Bản án số 236/2026/HS-ST ngày 08/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 236/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 236/2026/HS-ST ngày 08/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 236/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 236/2026/HS-ST Bản án số 236/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 236/2026/HS-ST Bản án số 236/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – BẮC NINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 236/2026/HS-ST
Ngày 07 - 7 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Toản, bà Nguyễn Thị Lại
Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 2 – Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Đình Ước - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở TAND Khu vực 2 – Bắc Ninh tiến
hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 210/2026/TLST-HS ngày
17 tháng 6 năm 2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
225/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2026 đối với Bị cáo:
Họ tên: Trần Quốc H, sinh ngày 21/7/1991; Giới tính: Nam;
CCCD số: ************ do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội cấp.
Tên gọi khác: Không;
Nơi thường trú và chỗ ở: Khu C, xã V, tỉnh Phú Thọ;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Họ tên cha: Trần Tiến T, sinh năm 1962;
Họ tên mẹ: Phùng Thị T1, sinh năm 1965;
Vợ, con: Chưa có;
Gia đình Bị cáo có 04 anh em, Bị cáo là con thứ tư;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Tại quyết định số 07/QĐ- XPTT ngày 16/01/2025, Ủy ban nhân
dân xã Y, tỉnh Phú Thọ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã,
2
phường, thị trấn đối với Trần Quốc H là 03 tháng. Chấp hành xong ngày
16/4/2025.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 206/2022/HS-ST ngày 10/11/2022, Tòa án nhân dân huyện
Đông Anh, thành phố Hà Nội áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
năm 2015 xử phạt Trần Quốc H 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2023, chấp hành xong tiền án phí
ngày 27/9/2023.
- Ngày 17/12/2024, Công an xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC đối với Trần Quốc H về hành vi “sử
dụng trái phép chất ma túy”, phạt cảnh cáo.
- Ngày 27/12/2024, Công an xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC đối với Trần Quốc H về hành vi “sử
dụng trái phép chất ma túy”, phạt tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2026 đến nay. Hiện đang
bị tạm giam tại Phân trại tạm giam V, Trại tạm giam số 2- Công an tỉnh B. (có mặt)
- Bị hại: Chị Nông Thị L, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Bắc
Ninh; (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Ngô Văn T2, sinh năm 1976. Địa chỉ: TDP T, phường T, tỉnh Thái
Nguyên; (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Đăng T3, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn C, xã V, thành phố
Hà Nội. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 10/3/2026, Trần Quốc H sinh năm 1991, hộ khẩu
thường trú tại Khu C, xã V, tỉnh Phú Thọ đi xe mô tô biển kiểm soát 30X8-7461
từ tỉnh Thái Nguyên sang khu vực xã H, tỉnh Bắc Ninh để trộm cắp tài sản. Đến
khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực thôn T, xã H, tỉnh Bắc Ninh,
H thấy quầy thuốc tân dược Luyến Thành của chị Nông Thị L, sinh năm 1992, trú
tại thôn T, xã H đang mở cửa nhưng không có người trông coi. H đỗ xe bên đường
đối diện cửa quán rồi đi bộ vào bên trong, quan sát xung quanh không thấy có ai,
H đi đến vị trí bàn tính tiền đặt ở giữa quầy thuốc trộm cắp của chị L 01 chiếc điện
thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen đút vào túi quần bên phải. Sau đó H đi ra
ngoài điều khiển xe mô tô mang chiếc điện thoại vừa trộm cắp được đến quán điện
thoại Tiến Mạnh của anh Ngô Văn T2, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố T,
phường T, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, H hỏi anh T2 là “có mua điện thoại không”,
anh T2 hỏi mật khẩu để mở máy kiểm tra thì H nói không có. Thấy vậy, anh T2
hỏi về nguồn gốc chiếc điện thoại thì H trả lời là điện thoại nhặt được. Anh T2
3
đồng ý mua điện thoại, hai bên thống nhất giá là 1.400.000 đồng. Anh T2 yêu cầu
H viết cam kết, H viết ra một tờ giấy với nội dung “Tên tôi là Trần Văn T4 phố nỉ
tôi có ip Xsmax tôi nhặt được không phải máy trộm cắp. Tôi nói đúng nếu sai tôi
xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật, ký tên T4- Trần Văn T4”, H lấy
tên giả là Trần Văn T4 để tránh bị phát hiện. H đưa điện thoại và giấy cam kết cho
anh T2 xong anh T2 trả tiền mặt cho H.
Sau khi bán điện thoại, H đi đến khu vực cổng khu công nghiệp S, Thái
Nguyên gặp người đàn ông không quen biết, đeo khẩu trang hỏi mua 200.000
đồng tiền ma túy heroin, người đó đồng ý, H đưa cho người đó 200.000 đồng tiền
mặt, người đó đưa cho H 01 gói giấy bạc trong có ma túy heroin. Ngay sau đó, H
đi đến khu vực nghĩa trang gần đó để sử dụng ma túy bằng hình thức trích.
Đến khoảng 12 giờ ngày 12/3/2026, H một mình tiếp tục ra khu vực đã mua
ma túy hôm trước hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy heroin của người đàn ông
đã bán ma túy cho H ngày 10/3/2026, người đó đồng ý. H đưa cho người đó
1.000.000 đồng, người đó đưa cho H 05 gói giấy bạc trong chứa ma túy heroin. H
cầm rồi cất vào trong túi áo bên trái với mục đích mang về để sử dụng dần.
Ngày 12/3/2026, chị Nông Thị L trình báo Công an xã H, tỉnh Bắc Ninh về
việc bị trộm cắp 01 chiếc thoại Iphone Xsmax, màu đen lắp sim số 0942.560.598.
Cùng ngày 12/3/2026, Công an xã H đã xác minh, truy tìm và yêu cầu Trần
Quốc H về trụ sở làm việc. Tại đây, Trần Quốc H xin đầu thú và giao nộp:
- 05 gói giấy bạc, bên trong mỗi gói đều chứa chất cục bột màu trắng (nghi
là ma túy) được niêm phong trong phòng bì ký hiệu “MT”; 01 chiếc áo khoác da
mặt ngoài và mặt trong áo đều màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS,
màu đen xám, biển kiểm soát 30X8-7461, số khung RLHJC4318AY645182, số
máy JC43E1382532 và 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu đỏ, có kính bằng nhựa trong
suốt.
- 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 5, điện thoại cũ đã qua sử dụng, Imei
1: 865545057848333, Imei 2: 865545057848325, bên trong lắp sim số
0394595633, kiểm tra điện thoại không phát hiện nội dung có liên quan đến hành
vi phạm tội;
Đối với số tiền 1.400.000 đồng tiền bán điện thoại trộm cắp được, H đã sử
dụng 1.200.000 đồng để mua ma túy, số tiền còn lại 200.000 đồng H đã chi tiêu cá
nhận hết.
Ngày 12/3/2026, Cơ quan điều tra tiến hành xác định hiện trường vụ trộm
cắp tài sản, thu giữ 02 đoạn video tại camera an ninh của gia đình chị L có nội
dung H vào trộm cắp điện thoại. Cơ quan điều tra cho H xem lại video đã thu giữ,
kết quả H xác định người trong video thực hiện hành vi trộm cắp chính là H.
Ngày 13/3/2026, anh Ngô Văn T2 giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 điện
thoại Iphone Xs Max, màu đen, IMEI: 357279099852278, điện thoại đã qua sử
dụng, góc dưới bên trái màn hình điện thoại có bị mẻ một vết nhỏ được niêm
phong trong phong bì ký hiệu “ĐT”; 01 tờ giấy có nhiều chữ và các dòng kẻ ngang,
4
trên giấy có nội dung viết tay bằng bút mực màu đen "tôi tên là trần văn tuấn...
chịu trách nhiệm trước pháp luật và có chữ ký đề tên Trần Văn T4” được niêm
phong trong phong bì, ký hiệu “GIẤY”(bút lục 30, 87-94). Cơ quan điều tra thu
giữ 01 video từ camera giám sát an ninh tại gia đình anh T2 có hình ảnh H đến bán
điện thoại. Đối với chiếc thẻ sim vật lý nhà mạng Vinaphone lắp trong điện thoại
của chị Nông Thị L, H đã tháo và vứt trên đường đi sau khi trộm cắp. Cơ quan
điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng không có kết quả.
Ngày 20/3/2026, Cơ quan điều tra cho chị L và H nhận dạng chiếc điện
thoại do anh Ngô Văn T2 giao nộp, kết quả: H xác định đó chính là chiếc điện
thoại H đã trộm cắp của chị L, chị L xác định đó đúng là chiếc điện thoại của chị
bị trộm cắp ngày 10/3/2026.
Ngày 31/3/2026, Cơ quan điều tra cho H xác định vị trí sử dụng trái phép
chất ma túy và truy tìm các đồ vật H dùng để sử dụng ma túy nhưng không thu giữ
được. Kết quả xét nghiệm chất ma túy (test nhanh nước tiểu) ngày 12/3/2026, Trần
Quốc H dương tính với H1.
Tại kết luận định giám định số 1417/KL-KTHS ngày 27/3/2026, Phòng K
Công an tỉnh B kết luận: Chữ viết trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ
viết của Trần Quốc H trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một
người viết ra.
Tại kết luận định giám định số 1270/KL-KTHS ngày 19/3/2026, Phòng K
Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 phong bì ký hiệu “MT” được niêm phong, gửi
giám định: Chất cục bột màu trắng được đựng trong 05 gói giấy bạc có hai mặt
màu trắng bạc đều là ma túy, loại Heroine (H), tổng khối lượng 0,353 gam.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2026,Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã H kết luận: 01 chiếc điện
thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, 256GB, màu đen (đã qua sử dụng), góc
dưới bên trái màn hình điện thoại có bị mẻ một vết nhỏ tại thời điểm ngày
10/3/2026 là 5.300.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 09/4/2026,Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã H kết luận:Chi phí cấp lại 01
thẻ sim vật lý của nhà mạng Vinaphone, thời điểm định giá ngày 10/3/2026 là
12.500 đồng.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho H vào ngày 10/3/2026 và 12/3/2026,
Cơ quan Điều tra đã cho H xác định vị trí, qua rà soát xác định khu vực đó không
có camera an ninh, không xác định danh tính đối tượng đã bán ma túy cho H nên
không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Quốc H, Cơ quan
điều tra tiến hành xác minh tại Công an xã V, tỉnh Phú Thọ. Kết quả: H không
thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Ngày
20/5/2026, Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Công an phường P, tỉnh Thái
Nguyên xem xét xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma
túy đối với Trần Quốc H.
5
Đối với anh Ngô Văn T2 có hành vi mua chiếc điện thoại do H đem bán
nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp mà có nên anh T2 không vi phạm pháp
luật.
Đối với 01 điện thoại Iphone Xs Max, màu đen, IMEI: 357279099852278,
điện thoại đã qua sử dụng, góc dưới bên trái màn hình điện thoại có bị mẻ một vết
nhỏ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị L. Ngày20/3/2026, Cơ quan điều tra đã
trả lại cho chị Nông Thị L.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu đen xám, biển kiểm
soát 30X8-7461, H khai mua của người đàn ông lạ mặt cuối năm 2025 không có
giấy tờ gì. Kết quả xác minh chủ xe mang tên anh Nguyễn Đăng T3, sinh năm
1985, địa chỉ thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là thôn C, xã V, thành
phố Hà Nội). Anh T3 trình bày anh bị mất trộm xe vào tháng 9/2025 tại thôn C, xã
V, thành phố Hà Nội. Ngày 16/4/2026, Cơ quan điều tra đã bàn giao chiếc xe cho
Công an xãVĩnh Thanh, thành phố Hà Nội để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 17/6/2026 của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 2 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản”
theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất
ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị
cáo và đề nghị HĐXX:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc H từ 10 tháng đến 01 năm tù về tội
“Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc H từ 03 năm 08 tháng đến 03 năm
10 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp
hành hình phạt tù chung cho cả 2 tội từ 04 năm 06 tháng tù đến 04 năm 10 tháng
tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2026.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản giá trị, không có nghề nghiệp
ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nông Thị L đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, chị
đã đi làm lại số sim điện thoại bị mất số tiền không lớn nên chị không có yêu cầu
bồi thường gì thêm; Anh Ngô Văn T2 xác định số tiền không lớn nên không yêu
cầu H phải hoàn trả lại anh số tiền đó nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra
xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật
tố tụng hình sự 2015.
Trả lại cho bị cáo Trần Quốc H 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 5, điện
thoại cũ đã qua sử dụng, Imei 1: 865545057848333, Imei 2: 865545057848325
nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
6
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì được niêm phong lại bằng hình dấu của
Phòng K Công an tỉnh B có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng
cầu giám định; 01 áo khoác da mặt ngoài và mặt trong áo đều màu đen; 01 mũ bảo
hiểm nửa đầu màu đỏ, có kính bằng nhựa trong suốt.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố, Điều tra
viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy
tố, xét xử tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, Bị
cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Bị hại và người liên quan vắng mặt nhưng có đầy đủ lời khai trong hồ sơ
nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố
tụng hình sự 2015.
[3] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi bị truy tố của Bị cáo: Lời
khai nhận tội của Bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Khoảng 17 giờ 40 phút
ngày 10/3/2026, tại quầy thuốc tân dược Luyến Thành của gia đình chị Nông Thị
L, sinh năm 1992 ở thôn T, xã H, tỉnh Bắc Ninh, Trần Quốc H đã có hành vi lén
lút trộm cắp của chị L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệuIphone Xs Max, màu
đen, IMEI: 357279099852278, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim
vật lý nhà mạng Vinaphone số 0942.560.598, tổng trị giá tài sản bị trộm cắp là
5.312.500 đồng. Sau khi trộm cắp được điện thoại, H đem bán điện thoại được
1.400.000 đồng. Cùng ngày 10/3/2026, H một mình đến khu vực cổng khu công
nghiệp S, Thái Nguyên sử dụng 200.000 đồng từ tiền bán điện thoại để mua ma
túy heroin của người đàn ông không quen biết rồi một mình sử dụng hết. Đến
khoảng 12 giờ ngày 12/3/2026, H tiếp tục sử dụng 1.000.000 đồng từ tiền bán điện
thoại để mua 05 gói ma túy heroin có tổng khối lượng là 0,353 gam để sử dụng
nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan điều tra thu giữ.
Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại và hành
vi hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự, nhận thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả đồng thời
mong muốn chiếm đoạt được tài sản của bị hại để tiêu sài cá nhân. Bị cáo nhận
thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết
rất rõ ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, không chỉ hủy hoại sức khỏe con
người, mà còn là nguồn gốc làm phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác nhưng vẫn
7
cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật.
Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của Bị cáo Trần Quốc H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp
tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái
phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó,
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản”
theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất
ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 1 tiền sự và có nhân thân xấu:
Tiền sự: Ngày 16/01/2025, bị Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Phú Thọ áp dụng
biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là 03
tháng. Chấp hành xong ngày 16/4/2025
Nhân thân:
- Ngày 10/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Ngày 17/12/2024, Công an xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, phạt cảnh
cáo.
- Ngày 27/12/2024, Công an xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm
hành chính số 06/QĐ-XPHC đối với Trần Quốc H về hành vi “sử dụng trái phép
chất ma túy”, phạt tiền 1.500.000 đồng.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Quốc H không phải
chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật
Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị
cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú nên được áp dụng tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản giá trị, không có nghề
nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nông Thị L đã nhận lại tài sản bị trộm cắp,
chị đã đi làm lại số sim điện thoại bị mất số tiền không lớn nên chị không có yêu
cầu bồi thường gì thêm; Anh Ngô Văn T2 xác định số tiền không lớn nên không
yêu cầu H phải hoàn trả lại anh số tiền đó nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem
xét giải quyết.
[9] Về vật chứng:
Đối với 01 phong bì được niêm phong được niêm phong lại bằng hình dấu
của Phòng K Công an tỉnh B có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan
trưng cầu giám định: Trong có phong bì có vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật hoàn lại
sau giám định tiến hành tịch thu tiêu huỷ.
8
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 5, điện thoại cũ đã qua sử dụng,
Imei 1: 865545057848333, Imei 2: 865545057848325, bên trong lắp sim số
0394595633, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Hùng1” không phát
hiện nội dung có liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 áo khoác da mặt ngoài và mặt trong áo đều màu đen tiến hành
tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu đỏ, có kính bằng nhựa trong suốt tiến
hành tịch thu tiêu huỷ.
[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23,
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo
Trần Quốc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38
Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc H 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc H 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp
hành hình phạt tù chung cho cả 2 tội là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn
tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2026.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự 2015.
Trả lại cho bị cáo Trần Quốc H 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 5, điện
thoại cũ đã qua sử dụng, Imei 1: 865545057848333, Imei 2: 865545057848325
nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì được niêm phong lại bằng hình dấu của
Phòng K Công an tỉnh B có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng
cầu giám định; 01 áo khoác da mặt ngoài và mặt trong áo đều màu đen; 01 mũ bảo
hiểm nửa đầu màu đỏ, có kính bằng nhựa trong suốt.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23,
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo
Trần Quốc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
9
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người bào chữa có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Người đại diện của bị cáo; Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND KV2 – Bắc Ninh;
- CQ CSĐT- Công an tỉnh Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Người bào chữa;
- Bị hại;
- UBND xã (phường) Bị cáo cư trú;
- Bị cáo;
- Lưu HS, VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Văn Trường
10
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
(Ký tên, ghi rõ họ tên)
Nguyễn Văn T5
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 236/2026/HS-ST Bản án số 236/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 236/2026/HS-ST Bản án số 236/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất