 C, phường B, tỉnh Khánh Hòa
- Bà Võ Thị Nhật H, sinh năm 1997 có mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường H , tỉnh Đắk Lắk.
+ Ông Huỳnh Việt B, sinh năm 1992; có mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường B, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa nguyên đơn
Nguyễn Thị Hạnh N trình bày:
Do quen biết bạn chơi thân với anh Nguyễn Ngọc A nên qua
trao đổi vấn từ anh ấy, tôi đã đồng ý nhận chuyn nhượng mt phần diện
tích đất của ông Nguyễn Hiểu N2 bà Nguyễn Thị K (là bố mruột của ông
Nguyễn Ngọc A). Theo đó, ông N2 K đồng ý chuyển nhượng cho tôi một
phần dất diện tích 183,0 m
2
thuộc: Thửa đất số: 137 - TBĐ: 14; Địa chỉ: Tổ dân
phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa: Trên tổng diện tích: 376,4 m
2
;
Theo GCNQSDĐ số CP 981056, số vào số cấp GCN: CH03271 do UBND thành
phố C cấp ngày 20/02/2019 cấp cho ông Nguyễn Hiếu N1 bà Nguyễn Thị K.
Hứa sau khi thoả thuận tại Văn phòng Thừa phát lại ông N1 và bà K sẽ chuyển
nhượng và sang tên cho tôi, thửa đất này không bị quy hoạch, sau khi mua sẽ
sang tên giấy chứng nhận quyền sử dng đất bình thường. Ngày 20/4/2022 tôi và
ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K đã kết Thỏa thuận hứa chuyển nhượng
tài sản một phần thửa đất như đã nêu trên với giá 1.800.000.000 dồng (Một
tỷ tám trăm triệu dồng) tôi cam kết sẽ chuyển khoản đủ stiền này vào ngày
21/4/2022 trước sự chứng kiến của Thừa phát lại.
Đến ngày 21/4/2022, tôi ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K, ông
Nguyễn Ngọc A đến Văn phòng Thừa phát lại lập bằng ghi nhận việc tôi
chuyển khoản số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tấm trăm triệu đồng) vào i
khoản số "332018889999" tại Ngân hàng Q (Ngân hàng M) mang tên "NGUYÊN
NGOC ANH" qua 04 lệnh chuyển tiền, mỗi lệnh tôi chuyển 450.000.000 đồng
(B1 trăm năm mươi triệu đồng) được ông N1, K, ông Ngọc A xác nhận
trong Vi Bằng.
Toàn bộ quá trình kể trên được n phòng T4 ghi nhận lập thành V
bằng số: 306/2022/VB-TPL KH, được các bên liên quan cùng thống nhất ký tên,
điểm chỉ vào văn bản vào ngày 25/4/2022.
Tuy nhiên, sau khi kết Thỏa thuận hứa chuyn nhượng tài sản hoàn
thành việc thanh toán tiền được ghi nhận bằng Vi bằng số: 306/2022/VB-TPLKH,
tôi mới biết phần đất ông N1, bà K chuyển nhượng cho tôi đất trồng y lâu
năm thuộc phần đất được quy hoạch, không thể thực hiện tách thửa, tách sổ,
do đó ảnh hưởng đến mục đích sử dụng của tôi rất nhiều, tôi không thể thực hiện
thủ tục cấp GCN QSDD. Mặc dù tôi đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông N1, bà K
phải ra Văn phòng công chứng hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất
theo quy dịnh của pháp luật nhưng ông không đồng ý ng không đồng ý
hủy Thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản đã ký và trả lại số tiền 1.800.000.000
đồng cho tôi.
Yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
1. Tuyên vô hiệu văn bản Thỏa thuận hứa chuyn nhượng tài sản ký ngày
20/4/2022 giữa bà N và ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K được lập tại Tố
Dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
2. Buộc ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K ông Nguyễn Ngọc A
liên dới trả lại cho nguyên đơn số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu
đông).
Trong quá trình giải quyết ván tại phiên tòa b đơn người đại
diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Thửa đất số 137, tờ bản đồ số 14 Giấy chứng nhận quyền sdụng đất s
CP 981056, số vào số cấp GCN: CH 03271 do UBND thành phố C cấp ngày
20/02/2019 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Hiếu N1 bà Nguyễn Thị K.
Vợ chồng bà Nguyễn Thị Hạnh N có mối quan hệ bạn bè thân thiết với vợ chồng
ông Nguyễn Ngọc A (con trai ruột của ông N1, K). Vì nhu cầu nhận chuyển
nhượng một phần thửa đất trên nên N đã nhờ ông A đưa đến gặp cha mẹ ông
A tức ông N1, K đ thương lượng về việc chuyển nhượng. Ông N1, K
thương con nghĩ đến quan hệ bạn của con nên đã đồng ý chuyển nhượng
một phần thửa đất trên cho bà N. Thời điểm chuyển nhượng do chưa đủ điều kiện
tách thửa nên hai bên đã tiến hành ký kết văn bản Thỏa thuận hứa chuyển nhượng
tài sản. Cụ thể, vào ngày 20/04/2022, ông Nguyễn Hiếu N1, bà Nguyễn Thị K
cùng với Nguyễn Thị Hạnh N ký kết văn bản thỏa thuận hứa chuyển nhượng
tài sản đối với một phần thửa đất số 137, tờ bản đồ số 14 tại địa chỉ tổ dân phố P,
phường C, thành phố C, Khánh Hòa dựa trên ý chí tự nguyện của hai bên. Trong
đó, ông N1bà K cam kết sẽ thực hiện chuyển nhượng và bà N sẽ nhận chuyển
nhượng đối với đất được đánh số 137-1 có diện tích rộng 183m
2
theo Phiếu xác
nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất lập bởi Công ty TNHH do đạc bản đồ
tư vấn bất động sản Cam Ranh ngày 20/4/2022 với giá chuyển nhượng
1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng).
Sau khi thống nhất, hai bên đã cùng nhau lập Vi bằng số 306/2022/VB-
TPLKII ngày 21/04/2022 ti n phòng T4 để thực hiện hoạt động mua bán, bàn
giao đất và tiền. Sau đó, bà N cũng đã sử dụng Vi bằng này để thực hiện các hợp
đồng vay tiền bên ngoài, điều này chứng minh bà N đã xác nhận rằng bà N đã là
chủ sở hữu của thửa đất trên.
Từ thời điểm cả hai bên chuyển nhượng thửa đất đến hiện tại đã trải qua
một thời gian dài, phía N đã sử dụng được hưởng các hoa lợi từ thửa đất
này. Bà N cũng thực hiện cải tạo, can thiệp vào hiện trạng của thửa đất như dựng
cột, xây hàng rào lưới, trồng và chặt các cây trồng trên thửa đất trên.
Vậy, hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của mình theo Thỏa
thuận hứa chuyển nhượng tài sản trên. Ông N1, K không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, do không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn nên bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc A trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 137, tờ bản đồ số 14 có Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CP 981056, svào số cấp GCN: CH 03271 do UBND thành phố C
cấp ngày 20/02/2019 thuộc quyền sử dụng quản của cha mẹ ông A là ông
Nguyễn Hiếu N1 và bà Nguyễn Thị K. Vợ chồng bà Nguyễn Thị Hạnh N có mối
quan hệ bạn bè thân thiết với vợ chồng ông Nguyễn Ngọc A.
nhu cầu nhận chuyển nhượng một phần thửa đất trên nên N đã nhờ
ông A đưa đến gặp cha mẹ ông A để thương lượng về việc chuyn nhượng. Ba
mẹ ông A, tức ông N1K quan hệ bạn bè của con nên đã đồng ý chuyn
nhượng một phần thửa đất trên cho bà N. Thời điểm chuyển nhượng chưa đủ
điều kiện tách thửa nên hai bên đã tiến hành kết văn bản Thỏa thuận hứa chuyển
nhượng tài sản.
Cụ thể, vào ngày 20/04/2022, ba mông A ông Nguyễn Hiếu N1,
Nguyễn Thị K cùng với bà Nguyễn Thị Hạnh N kết văn bản thoả thuận hứa
chuyển nhượng tài sản đối với một phần thửa đất số 137, tờ bản đồ số 14 tại địa
chỉ tổ dân phố P, phường C, thành phố C, Khánh Hòa dựa trên ý chí tự nguyện
của hai bên. Trong đó, ông N1 K cam kết sẽ thực hiện chuyển nhượng
bà N sẽ nhận chuyển nhượng đối với đất được đánh số 137-1 có diện tích rộng
183m
2
theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất lập bởi Công ty
TNHH Đ ngày 20/4/2022 với giá chuyển nhượng là 1.800.000.000 đồng (Một tỷ
tám trăm triệu đồng).
Sau đó, hai bên đã cùng nhau lập Vi bằng số 306/2022/VB-TPL KII ngày
21/04/2022 tại n phòng T4 thể hiện việc hai bên cùng nhau thực hiện
giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Phía N đã tr đủ 1.800.000.000
đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng) và phía ông N1, bà K bàn giao lại toàn quyền
sử dụng, quản lý thửa đất này cho K. Trong qtrình thực hiện Vi băng trên
hai bên đều hoàn toàn tự nguyện, không bị đe đọa, ép buộc.
Từ thời điểm cả hai bên chuyển nhượng thửa đất đến hiện tại đã trải qua
một thời gian dài, phía N đã sử dụng được hưởng các hoa lợi từ thửa đất
này. Bà N cũng thực hiện cải tạo, can thiệp vào hiện trạng của tha đất như dựng
cột, xây hàng rào lưới, trồng và chặt các cây trông trên thửa đất trên. Ông không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên dơn, không u cầu Tòa án giải quyết
hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Việt B trình bày:
Do quen biết bạn chơi thân với anh Nguyễn Ngọc A nên qua
trao đổi vấn từ anh ấy, vợ chồng ông đã đồng ý nhận chuyển nhượng một
phần diện tích đất của ông Nguyễn Hiếu N1 Nguyễn Thị K (là bố mẹ ruột
của ông Nguyễn Ngọc A). Theo đó, ông N1 K đồng ý chuyn nhượng cho
vợ chồng ông một phần dất diện tích 183,0m thuộc: Thửa đất số: 137 - TBD:
14; Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, trên tổng
diện tích: 376,4 m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu n
và tài sản khác gắn liền với đất số CP 981056, số vào sổ cấp GCN: CH03271 do
UBND thành phố C cấp ngày 20/02/2019 cấp cho ông Nguyễn Hiếu N1
Nguyễn Thị K. Hứa sau khi ký thỏa thuận tại Văn phòng Thừa phát lại ông N1
K schuyển nhượng sang tên cho vợ ông bà Nguyễn Thị Hạnh N, thửa
đất này không bị quy hoạch, sau khi vchồng ông mua sẽ sang tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất bình thường.
Ngày 20/4/2022 vợ ông ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K đã
kết Thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản một phần thửa đất như đã nêu trên
với giá 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng) vợ ông cam kết sẽ
chuyển khoản đủ số tiền này vào ngày 21/4/2022 trước sự chứng kiến của Thừa
phát lại. Đến ngày 21/4/2022, vợ ông và ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K,
ông Nguyễn Ngọc A đến Văn phòng Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận việc
vợ ông chuyển khoản số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tỷ m trăm triệu đồng)
vào tài khoản số 332018889999 ti Ngân hàng Q (Ngân hàng M) mang tên
NGUYEN NGOC ANH qua 04 lệnh chuyển tiền, mỗi lệnh N chuyển
450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu dồng) dược ông N1, K, ông
Ngọc A xác nhận trong Vi bằng toàn bquá trình kế trên được Văn phòng T4 ghi
nhận lập thành Vi bằng số: 306/2022/VB-TPLKI1, được các bên liên quan
cùng thống nhất tên, điểm chỉ vào văn bản ngày 25/4/2022. Tuy nhiên, sau khi
ký kết Thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản và hoàn thành việc thanh toán tiền
được ghi nhận bằng Vi bằng số: 306/2022/VB-TPLKI1, vợ chồng ông mới biết
phần đất ông N1, bà K chuyển nhượng cho vợ chồng ông là "đất trồng cây lâu
năm và thuộc phần đất được quy hoạch, không thể thực hiện tách thửa, tách sổ do
đó ảnh hưởng đến mc đích sử dụng của vợ chồng ông rất nhiều, vợ chồng ông
không thể thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặc dù vợ
chồng ông đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông N1, bà K phải ra Văn phòng công
chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật nhưng ông không đồng ý cũng không đồng ý hủy Thỏa thuận hứa
chuyển nhượng tài sản đã trả lại số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám
trăm triệu đồng) cho vợ chồng ông. Vì vậy, ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng T4 trình này: Nội dung
của Vi bằng thể hiện buổi làm việc giữa các chủ thể tham gia theo yêu cầu của bà
Nguyễn Thị Hạnh N, ghi nhận hành vi các bên thực hiện việc giao nhận tiền
các giấy tờ liên quan tới giao dịch dân sự về tài sản các bên đã thỏa thuận,
thống nhất xác lập trước đó; và Thỏa thuận đó là căn cứ để các bên thực hiện
tiếp việc giao nhận tiền giấy tờ ới sự chứng kiến của Thừa phát lại. Trong
quá trình lập Vi bằng, những gì mà Thừa phát lại chứng kiến ghi nhận thì đã
thể hiện sự kiện các bên tham gia vào buổi làm việc là tự nguyn, có đủ năng lực
hành vi dân sự, không có sự ỡng ép hay đe doạ, hay bị tác động bởi bên thứ ba
nào khác. Ngoài ra trong suốt quá trình thực hiện hành vi giao nhận tiền giấy
tờ, Thừa phát lại không chứng kiến và ghi nhận được dấu hiệu nào có sự tác động
của bất kỳ ai làm cho các chủ thể tham gia buổi làm việc thể hiện sự nhầm lẫn, sai
sót hay bị lừa dối. n phòng T4 xin được vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử
vụ án.
Người làm chứng Nguyễn Thị Huỳnh N3 trình bày: với nguyên
đơn Nguyn Th Hnh N mối quan hquen biết nhau. Vào ngày 22/04/2022,
bà N và chồng là ông Huỳnh Việt B liên hệ với bà để ợn số tiền
1.000.000.000 đồng (Một tỷ dồng). Vì là chỗ quen biết, bà đồng ý cho vợ chồng
N ợn số tiền trên cả hai bên thống nhất làm một Hợp đồng cho mượn
tiền ghi ngày 22/04/2022. Đđảm bảo cho việc mượn tiền, N đã sử dụng Vi
bằng liên quan thửa đất 137/1 (là thửa đất được N hứa nhận chuyển nhượng
trong Hợp đồng thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản của vụ án này) đlàm biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng cho mượn tiền. Đồng
thời, N cũng cam kết rằng nếu N không thực việc trả tiền đúng theo thỏa
thuận trong Hợp đồng cho mượn tiền thì được quyền phát mãi thửa đất này.
Việc N sdụng Vi bằng liên quan thửa đất 137-1 để bảo đảm cho Hợp đồng
giao dịch với bà đã chứng minh được rằng bà N đã có ý chí cho rằng thửa đt này
đã thuộc quyền sử dụng quản của bà N nên N toàn quyền định đoạt
đối với thửa đất này.
Người làm chứng ông Nguyên Đức T2 ông Trương Đức T3 cùng
trình bày:
Ông T2, ông T3, ông Huỳnh Việt B ông Nguyễn Ngọc A - người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự này có quen biết nhau và cùng
tham gia một nhóm tin nhắn trên nền tảng zalo về môi giới bất động sản. Ban đầu,
qua tin nhắn trên nhóm zalo và các thông tin trên mạng xã hội, các ông được biết
bà N là vợ của ông B có mua một phần thửa đất số 137 tờ bản đồ số 14 có địa ch
tại tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa từ cha mông A vào
tháng 4 năm 2022. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông B trao đổi với các ông
một số thành viên khác trong nhóm zalo về việc tìm khách mua thửa đất nêu trên,
N nhu cầu chuyển nhượng lại thửa đất trên với giá 2.500.000.000 đồng (Hai
tỷ năm trăm triệu đồng). Sau đó, chúng tôi ông B, ông A một người bạn
trong nhóm zalo môi giới đất vài lần gặp nhau tại quán cà pđ trao đổi về
việc môi giới chuyển nhượng thửa đất trên. Thời điểm đó thấy gkhông phù
hợp và không thống nhất được phương án nên không tiếp tục thực hiện việc môi
giới chuyển nhượng thửa đất trên cho bà N vợ ông B nữa.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tuyên văn bản
hứa chuyển nhượng tài sản hiệu buộc bị đơn phải hoàn trả lại số tiền
1.800.000.000 đồng; bổ sung yêu cầu khởi kiện: Trong trường hợp Toà án không
tuyên văn bản hứa chuyên nhượng tài sản hiệu thì đề nghị tuyên hủy văn bản
hứa chuyển nhượng tài sản và giải quyết hậu quả của hủy văn bản này như trường
hợp yêu cầu tuyên vô hiệu.
- Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không
yêu cầu Toà giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc A thống nhất
với ý kiên đã trình bày của bị đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Việt B thông nhất với
ý kiến đã trình này của nguyên đơn.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản án sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2025 của Toà
án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa đã tuyên:
- Các Điều 26, 35, 39, 92, 93, 147, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân
sự;
- Các khoản 2 Điều 3, Điều 117, 122, 123, 126, 127 Bộ luật dân sự năm
2015;
- Các Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UB TUQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ thể như
sau:
- Không chấp nhận yêu cầu: Tuyên hiệu hoặc tuyên hủy văn bản Thỏa
thuận hứa chuyển nhượng tài sản ký ngày 20/4/2022 giữa nguyên đơn Nguyn
Th Hnh N với bị đơn ông Nguyn Hiếu N1, bà Nguyễn Thị K.
- Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K
ông Nguyễn Ngọc A liên đới trả lại số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám
trăm triệu đồng).
2. Án phí:
Nguyên đơn Nguyn Th Hnh N phải chịu án pdân sự thẩm là:
66.300.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào s
tiền 33.300.000 đồng (Ba mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí a án số 0001800 ngày 31/3/2025 của Chi Cục Thi hành án
dân sự thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2
- Khánh Hòa). Như vậy, N còn phải nộp 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu
đồng) tiền án p dân sự sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyn Th Hnh N phải chịu số tiền
chi phí tố tụng về việc xem xét thẩm định tại chỗ là 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba
trăm nghìn đng). Bà N đã nộp dủ.
Ngày 30 tháng 7 năm 2025, Nguyễn Thị Hạnh N nguyên đơn kháng
cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
bản án dân sự thẩm theo ớng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến
về việc giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xtuân thủ quy định về tố tụng trước khi
mở phiên tòa và tại phiên tòa phúc thẩm. Kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hạnh N
trong thời hạn, hợp lệ nên được xem xét giải quyết.
- Quan điểm giải quyết:
+ Thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản được lập ngày 20/4/2022, giữa
bên chuyển nhượng là vợ chồng ông Nguyễn Hiếu N1, bà Nguyễn Thị K với bên
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là bà Nguyễn Thị Hạnh N. Bà N đã thực
hiện xong nghĩa vụ giao 1.800.000.000đ cho vợ chồng ông N1, K thông qua
tài khoản của con ruột vợ chồng ông N1, bà K là ông Nguyễn Ngọc A. Vợ chồng
ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K không thực hiện được nghĩa vụ tách thửa
để chuyển quyền sang tên phần diện tích đất cam kết chuyển nhượng cho
Nguyễn Thị Hạnh N toàn bộ thửa đất bị quy hoạch làm đường giao thông
không đủ điều kiện để tách thửa nên đối tượng của hợp đồng các bên xác lập
không thể thực hiện được.
+ Tòa án cấp thẩm công nhận thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản
được lập ngày 20/4/2022 không đúng, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của
bà N. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà
Nguyễn Thị Hạnh N, buộc vợ chồng ông Nguyễn Hiếu N1, bà Nguyễn Thị K cùng
ông Nguyễn Ngọc A có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Hạnh N số
tiền 1.800.000.000đ đồng thời tuyên hiệu thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài
sản được lập ngày 20/4/2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng
[1.1] Phiên tòa được mở lần th hai, các đương sự có mặt tại phiên tòa. Bản
án sơ thẩm xác định Văn phòng T4người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là
không đúng. Bản án gốc, bản án chính, biên bản phiên tòa sơ thẩm ghi họ tên
của Hội thẩm nhân dân không giống nhau và không chính xác; Tòa án cấp sơ thẩm
ban hành các Quyết định sửa chữa, bổ sung không phù hợp; Tòa án cấp
thẩm cần rút kinh nghiệm.
[1.2] Nguyên đơn ginguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; các
đương sự không thỏa thuận giải quyết vụ án. Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu sửa
bản án thẩm theo hướng tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận hứa chuyển nhượng
tài sản được lập ngày 20/4/2022, buộc bị đơn người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan liên đới trả số tiền 1.800.000.000đ.
[2] Các đương sự tranh luận
[2.1] Nguyên đơn, người kháng cáo cho rằng thời điểm lập văn bản thỏa
thuận không biết thửa đất bị quy hoạch cũng như không đủ điều kiện tách thửa, do
đó không thkết hợp đồng chuyển nhượng đất theo cam kết, lỗi thuộc về vợ
chồng ông Nguyễn Hiếu N1, bà Nguyễn Thị K.
[2.2] Bị đơn cho rằng thỏa thuận hứa chuyn nhượng tài sản hợp pháp, phát
sinh hiệu lực; khi nào nhà nước hủy bỏ quy hoạch; thửa đất đủ điều kiện tách thửa
thì vợ chồng ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K sẽ hoàn tất thủ tục chuyn
nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Hạnh N.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
[3.1] Các tình tiết các đương sự thừa nhận không phải chứng minh:
- Thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản ngày 20/4/2022, được đánh máy
vi tính, vợ chồng ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K với Nguyễn Thị
Hạnh N cùng thống nhất vợ chồng ông N1, K sẽ chuyển nhượng cho N lô
đất 137-1 diện tích 183m
2
, có sơ họa về mốc, ranh giới, thuộc một phần diện tích
của thửa đất số 137, tờ bản đồ số 14 diện tích 376,4m
2
theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số bìa CP 981056 vào sổ CH 03271 do UBND thành phố C cấp ngày
20/02/2019 cho vợ chồng ông N1, K. Bà N đã giao đủ tiền cho vợ chồng ông
N1, bà K thông qua tài khoản của ông Nguyễn Ngọc A là 1.800.000.000đ.
- Thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản ngày 20/4/2022, chứa đựng nội
dung: Khi diện tích đất có đủ các điều kiện chuyển nhượng, bên A (vợ chồng ông
N1, K) sẽ thực hiện thủ tục chuyển nhượng tại đơn vị công chứng thì số tiền
bảo đảm ặt cọc) sẽ t động chuyển thành tiền thanh toán chuyn nhượng đất
(Điều 3; mục 3.2). Bên A cam kết ngay khi được quan thẩm quyền cho phép
sẽ kết hợp đồng chuyển nhượng…Trong thời gian bên B (bà N) chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất bquy hoạch, giải tỏa thì n B sẽ
được nhận tiền đền bù. Bên A hiện đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất kể cả phần đất cam kết chuyển nhượng, bên A cam kết không chuyển nhưng
đất cho bất cứ bên thứ ba nào. Nếu bên A không chuyển nhượng cho bên B đất
thì bên A sẽ phải hoàn trả tiền đã nhận và bồi thường thêm số tiền bằng 10 lần s
tiền đã nhận của bên B (Điều 3; mục 3.3). Bên B nếu không nhận chuyển nhượng
sẽ mất số tiền đã giao. Như vậy, bà N chưa biết thông tin thửa đất bị quy hoạch
và không đủ điu kiện chuyển nhượng.
[3.2] Thông tin quy hoạch tại Quyết định số 860/QĐ-UBND ngày
31/3/2022 của UBND tỉnh K phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 và
kế hoạch sử dụng đất năm đầu của quy hoạch sử dụng đất Tp . toàn bộ diện tích
thuộc quy hoạch giao thông. Công văn của Văn phòng Đ1 chi nhánh C trả lời cho
Tòa án cấp sơ thẩm thì Quyết định số 1899/QĐ-UBND ngày 19/7/2024 của
UBND tỉnh K phê duyệt điều chỉnh đán quy hoạch chung thành phố C đến năm
2045 có 376m
2
quy hoạch đất giao thông phần diện tích còn lại thuộc quy hoạch
đất đơn v(0,4m
2
). Điều kiện tách thửa căn cứ Quyết định số 29/2024/QĐ-
UBND ngày 28/10/2024 của UBND tỉnh K. Các thông tin này được đối chiếu với
Trích lục bản đồ địa chính ngày 05/12/2024 ca Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai tại thành phố C (bút lục số 04) thì bên chuyn nhượng không thể thực hiện
nghĩa vụ tách thửa, ký hợp đồng, công chứng, đăng chuyển nhượng theo quy
định tại các Điều 500, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự năm 2015; đối tượng của
hợp đồng không thể thực hiện được; các bên chưa kết hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và ghi nhận số tiền 1.800.000.000đ là tiền đặt cọc. Tuy nhiên,
nguyên đơn không yêu cầu giải quyết hợp đồng đặt cọc, chkhởi kiện tuyên
hiệu thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản được lập ngày 20/4/2022; bị đơn yêu
cầu công nhận thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản được lập ngày 20/4/2022,
nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Tòa án cấp
thẩm đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật không đúng dẫn đến bác yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn công nhận thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản
được lập ngày 20/4/2022, đã xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn vì đối tượng của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đt mà các bên
ớng đến không thể thực hiện được. Các bên chưa kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
[4] Từ những phân tích đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử cấp
phúc thẩm xét thấy quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên – VKSND tỉnh
Khánh a căn cứ, được chấp nhận. Kháng cáo cũng như yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn Nguyn Th Hnh N vviệc hủy (vô hiệu) thỏa thuận hứa chuyển
nhượng tài sản được lập ngày 20/4/2022, là có căn cứ, được chấp nhận; buộc vợ
chồng ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K cùng với ông Nguyễn Ngọc A phải
liên đới hoàn trả cho Nguyễn Thị Hạnh N 1.800.000.000đ theo ý kiến đồng
nhất của ông Huỳnh Việt B tại phiên tòa phúc thẩm. Nguyễn Thị Hạnh N
không yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường thiệt hại.
[5] Bà Nguyễn Thị Hạnh N tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng, đã nộp
đủ tại Tòa án cấp sơ thẩm.
[6] Nghĩa vụ chịu án phí:
- Yêu cầu kháng cáo, yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Hạnh N được
Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nên bà N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
cũng như án phí dân sự phúc thẩm.
- Vợ chồng ông Nguyễn Hiếu N1, bà Nguyễn Thị K cũng như ông Nguyn
Ngc A không thuộc đối tượng được miễn, giảm án phí nên phải liên đới chịu án
phí dân sự sơ thẩm là 36.000.000đ cộng với số tiền vượt quá 800.000.000đ nhân
với 03% (1.000.000.000đ x3% =30.000.000đ). Tổng số tiền án phí
66.000.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 308 khoản 2, Điều 313 khoản 6, Điều 148 khoản 2 của Bộ
luật tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 118, 131 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hạnh N, sửa bản án dân s
thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 25/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh
Hòa.
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Hạnh N, tuyên
hiệu “Thỏa thuận hứa chuyển nhượng tài sản” được lập ngày 20/4/2022, giữa bên
hứa chuyển nhượng tài sản là vợ chồng ông Nguyễn Hiếu N1, bà Nguyễn Thị K
với bên hứa nhận chuyn nhượng tài sản là bà Nguyễn Thị Hạnh N.
1.2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K với ông
Nguyễn Ngọc A phải thực hiện nghĩa vụ liên đới không phân chia phần hoàn trả
cho bà Nguyễn Thị Hạnh N 1.800.000.000đ (Một tỷ tám trăm triệu đồng).
1.3. Vợ chồng ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K được quyền sử dụng
đất số 137-1 diện tích 183m
2
, thuộc mt phần diện tích của thửa đất số 137,
TBĐ 14 diện tích 376,4m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa CP
981056 vào sổ CH 03271 do UBND thành phố C cấp ngày 20/02/2019 cho vợ
chồng ông Nguyễn Hiếu N1, Nguyễn Thị K, được sở hữu toàn bộ hàng rào lưới
B40, tr tông trên ranh giới đất. Hiện nay đất số 137-1 diện tích 183m
2
chưa được tách thửa, thuộc quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng của vợ chồng ông
Nguyễn Hiếu N1, bà Nguyễn Thị K.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tt cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật
dân sự năm 2015.
2. Nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí
2.1. Bà Nguyễn Thị Hạnh N tự nguyện chịu chi phí tố tụng 6.300.000đ, đã
nộp đủ tại giai đoạn xét xử sơ thẩm.
2.2. Nguyễn Thị Hạnh N không phải chịu án pdân sự thẩm được
hoàn trả 33.300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001800 ngày 31/3/2025
của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (ông Huỳnh Việt
B nộp thay). Nguyễn Thị Hạnh N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
được hoàn trả 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000824 ngày
11/8/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Khánh Hòa (bà Nguyễn Thị H2 nộp thay).
2.3. Vợ chồng ông Nguyễn Hiếu N1, bà Nguyễn Thị K cùng liên đới không
phân chia phần với ông Nguyễn Ngọc A chịu 66.000.000đ án phí dân sự thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều
30 Luật Thi hành án dân s.
Án xử công khai phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
(31/12/2025)./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Khánh Hòa;
- TAND Khu vực 2;
- THADS tỉnh Khánh Hòa;
- Phòng GĐKT, Thanh tra và THA;
- Phòng HCTP;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; án văn.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Hàng Lâm Viên
Tải về
Bản án số 247/2025/DS-PT Bản án số 247/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 247/2025/DS-PT Bản án số 247/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất