Bản án số 223/2026/DS-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 223/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 223/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 223/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 223/2026/DS-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 223/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | sửa án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 223/2026/DS-PT
Ngày 23-4-2026
“V/v tranh chp quyền sử dụng đt”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Nguyễn Thế Hạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà
Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng cơ sở 2,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 389/2025/TLPT-DS ngày 05
tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chp quyền sử dụng đt”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 733/2025/QĐ-PT ngày 30-
12-2025; các Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2026/QĐ-PT ngày 20-01-2026 và số
69/2026/QĐ-PT ngày 03-02-2026; Quyết định tạm ngừng phiên toà số:
32/2026/QĐ-PT ngày 09-3-2026 và Thông báo mở lại phiên toà số: 88/2026/TB –
TA/DS ngày 08-4-2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 (Có mặt) và bà Phạm Thị
M, sinh năm 1968 (Có đơn xét xử vắng mặt); địa chỉ: Số 45 thôn N, xã N, huyện K,
tỉnh Đắk Nông (nay là số 45 thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng).
2. Bị đơn: Ông Bùi Quang K, sinh năm 1967 và bà Trương Thị T1, sinh năm
1975; địa chỉ: Thôn N, xã Nâm N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (Nay là thôn N, xã N,
tỉnh Lâm Đồng) – Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trương Đình N, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Mộng L, sinh năm
1970; địa chỉ: T dân phố 1, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông (Nay là thôn Đ, xã
K, tỉnh Lâm Đồng) - Có đơn xét xử vắng mặt
- Bà Phạm Thị M1, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk
Nông (Nay là thôn Đ1, xã N1, tỉnh Lâm Đồng) Có đơn xét xử vắng mặt
2
- Ông Y B, sinh năm 1974; địa chỉ: Bon Y, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông
(Nay là bon Y, xã N, tỉnh Lâm Đồng) Có đơn xét xử vắng mặt
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M.
Kháng nghị: Quyết định kháng nghị số: 338/QĐ-VKS-KV9 ngày 08-10-2025
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 02-02-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M trình bày: Năm 1996 gia đình
ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M nhận chuyển nhượng của ông Y B thửa đất
toạ lạc tại thôn 10, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn N, xã N, tỉnh Lâm
Đồng), có tứ cận: Phía Nam giáp đường dài 80m; phía Bắc và phía Tây giáp đất ông
T và bà M dài 80m; phía Đông giáp đất ông Y B dài 86m. Thời điểm chuyển
nhượng, ông Y B chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).
Năm 1997 vợ chồng ông T và bà M chuyển nhượng cho 02 gia đình:
- Chuyển nhượng cho bà Phạm Thị M1 thửa đất, có tứ cận: Phía Nam giáp
đường liên xã dài 43m; phía Bắc giáp rẫy gia đình ông T, bà M dài 43m; phía Đông
giáp đất ông Bùi Quang K (Nhận chuyển nhượng của ông T) dài 83; phía Tây giáp
gia đình ông T và bà M dài 82m;
- Chuyển nhượng cho ông Bùi Quang K thửa đất diện tích 10m x 86m, có tứ
cận: Phía Nam giáp đường liên xã dài 10m; phía Bắc giáp đất gia đình ông T và bà
M dài10m; phía Đông giáp đất bà Nguyễn Thị Mộng L dài 86m; phía Tây giáp đất
bà Phạm Thị M1 (nhận chuyển nhượng của ông T) dài 83m,
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông K và bà T1 đăng ký và đã được cấp
GCNQSDĐ đúng diện tích theo giấy sang nhượng viết tay. Quá trình sử dụng đất,
ông K và bà T1 trồng tiêu lấn dần sang đất của ông T và bà M diện tích 146,9m
2
(Theo kết quả đo đạc). Nguyên nhân của việc tranh chấp: Do vị trí đất nằm tại điểm
tụ thuỷ của đường liên xã, nước chảy nhiều vào mùa mưa đã tạo nên mương thoát
nước sâu xuống đất của vợ chồng ông T và bà M khoảng 14m. Để tiện canh tác ông
T và bà M để cho gia đình em gái (bà Phạm Thị M1) sử dụng luôn phần đất đến giáp
mương nước. Thấy vậy, ông K và bà T1 cũng lấn chiếm thêm phần đất phía sau đến
mương nước, giáp với biên rẫy cũ của ông K và bà T1 (đã có GCNQSDĐ). Việc lấn
chiếm đã được vợ chồng ông T và bà M đã ý kiến, nhắc nhở nhiều lần. Gần đây, ông
K và bà T1 tiếp tục lấn chiếm trồng thêm 01 cây bơ trên đất gia đình ông T và bà M,
khi được nhắc nhở còn chửi bới, hành xử ngang ngược và thách thức. Quá trình hoà
giải tại UBND xã không thành nên ngày 02-02-2022 ông bà khởi kiện yêu cầu Toà
án buộc ông K và bà T1 trả lại diện tích đất 146,9m
2
nêu trên.
2. Bị đơn ông Bùi Quang K và bà Trương Thị T1 trình bày: Năm 2003 vợ
chồng ông K và bà T1 nhận chuyển nhượng của ông T và bà M thửa đất diện tích
khoảng 1000m
2
(10m x100m), toạ lạc tại thôn 10, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
(nay là thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng). Sau khi nhận chuyển nhượng, ông K và bà
T1 sử dụng n định, không tranh chấp. Năm 2005 ông T và bà M đưa cho ông K và
bà T1 giấy chuyển nhượng viết tay để đăng ký cấp GCNQSDĐ. Ngày 19-12-2005
3
UBND huyện K cấp GCNQSDĐ số AD019885 cho ông K và bà T1, thửa đất số
44a, tờ bản đồ số 31, diện tích 860m
2
. Tuy diện tích trên GCNQSDĐ ít hơn so với
thực tế sử dụng nhưng ông K và bà T1 đã sử dụng, trồng cây trên đất từ trước đến
nay, không ai ý kiến, tranh chấp gì. Đến năm 2020 khi UBND xã có chủ trương đo
lại đất thực tế trên toàn xã thì ông T và bà M mới biết gia đình ông bà sử dụng
nhiều hơn so với GCNQSDĐ, giữa hai gia đình có mâu thuẫn nên mới phát sinh
tranh chấp. Do đó, ông K, bà T1 đề nghị tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông Tĩnh và bà Mận.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Y B trình bày: Năm 1996 ông Y B chuyển nhượng cho ông T và bà
M 01 thửa đất có diện tích và giáp ranh đúng như Giấy sang nhượng đất lập ngày
10-6-1996. Do bận công việc, sự việc tranh chấp không liên quan đến ông nên ông
Y B xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
3.2. Bà Phạm Thị M1 trình bày: Bà M1 với bà M là hai chị em ruột. Năm 1996
hai chị em nhận chuyển nhượng chung thửa đất của ông Y B. Năm 1998 đã thoả
thuận chia cho bà M1 sử dụng phần đất diện tích khoảng hơn 3.000m
2
, có phía Tây
giáp với phần đất ông T và bà M chuyển nhượng cho ông K và bà T1. Sau bà M1
chuyển nhượng cho ông T2 một phần đất phía trên, phần phía dưới giáp đất ông K
và bà T1 thì bà M1 vẫn sử dụng. Từ năm 1998, bà M1 không cắm cọc mốc ranh
giới. Sau này, ông K và bà T1 tự chôn cọc gỗ, xác định ranh giới giữa hai nhà. Bà
M1 chứng kiến việc tranh chấp giữa hai bên đã xảy ra từ lâu, khi ông K và bà T1
trồng cây thì ông T và bà M không đồng ý và đã ý kiến. Do bận công việc, sự việc
tranh chấp không liên quan nên bà xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
3.3. Ông Trương Đình N và bà Nguyễn Thị Mộng L trình bày: Ông N và bà L
sử dụng thửa đất có diện tích khoảng 5.900m
2
, giáp ranh đất ông K và bà T1. Nguồn
gốc đất do ông N và bà L nhận chuyển nhượng của ông Y T vào năm 2000, hiện đã
được GCNQSDĐ. Thời điểm nhận chuyển nhượng, ranh giới với các hộ liền kề là
hàng cây và mương đất, sau đó ông N và bà L đã cắm cọc mốc. Năm 2019 ông K và
bà T1 làm nhà, đã nh cọc mốc và lấn qua đất của ông N bà Linh khoảng 01m chiều
ngang; hai bên đã được UBND xã Nâm N1 hoà giải thành, cụ thể: Ông K, bà T1
phải bồi thường số tiền 25.000.000đ coi như nhận chuyển nhượng phần đất lấn
chiếm. Đối với sự việc tranh chấp giữa ông T và bà M với ông K và bà T1 đã xảy ra
từ lâu, khi ông K và bà T1 trồng cây tiêu, ăn trái thì ông T và bà M đã không đồng ý
và có ý kiến. Ông N và bà L cho rằng phần đất đang tranh chấp là của ông T, bà M
và có một phần xéo ở đuôi phía Đông là của gia đình ông N và bà L nhưng vì muốn
đất thẳng nên ông N và bà L đã thỏa thuận cho ông T và bà M sử dụng đến nay và
không có ý kiến gì.
4. Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2025/DS-ST ngày 25-9-2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 9 – Lâm Đồng, đã căn cứ: Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35;
điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157;
khoản 1 Điều 162; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn T.
4
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo của các đương sự.
5. Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 02-10-2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T
và bà Phạm Thị M có đơn kháng cáo; ngày 08-10-2025 Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng ban hành Quyết định kháng nghị số: 338/QĐ-VKS-
KV9 yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm số: 17/2025/DS-ST
ngày 25-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng theo hướng chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông T và bà M.
6. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên sửa Bản án sơ thẩm, buộc bị
đơn ông K và bà T1 phải trả lại đất tranh chấp cho ông T và bà M, đồng thời ông T
đồng ý thanh toán cho ông K và bà T1 giá trị tài sản, cây trồng trên đất tranh chấp
theo kết quả định giá tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: Sau khi phân
tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Lâm Đồng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật
Tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án sơ thẩm
số: 17/2025/DS-ST ngày 25-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng
theo hướng buộc bị đơn ông K và bà T1 phải trả lại đất tranh chấp cho ông T và bà
M, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của ông T đồng ý thanh toán cho ông K và bà
T1 giá trị tài sản, cây trồng trên đất tương ứng số tiền 17.476.000đ và buộc các
đương sự phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu,chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh
tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và
bà Phạm Thị M nộp trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M, Hội
đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[2.1]. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông T và bà M trình bày: Ngày
19-6-1996 ông T và bà M nhận chuyển nhượng của ông Y B 01 thửa đất có tứ cận:
Phía Nam giáp đường liên xã dài 80m; phía Đông giáp đất Y T dài 86m; phía Tây và
Bắc giáp đất rẫy của ông T và bà M đều dài 80m (Giấy sang nhượng đất viết tay
ngày 19-6-1996 giữa ông Y B với ông T, BL số 09). Sau khi nhận chuyển nhượng
thửa đất của ông Y B thì đất của ông T và bà M trước đây, ở phía bên dưới được nối
liền đến giáp đường liên xã. Khoảng năm 1997 ông T và bà M chuyển nhượng cho
ông K và bà T1 thửa đất có chiều ngang 10m mặt đường, chiều sâu một bên dài
86m, một bên dài 83m. Bị đơn ông K và bà T1 cũng thừa nhận nguồn gốc đất nhận
chuyển nhượng của nguyên đơn ông T và bà M nhưng cho rằng diện tích nhận
chuyển nhượng là khoảng 1.000m² và sử dụng đến nay, không lấn chiếm đất của
nguyên đơn.
5
[2.2]. Tại Giấy sang nhượng đất th cư viết tay ngày 15-7-2004 giữa người bán
bà Phạm Thị M với người mua ông Bùi Quang K, nội dung: “Tôi có mua 1 miếng
đt thổ cư của bà Phạm Thị M với diện tích mặt đường 10m x 86m dài với diện tích
860m
2
”, có xác nhận của Ban tự quản thôn, để thực hiện đăng ký cấp GCNQSDĐ
cho ông K. Tại GCNQSDĐ số AD019885 do UBND huyện K Nô cấp ngày 19-12-
2005 cho ông K và bà T1 tại thửa đất số 44a, tờ bản đồ số 31, ghi nhận diện tích 860m
2
.
Kết xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21-7-2022 của Toà án nhân dân huyện
Krông Nô (Nay là Toà án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng); Kết quả đo đạc ngày
29-02-2022 và sơ đồ lồng ghép GCNQSDĐ ngày 02-02-2024 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai K, ghi nhận: Ông K và bà T1 đang sử sụng thửa đất có chiều
ngang mặt đường 10,58m (lấn chiếm của gia đình ông Trương Đình N và bà Nguyễn
Thị Mộng L 0,58m đã hoà giải, thoả thuận thành tại UBND xã); chiều sâu dài
100,8m. Diện tích đất tranh chấp 146,9m², không nằm trong GCNQSDĐ cấp cho
ông K và bà T1. Trên đất tranh chấp có một số cây trồng của ông K và bà T1: 24 cây
hồ tiêu, 03 cây bơ ghép, 2m² cây đinh lăng, 01 cây mắc ca trồng mới; được định giá
17.476.000đ (BL 47-48, 67-69, 87).
[2.3]. Như vậy, sau khi nguyên đơn ông T và bà M chuyển nhượng cho bị đơn
ông K và bà T1 một phần diện tích giáp mặt đường thì phần liền kề phía dưới nguyên
đơn ông T và bà M tiếp tục sử dụng đến nay. Do đó, ông K và bà T1 chỉ được quyền
sử dụng đúng vị trí, diện tích đã nhận chuyển nhượng từ ông T và bà M. Căn cứ Giấy
sang nhượng đất th cư viết tay ngày 15-7-2004 giữa người bán bà Phạm Thị M với
người mua ông Bùi Quang K, do ông K viết và GCNQSDĐ số AD019885 cấp cho
ông K đều ghi nhận diện tích 860m
2
(ngang 10m, chiều sâu 86m). Tuy nhiên, thực tế
ông K sử dụng thửa đất có chiều sâu 100,8m nhiều hơn so với Giấy chuyển nhượng
và GCNQSDĐ được cấp. Việc ông K và bà T1 cho rằng nhận chuyển nhượng thửa
đất có diện tích khoảng 1.000m² (10m x 100m) là không phù hợp với Giấy sang
nhượng đất th cư viết tay ngày 15-7-2004 do ông K viết và GCNQSDĐ được cấp
(860m
2
) và không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Sau khi được cấp
GCNQSDĐ thì ông K cũng không ý kiến, khiếu nại gì. Đồng thời, những người có
đất giáp ranh (bà M1, ông N, bà L) đều trình bày diện tích đất tranh chấp là của ông T
và bà M do bị đơn ông K và bà T1 lấn chiếm sử dụng nên khi ông K và bà T1 trồng
cây thì vợ chồng ông T và bà M đã có ý kiến nhưng không làm gì được.
[2.4]. Từ phân tích và nhận định trên, xét thấy: Bị đơn ông K và bà T1 đã lấn
chiếm của nguyên đơn ông T và bà M phần đất tranh chấp 146,9m² là có căn cứ.
Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông T và bà M là chưa
phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
ông T và bà M, sửa Bản án sơ thẩm số: 17/2025/DS-ST ngày 25-9-2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng theo hướng buộc ông K và bà T1 phải trả lại cho
ông T và bà M diện tích đất tranh chấp 146,9m
2
; đồng thời ghi nhận sự tự nguyện
của ông T đồng ý thanh toán cho ông K và bà T1 giá trị tài sản, cây trồng trên đất
tương ứng số tiền 17.476.000đ.
[3]. Xét Quyết định kháng nghị số: 338/QĐ-VKS-KV9 ngày 08-10-2025 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng và quan điểm của Đại

6
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[4]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157; Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận bị đơn ông K và bà T phải
chịu số tiền 12.972.000đ để Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc lồng
ghép thửa đất, định giá tài sản và phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai. Do
nguyên đơn ông T và bà M đã tạm ứng toàn bộ số tiền 12.972.000đ nêu trên tại Toà
án nên ông K và bà T1 phải trả cho ông T và bà M số tiền 12.972.000đ (Mười hai
triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ
phí Tòa án: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông K
và bà T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả
cho nguyên đơn ông T và bà M tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
[6]. Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên ông
Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn
trả cho ông T và bà M tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 của
Luật Đất đai năm 2013;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 338/QĐ-VKS-KV9 ngày 08-10-2025
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng và yêu cầu kháng
cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M, sửa Bản án sơ thẩm số:
17/2025/DS-ST ngày 25-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà
Phạm Thị M: Buộc bị đơn ông Bùi Quang K và bà Trương Thị T1 phải trả lại cho
ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M diện tích đất 146,9m
2
, có tứ cận:
- Phía Đông giáp đất ông Trương Đình N và bà Nguyễn Thị Mộng L;
- Phía Tây giáp đất bà Phạm Thị M1 dài 13,74m;
- Phía Nam giáp đất ông Bùi Quang K và bà Trương Thị T1 dài 10,4m;
- Phía Bắc giáp đất Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M dài 10,77m.
(Theo kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đt ngày 29-12-2022 của Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đt đai Krông Nô kèm theo).
1.2. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M được quyền sở hữu
toàn bộ tài sản, cây trồng trên đất và phải thanh toán lại cho bị đơn ông Bùi Quang
K và bà Trương Thị T1 số tiền 17.476.000đ (Mười bảy triệu bốn trăm bảy mươi sáu
nghìn đồng).

7
2. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157; Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Ông Bùi Quang K và bà Trương Thị T1 phải chịu số tiền 12.972.000đ (Mười hai
triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn đồng) để Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại
chỗ, đo đạc lồng ghép thửa đất, định giá tài sản và phí khai thác và sử dụng tài liệu
đất đai. Do nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M đã tạm ứng toàn bộ
số tiền 12.972.000đ nêu trên tại Toà án nên ông Bùi Quang K và bà Trương Thị T1
phải trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M số tiền 12.972.000đ (Mười hai
triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
3.1. Buộc ông Bùi Quang K và bà Trương Thị T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M số tiền 300.000đ (Ba
trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0003232 ngày 16-
3-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Nông (Nay là Thi hành
án dân sự tỉnh Lâm Đồng).
4. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M số tiền 600.000đ (Sáu trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0005813 và số
0005797 cùng ngày 20-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ II);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 9 - Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 9 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 9 - Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, TDS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Dương Hà Ngân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm