Bản án số 830/2026/DS-PT ngày 24/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 830/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 830/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 830/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 830/2026/DS-PT ngày 24/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 830/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | tranh chấp hợp đồng thuê tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 830/2026/DS-PT
Ngày: 24-4-2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng thuê
kho xưởng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh –
Cơ sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 539/2026/TLPT- DS ngày 18
tháng 3 năm 2026 về vic “Tranh chấp hợp đồng thuê kho xưởng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 360/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1933/2026/QĐ-PT ngày
30/3/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 5263/2026/QĐ-PT ngày
14/4/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1996; căn cước công dân:
079096000435 cấp ngày 01/3/2023; địa chỉ: B, khu phố B, phường B, thành phố T,
tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Tấn T, sinh năm 1999; căn
cước công dân: 054099008575 cấp ngày 03/5/2024; địa chỉ thường trú: thôn H, xã
H, thị xã X, tỉnh Phú Yên (nay là xã H, tỉnh Đắk Lắk) hoặc ông Đậu Đức N1, sinh
năm 1992; căn cước công dân: 040092021748 cấp ngày 10/11/2023; địa chỉ thường
trú: thôn A, xã Q, huyn Q, tỉnh Ngh An (nay là xã Q, tỉnh Ngh An), là người đại
din theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 08/10/2024); địa chỉ liên lạc: 7C,
đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
- Bị đơn: Ông Ngô H, sinh năm 1966; căn cước công dân: 074067006957 cấp
ngày 10/5/2021; địa chỉ: C, đường P, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Cao Văn V, sinh năm 1972; căn
cước công dân: 066072000699 cấp ngày 13/4/2021; địa chỉ: C khu phố B, phường
L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), là
người đại din theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 14/3/2025).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Ngô N2 – Luật sư
của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: số B, đường E, khu
phố N, Trung tâm hành chính D, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Đình L, sinh năm 1992;
địa chỉ: C, đường P, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Đức N có quen biết ông Ngô H, ông H giới thiu ông có nhà
kho rộng 715,9m
2
thuộc thửa đất số 295, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khu phố B,
phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Ngày 28/9/2021, ông N và ông H đã thỏa thuận, ký kết hợp đồng thuê kho
xưởng để phục vụ cho mục đích kinh doanh của ông N, thời hạn thuê 03 (ba) năm
tính từ ngày 10/10/2021 đến ngày 09/10/2024. Sau khi giao kết hợp đồng, ông N đã
đặt cọc 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triu đồng) và thanh toán đầy đủ tiền thuê
hàng tháng cho ông H qua số tài khoản 180014849204549 mở tại Ngân hàng E
(E1) – Chi nhánh B, chủ tài khoản Ngô Đình L theo thỏa thuận của hợp đồng.
Trong suốt thời gian thuê, ông N luôn thực hin đúng thỏa thuận, thanh toán đủ
tiền, đúng thời hạn và các bên không có mâu thuẫn, tranh chấp.
Đến khoảng tháng 6/2024, do ông H không đảm bảo được sự ổn định của
kho xưởng và các thiết bị, vật chất trong công tác phòng cháy chữa cháy không phù
hợp, không an toàn, gây khó khăn trong vic vận hành hoạt động, gây ảnh hưởng
đến công tác quản lý nhà kho, ông H không đảm bảo được công tác phòng cháy
chữa cháy nên hoạt động kinh doanh của ông N cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
khi cơ quan Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy kiểm tra, thanh tra. Vì vậy, ông H
đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tại khoản 5.2, Điều 5: “Bảo đảm sự ổn định của
xưởng cho bên B sử dụng trong thời hạn thuê.”
3
Sau đó, ông N và ông H đã thống nhất thỏa thuận thanh lý hợp đồng trước
thời hạn 03 (ba) tháng vào ngày 09/07/2024. Lý do thanh lý hợp đồng là vì ông H
không đảm bảo công tác phòng cháy chữa cháy, không bảo đảm sự ổn định của
xưởng, đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên ông H đồng ý hoàn trả lại cho ông N số
tiền đặt cọc 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triu đồng). Ông N đã thực hin bàn
giao lại kho xưởng theo đúng thỏa thuận và ông H đã nghim thu không có bất kỳ
vấn đề gì. Tuy nhiên, từ khi thanh lý hợp đồng đến nay đã hơn 03 tháng, ông H vẫn
chưa hoàn trả lại cho ông N số tiền đặt cọc theo thỏa thuận, mặc dù sau đó ông H
đã cho đơn vị khác thuê kho xưởng, theo thông tin ông N cung cấp thời gian gần
hết hợp đồng trước 03 tháng thì có cơ quan phòng cháy chữa cháy tới kiểm tra, yêu
cầu xử phạt hành chính hoặc lắp đặt h thống phóng cháy chữa cháy nên vì áp lực
tài chính những người thuê sau ai cũng phải thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng trước
thời hạn, căn cứ vào điều này ông H không trả tiền đặt cọc cho những người thuê,
ông N còn cho biết có một trường hợp cũng đang khởi kin ông H tại Tòa án nhân
dân thành phố Thuận An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí
Minh) với nội dung tương tự. Ông N đã nhiều lần liên h yêu cầu ông H thực hin
đúng thỏa thuận, trả lại số tiền đặt cọc nêu trên nhưng ông H không đồng ý, không
hợp tác. Hin nay, các bên đã không thể tự thỏa thuận, hòa giải được với nhau.
Ông N yêu cầu buộc ông H trả lại cho ông N số tiền đặt cọc 75.000.000 đồng (bảy
mươi lăm triu đồng), tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 09/7/2024 đến ngày
09/10/2024: 75.000.000 đồng x 10%/năm x 16 tháng 18 ngày = 10.072.050 đồng
(mười triu không trăm bảy mươi hai nghìn không trăm năm mươi đồng). Tổng số
tiền ông N yêu cầu ông H phải thanh toán 85.072.050 đồng (tám mươi lăm triu
không trăm bảy mươi hai nghìn không trăm năm mươi đồng).
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Hợp đồng thuê kho xưởng (phô tô); Vi bằng
trích xuất tin nhắn zalo giữa ông Nguyễn Đức N và ông Ngô Đình L.
Bị đơn trình bày:
Ngày 28/9/2021, ông Ngô H ký hợp đồng cho ông Nguyễn Đức N thuê nhà
kho nằm trên din tích đất 715,9m
2
thuộc thửa số 295, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại
khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 002363, số
vào sổ CH 02839/LT do Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay là Ủy
ban nhân dân phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 11/7/2011. Mục đích
thuê: ông N sử dụng nhà kho làm nơi đóng gói các loại thực phẩm sấy khô. Theo
thỏa thuận tại hợp đồng, thời hạn thuê 03 năm, kể từ ngày 10/10/2021 đến ngày
09/10/2024, giá thuê và phương thức thanh toán như sau:
- Từ ngày 10/10/2021 đến ngày 09/10/2022: Giá thuê 25.000.000
đồng/tháng;
4
- Từ ngày 10/10/2022 đến ngày 09/10/2023: Giá thuê 27.000.000
đồng/tháng;
- Từ ngày 10/10/2023 đến ngày 09/10/2024: Giá thuê 29.000.000
đồng/tháng.
(Giá thuê trên không bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT), chi phí đin, nước,
rác, an ninh, internet, đin thoại…).
Về phương thức thanh toán: Tiền thuê kho xưởng được ông N thanh toán cho
ông H 01 lần/tháng từ ngày thứ 01 đến ngày thứ 05 của mỗi tháng thuê.
Để đảm bảo cho vic thực hin hợp đồng, ông N đặt cọc cho ông H số tiền
75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triu đồng), số tiền này sẽ được ông H trả lại cho
ông N khi hết thời hạn thuê hoặc khi hai bên thống nhất thanh lý hợp đồng thuê.
Trong trường hợp ông N giao lại nhà kho không đúng với hin trạng ban đầu, có sự
hư hỏng, nợ tiền thuê hoặc các chi phí khác thì ông H được quyền xử lý khấu trừ
các chi phí này vào tiền đặt cọc. Sau khi hai bên ký hợp đồng thuê, ông H đã giao
nhà kho cho ông N sử dụng theo đúng mục đích thuê của hợp đồng này và tôn
trọng quyền hoạt động kinh doanh của ông N, không tăng giá thuê bất hợp lý và
chấp hành đúng thỏa thuận tại Điều 5 Hợp đồng thuê kho xưởng ngày 28/9/2021.
Đối với ông N thì luôn thanh toán tiền thuê chậm trễ, không đúng với thỏa thuận.
Ông H không chấp nhận yêu cầu khởi kin của ông N về vic buộc ông H
phải trả lại cho ông N số tiền đặt cọc và tiền lãi suất là 76.875.000 đồng (Bảy mươi
sáu triu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), vì khi hai bên ký hợp đồng thuê kho
xưởng thì ông H luôn thực hin đúng nội dung thỏa thuận, còn ông N không thực
hin theo đúng Điều 2 của Hợp đồng, tự ý dọn đồ đạc ra khỏi nhà kho từ đầu tháng
07/2024 nhưng không thông báo cho ông H biết nên được xem là ông N tự ý chấm
dứt hợp đồng trước thời hạn. Mặc khác vic trang bị phòng cháy chữa cháy thì
thuộc trách nhim của bên thuê. Theo thông báo đề nghị thanh toán nợ ngày
09/10/2024, ông N cho rằng hai bên thỏa thuận thanh lý hợp đồng trước thời hạn
vào ngày 09/7/2024 và ông H cam kết trả lại tiền cọc cho ông N là không đúng, vì
khi ông N tự ý dọn tài sản ra khỏi nhà kho, hai bên chưa ngồi lại với nhau để thỏa
thuận chấm dứt hợp đồng thì không có vic hai bên thanh lý hợp đồng, xử lý tiền
đặt cọc. Theo thỏa thuận tại khoản 8.1, Điều 8 của Hợp đồng thuê kho xưởng ngày
28/9/2021, trong trường hợp ông N chấm dứt hợp đồng thuê trước thời hạn thì bị
mất số tiền đã đặt cọc 75.000.000 đồng, bồi thường thit hại nếu nhà kho có sự hư
hỏng và trả lại nhà xưởng theo nguyên hin trạng ban đầu. Do ông N là người đơn
phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn nên ông H không trả lại số tiền ông N
đặt cọc cho ông H.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Đình L trình bày:
5
Ông L là con của ông H, ngày 28/9/2021 ông N và ông H có ký hợp đồng
thuê kho xưởng; nội dung của hợp đồng ông L không rõ; vic liên lạc giữa ông N
với ông H thông qua qua hình thức gọi đin thoại của ông L là số 0904509709 và
liên h qua tài khoản Zalo tên Ngô L (số đin thoại đăng ký tài khoản Zalo là số
đin thoại của ông L là 0904509709); hàng tháng ông L là người nhận tiền thuê từ
ông N thông qua vic chuyển tiền thuê vào số tài khoản 180014849204549 tại
Ngân hàng TMCP X (E) chủ tài khoản ông Ngô Đình L.
Trong thời gian ông N thuê từ năm 2021 đến năm 2024 ông N có nhắn tin
cho ông L nhưng không nhớ là tài khoản Zalo hay đin thoại về vic bị kiểm tra
phòng cháy ông L không nhớ thời gian. Ông L xác định từ khi xây dựng đến nay
kho xưởng không có h thống phòng cháy chữa cháy, còn vic ông N và ông H có
thỏa thuận với nhau về vic trách nhim xây dựng h thống phòng cháy chữa cháy
do bên thuê hay bên cho thuê phải làm thì ông L không rõ.
Ông L xác định không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 360/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 70, 71, 72, 73, 92, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều 351, 385, 428, 472, 473, 474, 481 và Điều 482 Bộ luật Dân
sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và l phí Toà án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn ông Nguyễn Đức N
đối với bị đơn ông Ngô H về vic “Tranh chấp hợp đồng thuê kho xưởng”.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đức N về vic yêu
cầu bị đơn ông Ngô H hoàn trả số tiền 85.072.050 đồng (tám mươi lăm triu không
trăm bảy mươi hai nghìn không trăm năm mươi đồng), trong đó: tiền đặt cọc
75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triu đồng), tiền lãi 10.072.050 đồng (mười triu
không trăm bảy mươi hai nghìn không trăm năm mươi đồng).
2. Về chi phí xem xét thẩm định: Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn
đồng).
Ông Nguyễn Đức N phải chịu số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng),
được khấu trừ số tiền đã nộp.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Đức N phải chịu số tiền 4.253.603 đồng (bốn triu hai trăm
năm mươi ba nghìn sáu trăm lẻ ba đồng), được trừ vào 1.971.875 đồng (một triu
chín trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0009740 ngày 18/12/2024 của Chi cục
6
Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (sau sáp nhập là Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh). Ông Nguyễn Đức N
còn phải chịu số tiền 2.281.728 đồng (hai triu hai trăm tám mươi mốt nghìn bảy
trăm hai mươi tám đồng).
Ông Ngô H không phải chịu án phí.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 31/12/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Đức
N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kin của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại din hợp pháp của nguyên đơn giữ
nguyên yêu cầu khởi kin và yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về vic giải quyết vụ án.
Người đại din hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm
không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là chưa xem xét đánh giá toàn din
chứng cứ vụ án; căn cứ nội dung vi bằng thỏa thuận qua các tin nhắn thì ông L là
người điều hành quyết định các vấn đề liên quan đến kho xưởng, nhận tiền thuê
hàng tháng và ông H không phản đối, vic ông H ủy quyền cho ông L nhận tiền
thuê hàng tháng nên nguyên đơn thông báo cho ông L chấm dứt hợp đồng; có đủ cơ
sở xác định ông H ủy quyền cho ông L thực hin các hoạt động đến hợp đồng thuê
kho, nguyên đơn không thông báo cho bị đơn mà chỉ thông báo cho ông L. Về điều
kin hoạt động của nhà xưởng: căn cứ giấy chứng nhận thì kho phải có phòng cháy
chữa cháy theo khoản 1 Điều 14 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020
của Chính phủ quy định một số chi tiết và bin pháp thi hành Luật Phòng cháy và
chữa cháy; bị đơn chưa đáp ứng điều kin về phòng cháy chữa cháy theo quy định
tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP. Cần làm rõ điều kin thế nào là
đủ theo mục 7.2 Điều 7 của hợp đồng. Về thanh lý hợp đồng, hai bên nguyên đơn
và ông L đã thống nhất chấm dứt hợp đồng, đã thực hin từ tháng 5/2024 đến tháng
7/2024 như: nguyên đơn thông báo chấm dứt hợp đồng đến ông L, ông L đưa người
đến xem hin trạng kho xưởng để cho thuê sau khi nguyên đơn di dời, các quyết
định chỉ đạo của ông L đối với hạng mục cần v sinh, xử lý của kho xưởng và yêu
cầu nguyên đơn giải quyết trước khi di dời, bàn giao và nhận bàn giao hin trạng
kho xưởng, sau đó ông L cho người khác thuê và nhận tiền thuê từ tháng 8/2025.
Căn cứ mục 4.2 Điều 4 của hợp đồng khi các bên đã thỏa thuận sau khi tiến hành
thanh lý hợp đồng thì bị đơn có trách nhim hoàn trả lại tiền cọc cho nguyên đơn,
do các bên không có thỏa thuận về hình thức nên vic thanh lý không nhất thiết
phải được lập thành văn bản. Các bên đã thực hin đầy đủ các điều khoản và điều
kin quy định trong hợp đồng nên cần xem xét để công nhận các bên đã tự nguyn
thanh lý hợp đồng hợp đồng thuê kho xưởng theo đúng quy định pháp luật. Về
trách nhim thì nguyên đơn đã bàn giao kho xưởng, ông L đã nhận bàn giao không
7
có ý kiến gì khác nên bị đơn có trách nhim hoàn trả tiền cọc cho nguyên đơn. Đề
nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kin của nguyên đơn.
Người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Đề nghị giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
- Đại din Vin Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp
phúc thẩm đã thực hin đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi
kin của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Dân
sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của
đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm,
vic kháng cáo vẫn trong thời hạn quy định, đơn kháng cáo có nội dung, hình thức
phù hợp với quy định tại Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều
kin để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Người đại din hợp pháp của nguyên đơn ông Đậu Đức N1 đã được
triu tập hợp l lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; người đại din hợp
pháp của nguyên đơn ông Lê Tấn T yêu cầu tiếp tục tiến hành phiên tòa; căn cứ
khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn, bị đơn thống nhất trình bày, ngày 28/9/2021 ông H, ông N có
ký kết hợp đồng cho thuê kho xưởng có nội dung: Ông H (bên cho thuê – bên A) và
ông N (bên thuê – bên B) cùng thỏa thuận: Bên A cho bên B thuê phần din tích
nhà kho nằm trên din tích đất 715,9m
2
thuộc thửa 295, tờ bản đồ số 23, toạ lạc tại
khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố
Hồ Chí Minh). Mục đích bên B thuê kho xưởng để đóng gói các loại thực phẩm sấy
khô (có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh). Thời hạn thuê 03 năm tính từ ngày
10/10/2021 đến ngày 09/10/2024; khi hết hạn hợp đồng tùy tình hình thực tế hai
bên có thể thỏa thuận gia hạn; trường hợp khi chuẩn bị hết hạn hợp đồng, bên nào
không thỏa thuận gia hạn hợp đồng thì phải thông báo cho bên còn lại biết trước
ngày hết hạn là 03 tháng. Bên B đặt cọc cho bên A 75.000.000 đồng ngay sau khi
8
ký hợp đồng; bên A giao nhà xưởng cho bên B vào ngày 10/10/2021; sau khi hai
bên tiến hành thanh lý hợp đồng bên A trả lại cho bên B 75.000.000 đồng; trường
hợp bên B giao trả nhà xưởng không đúng hin trạng ban đầu, nợ tiền thuê nhà
xưởng hoặc nợ các chi phí khác (nếu có) hoặc gây thit hại cho bên A mà chưa sửa
chữa khắc phục bồi thường thì bên A được quyền xử lý khấu trừ vào tiền đặt cọc.
Bên B thanh toán cho bên A bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản ngân hàng do bên A
chỉ định như sau: người thụ hưởng Ngô Đình L, số tài khoản 180014849549 tại
Ngân hàng E (E1) – Chi nhánh B. Bên B có quyền đơn phương chấm thực hin hợp
đồng khi bên A có một trong các hành vi: tăng giá thuê bất hợp lý, không sửa chữa
kho xưởng khi kho xưởng không đảm bảo an toàn sử dụng; bên đơn phương chấm
dứt hợp đồng phải thông báo cho bên kia biết trước 02 tháng nếu không có thỏa
thuận khác. Cam kết chung: trường hợp một trong hai bên có nhu cầu thanh lý hợp
đồng trước thời hạn thì bên A yêu cầu thanh lý hợp đồng trước thời hạn thì bên A
phải hoàn trả cho 100% tiền đặt cọc, các khoản chi phí phát sinh phục vụ công tác
di dời cho bên B khi ký biên bản thanh lý hợp đồng; bên B yêu cầu thanh lý hợp
đồng trước thời hạn thì bên B mất toàn bộ số tiền đã đặt cọc, bồi thường thit hại
cho bên A và trả lại nhà xưởng như nguyên trạng ban đầu. Ông H đã bàn giao nhà
kho cho ông N; ông N đã giao 75.000.000 đồng tiền đặt cọc cho ông H thông qua
số tài khoản 180014849204549 của ông Ngô Đình L (ông L là con của ông H) tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần E – Chi nhánh B; ông N đã giao trả nhà xưởng
cho ông H và trả tiền thuê đầy đủ đến tháng 7/2024. Đây là các tình tiết không cần
phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn trình bày, do nhà xưởng không có h thống phòng cháy chữa
cháy, không đáp ứng nhu cầu kinh doanh, ông N đã nhiều lần nhắn tin phản ánh
cho ông L nhưng không được giải quyết, ngày 06/5/2024 ông N thông báo chấm
dứt hợp đồng thuê vào ngày 09/7/2024, ông N đã giao trả nhà xưởng và đã thanh
toán đầy đủ tiền thuê đến hết tháng 7 năm 2024 cho ông H.
Bị đơn trình bày, vic trang bị phòng cháy, chữa cháy là trách nhim của bên
thuê, vì ông N thuê nhà để kinh doanh mặt hàng sấy khô thì phải tự trang bị h
thống phòng cháy, chữa cháy phù hợp với ngành nghề kinh doanh, ông N chấm dứt
hợp đồng thuê trước thời hạn 03 tháng nên bị đơn không có trách nhim hoàn trả lại
số tiền đặt cọc 75.000.000 đổng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L trình bày, ông H có nhờ ông L
nhận tiền thuê hàng tháng từ ông N, ông L không có quyền quyết định liên quan
đến nhà xưởng.
Xét, các bên đều xác định nhà kho chưa có h thống phòng cháy chữa cháy,
các bên có thỏa thuận nguyên đơn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong
trường hợp nhà xưởng không đảm bảo an toàn, nguyên đơn cho rằng đã nhắn tin
cho ông L thông báo sẽ chấm dứt hợp đồng thuê từ ngày 05/6/2024 đến ngày
07/9/2024 thì chấm dứt hợp đồng thuê là đã thực hin đúng về thời hạn thông báo
9
trước. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung hợp đồng thể hin bên thuê đã kiểm tra kho
xưởng trước khi nhận bàn giao và tại thời điểm nhận bàn giao nguyên đơn không
có ý kiến về vic nhà kho không có h thống phòng cháy, chữa cháy như vậy
nguyên đơn cho rằng vic kết thúc hợp đồng thuê trước hạn do nhà xưởng không có
h thống phòng cháy chữa cháy là chưa phù hợp. Nguyên đơn cho rằng, cơ quan
Công an kiểm tra không đảm bảo về phòng cháy chữa cháy, yêu cầu phải trang bị
h thống phòng cháy chữa cháy nhưng đây chỉ là trao đổi giữa nguyên đơn với cơ
quan Công an, không có văn bản giấy tờ của cơ quan phòng cháy chữa cháy yêu
cầu phải thực hin vic trang bị các thiết bị phòng cháy chữa cháy nếu không thực
hin sẽ xử phạt hành chính theo quy định. Vi bằng nguyên đơn cung cấp chỉ thể
hin vic trả tiền thuê cho ông L, trao đổi về sửa chữa kho trước khi giao trả nhà
xưởng. Vic nguyên đơn cho rằng nhắn tin cho ông L về vic chấm dứt hợp đồng,
vì mọi hoạt động của kho đều do ông L thực hin nên xem như đã thông báo trước
là không phù hợp, vì ông L không được ông H ủy quyền thay mặt ông H để quyết
định các vấn đề trong hợp đồng. Ngoài ra, theo thỏa thuận tại mục 8.1 Điều 8 của
hợp đồng nếu: “Bên B yêu cầu thanh lý hợp đồng trước hạn bên B mất toàn bộ số
tiền đặt cọc 75.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại cho bên A và trả lại nhà xưởng
nguyên trạng ban đầu”. Vic nguyên đơn yêu cầu thanh lý hợp đồng trước thời hạn
đã vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng nên vic nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại
tiền cọc 75.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.
Bị đơn xác định không có yêu cầu phản tố và không có yêu cầu bồi thường
thit hại nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp quy định.
Về yêu cầu tính lãi suất trên số tiền đặt cọc chậm trả: Do yêu cầu của nguyên
đơn về vic yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền đặt cọc 75.000.000 đồng không được
chấp nhận nên yêu cầu tính lãi suất trên số tiền đặt cọc cũng không được chấp
nhận.
Từ những phân tích trên, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được
chứng cứ gì khác nên kháng cáo không có cơ sở chấp nhận.
Quan điểm của đại din Vin Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là
phù hợp.
Trình bày của người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có cơ sở
chấp nhận.
Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015;

10
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và l phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức N.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 360/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Đức N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng),
được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số
0004358 ngày 14/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vin kiểm sát nhân dân TPHCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 16 - TPHCM;
- Phòng THADS khu vực 16 - TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự (80).
Nguyễn Thị Duyên Hằng
Nơi nhận:
- Vin kiểm sát nhân dân TPHCM;
- TAND khu vực 16 - TPHCM;
- Phòng THADS khu vực 16 - TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự (80).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Duyên Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng