Bản án số 830/2026/DS-PT ngày 24/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 830/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 830/2026/DS-PT ngày 24/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 830/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 830/2026/DS-PT
Ngày: 24-4-2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng thuê
kho xưởng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Tphiên tòa: Thị Hoa - Thư Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh
sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 539/2026/TLPT- DS ngày 18
tháng 3 năm 2026 về vic “Tranh chấp hợp đồng thuê kho xưởng”.
Do Bản án dân sự thẩm số 360/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 1933/2026/QĐ-PT ngày
30/3/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 5263/2026/QĐ-PT ngày
14/4/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1996; căn ớc công dân:
079096000435 cấp ngày 01/3/2023; địa chỉ: B, khu phố B, phường B, thành phố T,
tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tấn T, sinh năm 1999; căn
cước công dân: 054099008575 cấp ngày 03/5/2024; địa chỉ thường trú: thôn H,
H, thị xã X, tỉnh Phú Yên (nay là H, tỉnh Đắk Lắk) hoặc ông Đậu Đức N1, sinh
năm 1992; căn cước công dân: 040092021748 cấp ngày 10/11/2023; địa chỉ thường
trú: thôn A, xã Q, huyn Q, tỉnh Ngh An (nay là xã Q, tỉnh Ngh An), là người đại
din theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 08/10/2024); địa chỉ liên lạc: 7C,
đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
- Bị đơn: Ông Ngô H, sinh năm 1966; căn cước công dân: 074067006957 cấp
ngày 10/5/2021; địa chỉ: C, đường P, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Cao Văn V, sinh năm 1972; căn
cước công dân: 066072000699 cấp ngày 13/4/2021; địa chỉ: C khu phố B, phường
L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phHồ Chí Minh),
người đại din theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 14/3/2025).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Ngô N2 Luật
của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật Thành phố H; địa chỉ: số B, đường E, khu
phố N, Trung tâm hành chính D, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Đình L, sinh năm 1992;
địa chỉ: C, đường P, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Đức N quen biết ông Ngô H, ông H giới thiu ông nhà
kho rộng 715,9m
2
thuộc thửa đất số 295, tbản đồ số 23, tọa lạc tại khu phố B,
phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Ngày 28/9/2021, ông N ông H đã thỏa thuận, kết hợp đồng thuê kho
xưởng đphục vụ cho mục đích kinh doanh của ông N, thời hạn thuê 03 (ba) năm
tính từ ngày 10/10/2021 đến ngày 09/10/2024. Sau khi giao kết hợp đồng, ông N đã
đặt cọc 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triu đồng) thanh toán đầy đủ tiền thuê
hàng tháng cho ông H qua số tài khoản 180014849204549 mở tại Ngân hàng E
(E1) Chi nhánh B, chủ tài khoản N Đình L theo thỏa thuận của hợp đồng.
Trong suốt thời gian thuê, ông N luôn thực hin đúng thỏa thuận, thanh toán đủ
tiền, đúng thời hạn và các bên không có mâu thuẫn, tranh chấp.
Đến khoảng tháng 6/2024, do ông H không đảm bảo được sn định của
kho xưởng và các thiết bị, vật chất trong công tác phòng cháy chữa cháy không phù
hợp, không an toàn, gây khó khăn trong vic vận hành hoạt động, gây ảnh hưởng
đến công tác quản nhà kho, ông H không đảm bảo được công tác phòng cháy
chữa cháy nên hoạt động kinh doanh của ông N cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
khi quan Cảnh sát phòng cháy chữa cháy kiểm tra, thanh tra. vậy, ông H
đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tại khoản 5.2, Điều 5: “Bảo đảm sổn định của
xưởng cho bên B sử dụng trong thời hạn thuê.”
3
Sau đó, ông N ông H đã thống nhất thỏa thuận thanh hợp đồng trước
thời hạn 03 (ba) tháng vào ngày 09/07/2024. do thanh hợp đồng ông H
không đảm bảo công tác phòng cháy chữa cháy, không bảo đảm sự ổn định của
xưởng, đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên ông H đồng ý hoàn trả lại cho ông N số
tiền đặt cọc 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triu đồng). Ông N đã thực hin bàn
giao lại kho xưởng theo đúng thỏa thuận ông H đã nghim thu không bất kỳ
vấn đề gì. Tuy nhiên, từ khi thanh lý hợp đồng đến nay đã hơn 03 tháng, ông H vẫn
chưa hoàn trả lại cho ông N số tiền đặt cọc theo thỏa thuận, mặc sau đó ông H
đã cho đơn vị khác thuê kho xưởng, theo thông tin ông N cung cấp thời gian gn
hết hợp đồng trước 03 tháng thì có cơ quan phòng cháy cha cháy ti kim tra, yêu
cu x pht hành chính hoc lắp đặt h thng phóng cháy cha cháy nên vì áp lc
tài chính những người thuê sau ai cũng phi tha thuận đ chm dt hợp đồng trước
thi hạn, n cứ vào điu này ông H không tr tiền đặt cc cho những người thuê,
ông N còn cho biết có một trường hp cũng đang khi kin ông H ti Tòa án nhân
dân thành ph Thuận An (nay Tòa án nhân dân khu vực 16 Thành phố Hồ Chí
Minh) vi nội dung tương tự. Ông N đã nhiều lần liên h yêu cầu ông H thực hin
đúng thỏa thuận, trả lại số tiền đặt cọc nêu trên nhưng ông H không đồng ý, không
hợp tác. Hin nay, các bên đã không thể tự thỏa thuận, hòa giải được với nhau.
Ông N yêu cầu buộc ông H trả lại cho ông N số tiền đặt cọc 75.000.000 đồng (bảy
mươi lăm triu đồng), tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 09/7/2024 đến ngày
09/10/2024: 75.000.000 đồng x 10%/năm x 16 tháng 18 ngày = 10.072.050 đồng
(mười triu không trăm bảy mươi hai nghìn không trăm năm ơi đồng). Tổng số
tiền ông N yêu cầu ông H phải thanh toán 85.072.050 đồng (tám mươi lăm triu
không trăm bảy mươi hai nghìn không trăm năm mươi đồng).
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Hợp đồng thuê kho xưởng (phô tô); Vi bằng
trích xuất tin nhắn zalo giữa ông Nguyễn Đức N và ông Ngô Đình L.
Bị đơn trình bày:
Ngày 28/9/2021, ông NH hợp đồng cho ông Nguyễn Đức N thuê nhà
kho nằm trên din tích đất 715,9m
2
thuộc thửa số 295, tờ bản đồ s23, tọa lạc tại
khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 002363, số
vào sổ CH 02839/LT do y ban nhân dân thị T, tỉnh Bình Dương (nay Ủy
ban nhân dân phường L, Thành phố HChí Minh) cấp ngày 11/7/2011. Mục đích
thuê: ông N sử dụng nhà kho làm nơi đóng gói các loại thực phẩm sấy khô. Theo
thỏa thuận tại hợp đồng, thời hạn thuê 03 năm, kể tngày 10/10/2021 đến ngày
09/10/2024, giá thuê và phương thức thanh toán như sau:
- Từ ngày 10/10/2021 đến ngày 09/10/2022: Giá th 25.000.000
đồng/tháng;
4
- Từ ngày 10/10/2022 đến ngày 09/10/2023: Giá th 27.000.000
đồng/tháng;
- Từ ngày 10/10/2023 đến ngày 09/10/2024: Giá th 29.000.000
đồng/tháng.
(Giá thuê trên không bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT), chi phí đin, nước,
rác, an ninh, internet, đin thoại…).
Về phương thức thanh toán: Tiền thuê kho xưởng được ông N thanh toán cho
ông H 01 lần/tháng từ ngày thứ 01 đến ngày thứ 05 của mỗi tháng thuê.
Để đảm bảo cho vic thực hin hợp đồng, ông N đặt cọc cho ông H số tiền
75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triu đồng), số tiền này sẽ được ông H trả lại cho
ông N khi hết thời hạn thuê hoặc khi hai bên thống nhất thanh hợp đồng thuê.
Trong trường hợp ông N giao lại nhà kho không đúng với hin trạng ban đầu, có sự
hỏng, nợ tiền thuê hoặc các chi phí khác thì ông H được quyền xử khấu trừ
các chi phí này vào tiền đặt cọc. Sau khi hai bên hợp đồng thuê, ông H đã giao
nhà kho cho ông N sử dụng theo đúng mục đích thuê của hợp đồng này tôn
trọng quyền hoạt động kinh doanh của ông N, không tăng giá thuê bất hợp
chấp nh đúng thỏa thuận tại Điều 5 Hợp đồng thuê kho xưởng ngày 28/9/2021.
Đối với ông N thì luôn thanh toán tiền thuê chậm trễ, không đúng với thỏa thuận.
Ông H không chấp nhận yêu cầu khởi kin của ông N về vic buộc ông H
phải trả lại cho ông N số tiền đặt cọc và tiền lãi suất là 76.875.000 đồng (Bảy mươi
sáu triu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), vì khi hai bên ký hợp đồng thuê kho
xưởng thì ông H luôn thực hin đúng nội dung thỏa thuận, còn ông N không thực
hin theo đúng Điều 2 của Hợp đồng, tự ý dọn đồ đạc ra khỏi nhà kho từ đầu tháng
07/2024 nhưng không thông báo cho ông H biết nên được xem ông N tự ý chấm
dứt hợp đồng trước thời hạn. Mặc khác vic trang b phòng cháy cha cháy thì
thuc trách nhim của bên thuê. Theo thông báo đề nghị thanh toán nợ ngày
09/10/2024, ông N cho rằng hai bên thỏa thuận thanh hợp đồng trước thời hạn
vào ngày 09/7/2024 ông H cam kết trả lại tiền cọc cho ông N không đúng,
khi ông N tự ý dọn tài sản ra khỏi nhà kho, hai bên chưa ngồi lại với nhau để thỏa
thuận chấm dứt hợp đồng thì không vic hai bên thanh hợp đồng, xử tiền
đặt cọc. Theo thỏa thuận tại khoản 8.1, Điều 8 của Hợp đồng thuê kho xưởng ngày
28/9/2021, trong trường hợp ông N chấm dứt hợp đồng thuê trước thời hạn tbị
mất số tiền đã đặt cọc 75.000.000 đồng, bồi thường thit hại nếu nhà kho sự
hỏng trả lại nhà xưởng theo nguyên hin trạng ban đầu. Do ông N người đơn
phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn nên ông H không trả lại stiền ông N
đặt cọc cho ông H.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Đình L trình bày:
5
Ông L con của ông H, ngày 28/9/2021 ông N ông H hợp đồng
thuê kho xưởng; nội dung của hợp đồng ông L không rõ; vic liên lạc giữa ông N
với ông H thông qua qua hình thức gọi đin thoại của ông L số 0904509709
liên h qua tài khoản Zalo tên Ngô L (số đin thoại đăng tài khoản Zalo số
đin thoại của ông L 0904509709); hàng tháng ông L người nhận tiền thuê từ
ông N thông qua vic chuyển tiền thuê vào số tài khoản 180014849204549 tại
Ngân hàng TMCP X (E) chủ tài khoản ông Ngô Đình L.
Trong thời gian ông N thuê từ năm 2021 đến năm 2024 ông N nhắn tin
cho ông L nhưng không nhớ tài khoản Zalo hay đin thoại về vic bị kiểm tra
phòng cháy ông L không nhớ thời gian. Ông L xác định từ khi xây dựng đến nay
kho xưởng không h thống phòng cháy chữa cháy, còn vic ông N ông H
thỏa thuận với nhau về vic trách nhim xây dựng h thống phòng cháy chữa cháy
do bên thuê hay bên cho thuê phải làm thì ông L không rõ.
Ông L xác định không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Tại Bản án dân sự thẩm số 360/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 70, 71, 72, 73, 92, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều 351, 385, 428, 472, 473, 474, 481 Điều 482 Bộ luật Dân
sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và l phí Toà án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn ông Nguyễn Đức N
đối với bị đơn ông Ngô H về vic “Tranh chấp hợp đồng thuê kho xưởng”.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đức N về vic yêu
cầu bị đơn ông Ngô H hoàn trả số tiền 85.072.050 đồng (tám mươi lăm triu không
trăm bảy ơi hai nghìn không trăm năm mươi đồng), trong đó: tiền đặt cọc
75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triu đồng), tiền lãi 10.072.050 đồng (mười triu
không trăm bảy mươi hai nghìn không trăm năm mươi đồng).
2. Về chi phí xem xét thẩm định: Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn
đồng).
Ông Nguyễn Đức N phải chịu số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng),
được khấu trừ số tiền đã nộp.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Đức N phải chịu số tiền 4.253.603 đồng (bốn triu hai trăm
năm mươi ba nghìn sáu trăm lẻ ba đồng), được trừ vào 1.971.875 đồng (một triu
chín trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) tiền tạm ứng án p
đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0009740 ngày 18/12/2024 của Chi cục
6
Thi hành án dân sthành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (sau sáp nhập Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh). Ông Nguyễn Đức N
còn phải chịu số tiền 2.281.728 đồng (hai triu hai trăm tám mươi mốt nghìn bảy
trăm hai mươi tám đồng).
Ông Ngô H không phải chịu án phí.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi bản án thẩm, ngày 31/12/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Đức
N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kin của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại din hợp pháp của nguyên đơn giữ
nguyên yêu cầu khởi kin u cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về vic giải quyết vụ án.
Người đại din hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Tòa án cấp thẩm
không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chưa xem xét đánh giá toàn din
chứng cứ vụ án; căn cứ nội dung vi bằng thỏa thuận qua các tin nhắn thì ông L
người điều hành quyết định các vấn đề liên quan đến kho xưởng, nhận tiền thuê
hàng tháng ông H không phản đối, vic ông H ủy quyền cho ông L nhận tiền
thuê hàng tháng nên nguyên đơn thông báo cho ông L chấm dứt hợp đồng; có đủ cơ
sở xác định ông H ủy quyền cho ông L thực hin các hoạt động đến hợp đồng thuê
kho, nguyên đơn không thông báo cho bị đơn mà chỉ thông báo cho ông L. Về điều
kin hoạt động của nhà xưởng: căn cứ giấy chứng nhận thì kho phải có phòng cháy
chữa cháy theo khoản 1 Điều 14 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020
của Chính phủ quy định một số chi tiết bin pháp thi hành Luật Phòng cháy
chữa cháy; bđơn chưa đáp ng điều kin về phòng cháy chữa cháy theo quy định
tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP. Cần làm điều kin thế nào
đủ theo mục 7.2 Điều 7 của hợp đồng. Về thanh hợp đồng, hai bên nguyên đơn
và ông L đã thống nhất chấm dứt hợp đồng, đã thực hin từ tháng 5/2024 đến tháng
7/2024 như: nguyên đơn thông báo chấm dứt hợp đồng đến ông L, ông L đưa người
đến xem hin trạng kho xưởng để cho thuê sau khi nguyên đơn di dời, các quyết
định chỉ đạo của ông L đối với hạng mục cần v sinh, xử của kho xưởng u
cầu nguyên đơn giải quyết trước khi di dời, bàn giao nhận bàn giao hin trạng
kho xưởng, sau đó ông L cho người khác thuê nhận tiền thuê từ tháng 8/2025.
Căn cứ mục 4.2 Điều 4 của hợp đồng khi các bên đã thỏa thuận sau khi tiến hành
thanh hợp đồng thì bị đơn trách nhim hoàn trả lại tiền cọc cho nguyên đơn,
do các bên không thỏa thuận về hình thức nên vic thanh không nhất thiết
phải được lập thành văn bản. Các bên đã thực hin đầy đủ các điều khoản điều
kin quy định trong hợp đồng nên cần xem xét để công nhận c bên đã tự nguyn
thanh hợp đồng hợp đồng thuê kho xưởng theo đúng quy định pháp luật. Về
trách nhim thì nguyên đơn đã bàn giao kho xưởng, ông L đã nhận bàn giao không
7
ý kiến khác nên bị đơn trách nhim hoàn trả tiền cọc cho nguyên đơn. Đề
nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án thẩm theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kin của nguyên đơn.
Người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Đề nghị giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
- Đại din Vin Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp
phúc thẩm đã thực hin đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tòa án cấp thẩm sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi
kin của nguyên đơn sở, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Dân
sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của
đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn đơn kháng cáo bản án thẩm,
vic kháng cáo vẫn trong thời hạn quy định, đơn kháng cáo nội dung, hình thức
phù hợp với quy định tại Điều 273, Điều 276 Bluật Tố tụng dân sự nên đủ điều
kin để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Người đại din hợp pháp của nguyên đơn ông Đậu Đc N1 đã được
triu tập hợp l lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; người đại din hợp
pháp của nguyên đơn ông Tấn T yêu cầu tiếp tục tiến hành phiên tòa; căn cứ
khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn, bị đơn thống nhất trình bày, ngày 28/9/2021 ông H, ông N
ký kết hợp đồng cho thuê kho xưởng có nội dung: Ông H (bên cho thuê bên A) và
ông N (bên thuê bên B) cùng thỏa thuận: Bên A cho bên B thuê phần din tích
nhà kho nằm trên din tích đất 715,9m
2
thuộc thửa 295, tờ bản đồ số 23, toạ lạc tại
khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố
Hồ Chí Minh). Mục đích bên B thuê kho xưởng để đóng gói các loại thực phẩm sấy
khô (có giấy chứng nhận đăng kinh doanh). Thời hạn thuê 03 năm tính từ ngày
10/10/2021 đến ngày 09/10/2024; khi hết hạn hợp đồng tùy tình hình thực tế hai
bên thể thỏa thuận gia hạn; trường hợp khi chuẩn bị hết hạn hợp đồng, bên nào
không thỏa thuận gia hạn hợp đồng thì phải thông báo cho bên còn lại biết trước
ngày hết hạn 03 tháng. Bên B đặt cọc cho bên A 75.000.000 đồng ngay sau khi
8
hợp đồng; bên A giao nhà xưởng cho bên B vào ngày 10/10/2021; sau khi hai
bên tiến hành thanh hợp đồng bên A trả lại cho bên B 75.000.000 đồng; trường
hợp n B giao trả nhà xưởng không đúng hin trạng ban đầu, nợ tiền thuê nhà
xưởng hoặc nợ các chi phí khác (nếu có) hoặc gây thit hại cho bên Achưa sửa
chữa khắc phục bồi thường thì bên A được quyền xử khấu trừ vào tiền đặt cọc.
Bên B thanh toán cho bên A bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản ngân hàng do bên A
chỉ định như sau: người thụ hưởng Ngô Đình L, số tài khoản 180014849549 tại
Ngân hàng E (E1) Chi nhánh B. Bên B có quyền đơn phương chấm thực hin hợp
đồng khi bên A một trong các hành vi: tăng giá thuê bất hợp lý, không sửa chữa
kho xưởng khi kho xưởng không đảm bảo an toàn sử dụng; bên đơn phương chấm
dứt hợp đồng phải thông báo cho bên kia biết trước 02 tháng nếu không thỏa
thuận khác. Cam kết chung: trường hợp một trong hai bên nhu cầu thanh hợp
đồng trước thời hạn thì bên A yêu cầu thanh hợp đồng trước thời hạn thì bên A
phải hoàn trả cho 100% tiền đặt cọc, các khoản chi phí phát sinh phục vụ công tác
di dời cho bên B khi biên bản thanh hợp đồng; bên B yêu cầu thanh hợp
đồng trước thời hạn thì bên B mất toàn bộ số tiền đã đặt cọc, bồi thường thit hại
cho bên A và trả lại nhà xưởng như nguyên trạng ban đầu. Ông H đã bàn giao nhà
kho cho ông N; ông N đã giao 75.000.000 đồng tiền đặt cọc cho ông H thông qua
số tài khoản 180014849204549 của ông Ngô Đình L (ông L con của ông H) tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần E Chi nhánh B; ông N đã giao trả nhà xưởng
cho ông H trả tiền thuê đầy đủ đến tháng 7/2024. Đây là các tình tiết không cần
phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn trình bày, do nhà xưởng không h thống phòng cháy chữa
cháy, không đáp ứng nhu cầu kinh doanh, ông N đã nhiều lần nhắn tin phản ánh
cho ông L nhưng không được giải quyết, ngày 06/5/2024 ông N thông báo chấm
dứt hợp đồng thuê vào ngày 09/7/2024, ông N đã giao trả nhà xưởng đã thanh
toán đầy đủ tiền thuê đến hết tháng 7 năm 2024 cho ông H.
Bị đơn trình bày, vic trang bị phòng cháy, chữa cháy là trách nhim của bên
thuê, ông N thuê nhà để kinh doanh mặt hàng sấy khô thì phải tự trang bị h
thống phòng cháy, chữa cháy phù hợp với ngành nghề kinh doanh, ông N chấm dứt
hợp đồng thuê trước thời hạn 03 tháng nên bị đơn không có trách nhim hoàn trả lại
số tiền đặt cọc 75.000.000 đổng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L trình bày, ông H có nhờ ông L
nhận tiền thuê hàng tháng từ ông N, ông L không quyền quyết định liên quan
đến nhà xưởng.
Xét, các bên đều xác định nhà kho chưa h thống phòng cháy chữa cháy,
các bên thỏa thuận nguyên đơn quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong
trường hợp nhà xưởng không đảm bảo an toàn, nguyên đơn cho rằng đã nhắn tin
cho ông L thông báo s chấm dứt hợp đồng thuê từ ngày 05/6/2024 đến ngày
07/9/2024 tchấm dứt hợp đồng thuê đã thực hin đúng về thời hạn thông báo
9
trước. Tuy nhiên, n cứ vào nội dung hợp đồng thể hin bên thuê đã kiểm tra kho
xưởng trước khi nhận bàn giao tại thời điểm nhận bàn giao nguyên đơn không
ý kiến về vic nhà kho không h thống phòng cháy, chữa cháy như vậy
nguyên đơn cho rằng vic kết thúc hợp đồng thuê trước hạn do nhà xưởng không có
h thống phòng cháy chữa cháy chưa phù hợp. Nguyên đơn cho rằng, quan
Công an kiểm tra không đảm bảo về phòng cháy chữa cháy, yêu cầu phải trang bị
h thống phòng cháy chữa cháy nhưng đây chtrao đổi giữa nguyên đơn với
quan Công an, không văn bản giấy tcủa quan phòng cháy chữa cháy yêu
cầu phải thực hin vic trang bị các thiết bị phòng cháy chữa cháy nếu không thực
hin sẽ xử phạt hành chính theo quy định. Vi bằng nguyên đơn cung cấp chỉ thể
hin vic trả tiền thuê cho ông L, trao đổi về sửa chữa kho trước khi giao trả nhà
xưởng. Vic nguyên đơn cho rằng nhắn tin cho ông L về vic chấm dứt hợp đồng,
mọi hoạt động của kho đều do ông L thực hin nên xem như đã thông báo trước
không phù hợp, ông L không được ông H ủy quyền thay mặt ông H để quyết
định các vấn đề trong hợp đồng. Ngoài ra, theo thỏa thuận tại mục 8.1 Điều 8 của
hợp đồng nếu: Bên B yêu cầu thanh lý hợp đồng trước hạn bên B mất toàn bộ số
tiền đặt cọc 75.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại cho bên A trả lại nhà xưởng
nguyên trạng ban đầu”. Vic nguyên đơn yêu cầu thanh lý hợp đồng trước thời hạn
đã vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng nên vic nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại
tiền cọc 75.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.
Bị đơn xác định không yêu cầu phản tố không yêu cầu bồi thường
thit hại nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp quy định.
Về yêu cầu tính lãi suất trên số tiền đặt cọc chậm trả: Do yêu cầu của nguyên
đơn về vic yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền đặt cọc 75.000.000 đồng không được
chấp nhận nên yêu cầu tính lãi suất trên số tiền đặt cọc cũng không được chấp
nhận.
Từ những phân tích trên, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được
chứng cứ gì khác nên kháng cáo không có cơ sở chấp nhận.
Quan điểm của đại din Vin Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
phù hợp.
Trình bày của người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có cơ sở
chấp nhận.
Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015;
10
- Căn cứ Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và l phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức N.
Giữ nguyên Bản án dân sthẩm số 360/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Đức N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng),
được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số
0004358 ngày 14/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vin kiểm sát nhân dân TPHCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 16 - TPHCM;
- Phòng THADS khu vực 16 - TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự (80).
Nguyễn Thị Duyên Hằng
Nơi nhận:
- Vin kiểm sát nhân dân TPHCM;
- TAND khu vực 16 - TPHCM;
- Phòng THADS khu vực 16 - TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự (80).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Duyên Hằng
Tải về
Bản án số 830/2026/DS-PT Bản án số 830/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 830/2026/DS-PT Bản án số 830/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất