Bản án số 23/DSST ngày 11/08/2025 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • Bản án số 23/DSST

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • Bản án số 23/DSST

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 23/DSST

Tên Bản án: Bản án số 23/DSST ngày 11/08/2025 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 23/DSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Đ khởi kiện ông Nguyễn Thanh B yêu cầu trả lại diện tích đất 31,9m2 cho rằng ông B đã lấn chiếm của bà và đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Uỷ ban nhân dân cấp cho ông Nguyễn Thanh B và bà Vũ Thị Tuyết M.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 23/2025/DS-ST
Ngày 11- 8-2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất;
Đề nghị huỷ GCNQSDĐ của UBND”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Ngọc Thức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
2. Bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư phiên toà: Ông Hồng Phong, Thẩm tra viên Toà án nhân dân
tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa:
Ma Thị Thắm, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét
xử thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số 16/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 10
năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; đnghị hủy Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất của Uỷ ban nhân dân”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
09/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Thị Đ, sinh năm 1940; Địa chỉ: Số nhà 04, tổ dân
phố M. X 14, phường M. X, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Hng Kim
Th, Luật sư - Văn phòng Luật sư số 54, Đoàn Luật sư tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số nhà 30, tổ dân
phố M. X 14, phường M. X, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
+ y ban nhân dân thành phố T. Q, tỉnh Tuyên Quang; Địa chỉ: Tổ 9,
phường A. T, thành phố T. Q, tỉnh Tuyên Quang. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng: Ủy ban nhân dân phường M. X, tỉnh Tuyên Quang; Địa chỉ: Số 429, đường
Tr. Ch, phường M. X, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Ủy ban nn dân phường M. X, tỉnh Tuyên Quang; Địa chỉ: S 429,
đường Tr. Ch, phường M. X, tỉnh Tun Quang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử
vắng mặt.
2
+ Thị Tuyết M, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số nhà 30, tổ dân phố M. X
14, phường M. X, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
+ Ông Trương Văn H, sinh năm 1959; Trương Thị Ngọc L, sinh năm
1964; Trương Thị K, sinh năm 1969. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố M. X 14,
phường M. X, tỉnh Tuyên Quang. Đều có mặt.
+ Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1957: Địa chỉ: tổ dân phố M. X 10, phường
M. X, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên
tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Đ trình bày :
Về nguồn gốc đất: Trước năm 1958 bố mtôi khai phá một diện tích đất
để sử dụng thuộc tổ 28, nay tổ dân phố 14, phường M. X, thành phố T. Q, gia
đình tôi trên diện tích đất khai phá cho cho đến nay. Quá trình sử dụng đất vào
khoảng năm 2001 tôi chuyển nhượng một phần đất cho anh Kim Hồng Gi, khi
chuyển nhượng cho anh Gi thì một phần diện tích đất của gia đình tôi có 31,9m
2
b
chia cắt vẫn còn một lối nhỏ đi vào khu vực đất này, diện ch đất này gia đình
tôi không sử dụng vẫn để như vậy. Đến ngày 21/7/2008, tôi được UBND thành
phố T. Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 29, tờ bản đồ số
21 tổng diện tích đất là 670,4m
2
. Trong đó cả phần đất tranh chấp
31,9m
2
.
Giáp với phần đất của gia đình tôi gồm các gia đình: Ph, bà Nh, ông D,
một phần giáp với gia đình ông Nguyễn Văn A, một ngõ đi chung, năm 1999
ông A chuyển nhượng cho vợ chồng anh Nguyễn Thanh B và chị Vũ Thị Tuyết M,
khi ông ông A chuyển nhượng cho gia đình anh B thì diện tích nhà đất rất nhỏ chỉ
chiều rộng mặt đường 3,6m x chiều dài 12m, khi gia đình anh B chuyển
đến nhà rất chật chội, còn chưa nhà đi vệ sinh anh chị còn đến gặp tôi cho đi
vệ sinh nhờ, trên diện tích đất hiện đang tranh chấp, do tình làng nghĩa xóm
thấy hoàn cảnh của gia đình anh chị như vậy tôi cũng nhất trí.
Đến năm 2018 khi gia đình nhà chị Ch (nhà mặt đường) tháo d nhà để
làm nhà mới, thì tôi mới biết phần diện tích đất 31,9m
2
của gia đình tôi đã bị gia
đình anh Nguyễn Thanh B mượn để s dụng làm công trình phụ, phần đất lấn
chiếm của tôi anh B chưa xây dựng kiên cố mà chỉ làm lợp ngói fibroximang.
Trước sự việc này tôi sang trao đổi với gia đình anh B, tanh B nói phần diện
tích đất này anh đã mua lại của ông A trong khi đó ông A lại khẳng định gia
đình ông đã xây dựng tường rào không liên quan gì đến phần đất có tranh chấp của
gia đình tôi. Do gia đình anh Nguyễn Thanh B không thiện chí trong việc trả lại đất
cho gia đình tôi, buộc tôi làm đơn đến UBND phường M. X giải quyết yêu cầu anh
B phải trả lại cho tôi diện tích đã lấn chiếm, UBND phường M. X đã nhiều lần tiến
hành làm việc và hòa giải nhưng không thành, anh B có đưa ra ra giấy CNQSD đất
3
đứng tên anh Nguyễn Thanh B và vợ Thị Tuyết M lúc này tôi mới được biết
diện tích đất tranh chấp của gia đình tôi lại nằm trong giấy chứng nhận của gia
đình anh B. Việc anh B lập thủ tục xin cấp Giy CNQSD đất nthế nào gia đình
tôi không biết, nhưng trước đây gia đình tôi chuyển nhượng đất cho ông A chính
tay tôi cầm thước để đo chiều sâu 14m, sau đó anh B nhận chuyển nhượng
chiều sâu 14m, nay trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh chị chiều sâu
lại lên 18,65m, như vậy đã cấp chồng lên cả diện tích đất của gia đình tôi, làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của bản thân tôi. Hiện tại trong gia đình tôi một mình tôi
sinh sống, chồng tôi Trương Quốc Th đã chết năm 2003, ngoài ra các con tôi
không chung sống cùng với tôi, các con tôi đều đã trưởng thành cuộc sống
riêng, không quyền sử dụng đất chung, không được N nước giao quyền sử
dụng đất, không liên quan tới quyền sử dụng đất của tôi tại thời điểm cấp Giấy
CNQSD đất. Diện tích đất anh Nguyễn Thanh B tranh chấp với tôi diện tích đất
31,9m
2
, phần đất lấn chiếm này anh B chưa xây dựng kiên cố chỉ làm một
nhà tạm, lợp ngói pờluximang trên diện tích đất tranh chấp. Ngoài ra không
tài sản khác trên phần đất tranh chấp. vậy tôi làm đơn khởi kiện đến Tòa
án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đề nghị Tòa án giải quyết.
1. Hủy mt phn giy chứng nhn quyn sử dụng đất số CA 541863, o sổ
cấp Giấy CNQSD đất: CH 001528/MX, cấp ngày 25/12/2018, của UBND thành ph
T. Q, tỉnh Tuyên Quang cấp cho ông Nguyễn Thanh B Thị Tuyết M, đối với
phần diện tích đất 31,9m
2
, tại thửa đất số 36, tbản đồ số 21.
2. Buộc ông Nguyễn Thanh B phải trả lại cho tôi diện tích đất 31,9m
2
đã lấn
chiếm của gia đình tôi. Trị giá tài sản tranh chấp tôi tạm tính trị giá 30.000.000đ
(Ba mươi triệu đồng).
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết tại phiên toà
bị đơn ông Nguyễn Thanh B trình bày:
Tôi anh trai của ông Nguyễn Văn A vợ Nguyễn Thị Kh tổ 10
phường M. X năm 1984 ông A mua 1 mảnh đất của ông Trương Văn Đ vợ là
Thị T, trú tại tổ 28 nay tổ 14 phường M. X sau khi mua bán nhất trí cùng
nhau đo đạc đất có người cùng làm chứng là mẹ đẻ của ông Trương Văn Đ vợ là
T anh trai là Trương Văn Th chồng của Trần Thị Đ, về phía chính quyền có Ủy
ban nhân dân thị cùng đo đạc diện tích 160m
2
chiều rộng đằng trước 12m,
chiều dài 14 m đến năm 1988 ông A được cấp hồ nhà đất giấy phép số 95 của
UBND thxã, cấp giấy phép xây nhà. Đến năm 1990 tôi chuyển đến bên cạnh
nhà ông A nhu cầu chuyển qua cho tôi diện tích đất được chính quyền địa
phương đo đạc cho tôi được quyền sử dụng. Do điều kiện gia đình khó khăn đến
năm 2018 tôi mới làm được Giấy CNQSD đất có tổng diện tích là 76m². Tháng 12
năm 2018 Trần Thị Đ đơn kiện gia đình nên Ủy ban nn dân phường M. X
mời tôi đến để giải quyết, Ủy ban nhân dân đã cho cán bộ địa chính đến để đo đạc
đất tôi sử dụng, trong hồ ông A chuyển nhượng cho tôi. Đến năm 2021 Trần
4
Thị Đ khởi kiện tôi đến Tòa án nhân dân thành phố và không giải quyết được ngày
12/2021 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Khi tôi nhận được thôngo thụ lý v
án, ngày 27/11/2024 đi đến a án i mới nhìn thấy Giấy CNQSD đất của Đ
không khớp với giấy sử dụng đất của i. Tính thời gian tôi sinh sống tại tổ 28 cũ nay
tổ 14 đã tròn 34 năm đóng thuế đất đầy đủ, gia đình chấpnh cnhch của Đảng
của Nhà ớc và cnh quyn địa phương, tôi mong muốn Tòa án Tuyên Quang xem
t giải quyết cho i, đất i đang sử dụng là đất hợp pháp; việc Đ khởi kin u
cầu tôi trlại 31,9m
2
(theo kết quả thẩm định, đo đạc 19,9m
2
đất) tôi không nhất trí.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày như sau:
+ Đại diện UBND phường M. X ông Nguyễn Trung Ch công chức địa
chính: Tại sổ mục năm 1998 thể hiện: Trang s57, thửa số 36, tờ bản đồ số
21, tên chủ sử dụng đất ông Nguyễn Thanh B, diện tích đất khai 98,5m
2
; cùng
trang số 57, thửa số 29, tờ bản đồ số 21, tên chủ sdụng đất ông Trương Văn
Th, diện tích đất kê khai 1081,2m
2
.
Tại quyển hồ sơ kỹ thuật thửa đất có thể hiện: Hồ sơ k thuật thửa đất số 36,
tờ bản đồ số 21, diện tích 98,5m
2
, tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Thanh B, địa
chỉ tại tổ 28 (nay tổ 14), phường M. X, thành phố T. Q, tỉnh Tuyên Quang; Hồ
sơ kỹ thuật thửa đất số 29, tờ bản đồ số 21, diện tích 1081,2m
2
, tên chủ sử dụng đất
ông Trương Văn Th, địa chỉ tại tổ 28 (nay tổ 14), phường M. X, thành phố T.
Q, tỉnh Tuyên Quang.
Tại sổ địa chính thể hiện: Tại trang số 37, người sử dụng đất bà Trần Thị Đ,
thửa đất số 29, tờ bản đồ số 21, diện tích 120m
2
đất tại đô thị 550,4m
2
đất
trồng cây lâu năm, Giấy CNQSD đất số AK 855629, số vào sổ cấp giấy H 02149,
cấp ngày 21/7/2008;
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh căn cứ hồ do Ủy ban nhân dân phường thu
thập cung cấp, kiểm tra, xác minh quá trình giải quyết hồ sơ xin cấp Giấy CNQSD
đất của các hộ gia đình giải quyết theo quy định.
+ Đại diện theo uỷ quyền của chủ tịch UBND thành phố T. Q ông Đỗ Tuấn
C bản tự khai trình bày: Uỷ ban nhân dân Thành phố T. Q kiểm tra quá trình
công khai thủ tục đăng cấp Giấy CNQSD đất của Đ là đúng pháp luật. Tại
thời điểm cấp giấy chứng nhận ngày 21/7/2008. Việc Trần Thị Đ khởi kiện yêu
cầu hủy mt phần Giấy CNQSD đất của ông B và bà M đối với diện tích 31,9 tại
thửa đất số 36 tờ bản đồ số 21 địa chỉ thửa đất tổ 28 phường M. X thị Tuyên
Quang nay tổ 14 phường M. X thành phố T. Q, ủy ban nhân dân thành phố T. Q
đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh căn cứ hồ sơ do Ủy ban nhân dân thành phố cung cấp
và quy định của pháp luật để kiểm tra xác minh giải quyết vụ việc theo quy định.
+ Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Tuyết M (vợ của ông
Nguyễn Thanh B) trình bày: Đất nhà tôi mua lại của ông A 14m sau đó tôi
mua lại đất của ông Như phía trước nên diện tích đất bây githay đổi so với
diện tích ban đầu mua của ông A.
5
+ Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn A trình bày: Về
nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp giữa bà Trần Thị Đ và ông Nguyễn Thanh
B, nguồn gốc đất tôi mua năm 1984 mua của ông Trương Văn Đ
Thị T (Ông Trương Văn Đ em ruột của ông Trương Văn Th chồng của Trần
Thị Đ); khi mua mặt cả ông Th, Đ ông, việc tôi mua đất còn mặt của
đại tổ khu phố, cán bộ địa chính của chính quyền địa phương đến đo đạc, làm hồ
sơ chuyển nhượng theo đúng quy định của pháp luật.
Ông Trương Văn Đ, Thị T hiện nay đã chết; tôi không nhớ diện tích
đất chuyển nhượng là bao nhiêu, chỉ nhớ phần đất phía Tây giáp nhà ông Th, Đ
dài 15m, phía Đông giáp đường đi vào phường T. H (mặt đường Hồng Phong),
phía Nam giáp nhà ông Nh, H, phía Bắc giáp nhà ông B, T (là người bán
đất). Tôi chỉ nhớ như vậy chứ không nhớ c thể.
Sau khi mua n chuyển nhượng, gia đình i được Uỷ ban nhân n th
Tuyên Quang (nay là UBND thành phố T. Q) cấp Hồ nhà đất theo quy định và sau
đó (tôi không nhớ cụ thnăm o) i chuyển nhượng lại c hộ V, hộ ông H,
M hộ ông B, M (là anh trai tôi) s dụng từ khoảng đu những năm 1990 cho
đến nay. i khẳng định diện tích đất mà Trần ThĐ tranh chấp (đất đã được T
án thẩm định) với ông B anh trai tôi nguồn gốc là củai mua bán, chuyển nhượng
của ông Trương n Đ, Thị T em của ông Th (chồng Đ); Trần ThĐ
kiện đòi kng có n cứ, đề nghị T án gii quyết theo quy định.
+ Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Thị Ngọc L,
Trương Thị K (là các con của bà Trần Thị Đ) trình bày: Chị L, chị K: Mẹ tôi
Đ mảnh đất 31,9m
2
, phía sau nhà anh B mẹ tôi không bán cho ai giờ không
còn đủ 31.9m
2
. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật và tôi không
có ý kiến gì thêm.
Ông H (là con của Trần Thị Đ) trình bày: Đất bán cho ông A đất của
chú thím của tôi, ông A nói mt phần đúng, mẹ tôi nói quyền sở hữu đất từ cha ông
để lại, mục đích lên đến Toà án tỉnh điều tra ràng quyền sử dụng đất của anh
B chính xác hay không, địa chính lên đồ đo đạc, diện tích trong nnào.
Sau khi chuyển đổi đất rồi tách ra bố mẹ cho từng thửa một, tôi không có ý kiến gì,
đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, Luật
Hoàng Kim Th trình bày:
Về nguồn gốc đất tranh chấp: Trước năm 1950 bố mẹ Trần Thị Đ
khai phá một diện tích đất để sử dụng thuộc tổ 28, nay là tổ dân phố 14, phường M.
X, thành phố T. Q, gia đình Đ trên diện tích đất khai phá cho cho đến nay.
Quá trình sử dụng đất vào khoảng năm 2001 Đ chuyển nhượng một phần đất
cho anh Kim Hồng Gi, khi chuyển nhượng cho anh Gi thì một phần diện tích đất
của gia đình sát nanh Gi vẫn còn có 31,9m
2
bị chia cắt và vẫn còn một lối nhỏ đi
vào khu vực đất này, diện tích đất này gia đình Đ không sử dụng và vẫn để như
6
vậy. Đến ngày 21/7/2008, Đ được UBND thành phố T. Q cấp Giấy CNQSD đất
tại thửa đất số 29, tờ bản đồ số 21 có tổng diện tích đất là 670,4m
2
.
Vào những năm 1979-1980 diện tích đất của gia đình Đ đã được đo vẽ
lập bản đồ 299, theo bản đồ 299 thì diện tích đất tranh chấp giữa được nằm
trong diện tích đất của gia đình Đ, trải qua các thời kỳ sự biến động về đất
của các hdân sống trên địa bàn phường M. X nên sự điều chỉnh lại bản đồ địa
chính và lập hồ sơ kỹ thuật của thửa đất. Khi đo vẽ lại các hộ giáp ranh trong đó có
hộ gia đình bà Trần Thị Đ đất giáp với gia đình ông B lại không được trực tiếp
tham gia có mặt và ký hộ giáp ranh như biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa
đất, nên không biết phần đất của mình đã được vẽ vào bản đồ địa chính và hồ sơ kỹ
thuật thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh B. Trước thời điểm đo vlại bản
đồ, gia đình ông Nguyễn Thanh B đo phần đất mua còn chật chội, đã mượn một
phần đất của gia đình bà Trần Thị Đ để làm nhà vệ sinh làm một phần cho sinh
hoạt gia đình, Đ nhất trí, khi điều chỉnh lại bản đồ giải thửa Đ không được
chứng kiến.
Năm 2001 bà Trần Thị Đ chuyển quyền sử dụng đất cho anh Kim Hồng Gi
anh Gi chuyển nhượng lại cho anh Đỗ Duy Ph, Đ vẫn thường xuyên xác
nhận với anh Ph là phần đất của bà giáp với nhà anh Ph và nhà ông B vẫn còn diện
tích đất 31,9m
2
, anh Đỗ Duy Ph cũng đã xác nhận là đúng.
Khi gia đình ông Nguyễn Thanh B nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông
Nguyễn Văn A thì thửa đất của gia đình ông A đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất 160m
2
, chiều dài của thửa đất 14m, ông A đã chuyển nhượng
cho ba gia đình trong đó có ông Nguyễn Thanh B, ông B lại được cấp diện tích đất
76,0m
2
, chiều dài 18,65m, vượt 4,65m so với Giấy CNQSD đất của ông A
đã được cấp.
Giấy chuyển nhượng thổ lập ngày 30/3/1999 giữa vợ chồng ông Nguyễn
Văn A Nguyễn Thị Kh vợ chồng ông Nguyễn Thanh B, Thị Tuyết M
được lập giữa hai bên không các quan thẩm quyền xác nhận, không
nhân chứng chỉ hai bên tự kết với nhau, nên không gía trị pháp để căn
cứ cấp Giấy CNQSD đt.
Giấy đổi đất ngày 5/3/1988 giữa ông Nguyễn Văn Nh, ông Nguyễn Văn A
người làm chứng ông Đào Quang Q, khi giữa hai bên ông A ông Nh thống
nhất đổi đất cho nhau không rõ vị trí, diện tích đất cần đổi.
Năm 2018 gia đình ông Nguyễn Thanh B, Thị Tuyết M xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, trong hồ xin cấp, không đơn xin cấp Giấy
CNQSD đất, biên bản xác định ranh giới, hiện trạng sử dụng đất, không quyết
định về việc cấp Giấy CNQSD đất của UBND thành phố T. Q, Trần Thị Đ hộ
liền kề nhưng không được giáp ranh. Như vậy việc cấp giấy chứng nhận cho
người sử dụng đất là ông Nguyễn Thanh B và bà Thị Tuyết M không đúng quy
định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.
7
Từ những nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện
của bà Trần Thị Đ.
1. Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 541863, vào sổ
cấp Giấy CNQSD đất: CH 001528/MX, cấp ngày 25/12/2018, của UBND thành
phố T. Q, tỉnh Tuyên Quang cấp cho ông Nguyễn Thanh B và bà Thị Tuyết M,
đối với phần diện tích đất 31,9m
2
, tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 21.
2. Buộc ông Nguyễn Thanh B, Thị Tuyết M trả lại cho Trần Thị Đ
diện tích đất 31,9m
2
.
1. Về kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.
1.1. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ Mảnh trích đo hiện trạng sử
dụng đất để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Trần Thị
Đ với bị đơn ông Nguyễn Thanh B (theo kết quả thẩm định tại chỗ ngày
22/4/2025), thể hiện: - Ranh giới thửa đất do nguyên đơn Trần Thị Đ bị đơn
ông Nguyễn Thanh B chỉ dẫn ngoài thực địa xác định tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6,
7, 8, 9, 10, 11, 1. Diện tích thửa đất đo đạc là 79,4m
2
. Trong đó:
+ S1= 59,5m
2
là phn diện tích kng tranh chấp đưc gii hạn bởi các điểm 1,
2, 3, 4, 11, 1 năm trong Giấy chứng nhận đã cp cho ông Nguyn Thanh B.
+ S2 S3 = 19,9m
2
phần diện tích đang tranh chấp (S2 được giới hạn
bởi các điểm 4, 5, 6, 12, 11, 4 diện tích 16,1m
2
phần diện tích nằm ranh giới
Giấy chứng nhận đã cấp cho ông B; (S3 được giới hạn bởi các điểm 5, 6, 7, 8, 9,
10, 11, 12, 5 diện ch = 3,8m
2
) phần diện tích nằm ngoài ranh giới Giấy chứng
nhận đã cấp cho ông B
1.2. Kết quả định giá tài sản:
- Về đất: Diện tích 19,9m
2
đất tranh chấp, đất trồng cây lâu năm: Đường loại
1, vị trí 1 đường Hồng Phong; địa chỉ thửa đất tổ 14, phường M. X, thành phố
T. Q, tỉnh Tuyên Quang( nay phường M. X, tỉnh Tuyên Quang) giá trị đất trồng
cây lâu năm716.400 đồng.
- Về tài sản là công trình và vật kiến trúc xây dựng trên đất là:
+ Nhà, vật kiến trúc trên đất cụ thể.
+ Nhà xây tạm năm 2007, nhà xây cấp IV, tường 110mm, mái lợp
fibroximang, kèo gỗ, ờng quét vôi màu vàng. Diện tích xây dựng (4,82m x
2,23m) + (4,82m x 13,05m)/2 = 36,74m
2
. Hiện trạng mái đã bị hư hỏng, nhà xuống
cấp, chất lượng còn 10%.
+ Nhà vệ sinh xây năm 2007, cấp IV, tường 110 mm, mái lợp fibroximang,
kèo gỗ, tường ốp gạch 20 x 25 cm, nền lát gạch 20 x 20 cm. Diện tích xây dựng
(1,6m x 3,35 m) = 5,36 m
2
.
+ Sân láng xi măng, diện tích xây dựng (3,47m x 3,65m) = 12,66m
2
.
+ Tường rào phía sau: Xây bằng gạch chỉ 110mm, cao 1,8m, dài 4,82m.
8
+ Téc nước: (01) Téc nước inox 1000 lít hiệu Sơn Hà, giá đỡ téc nước bằng
sắt cao 3m (1,0m x 1,4m) = 1,4m
2
(phía ngoài tường nhà vệ sinh).
Giá trtài sn là công trình và vt kiến trúc xây dựng tn đất là: 6.754.000 đng.
Tổng giá trị đất trồng cây lâu năm, tài sản công trình vật kiến trúc xây
dựng trên đất là: 716.400đ + 6.754.000đ = 7.470.400 đồng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu
ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Trong quá trình giải quyết
vụ án Thẩm phán, Thư đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng
dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét
xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa thẩm
đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa. Việc chấp hành
pháp luật của các đương sự: Từ khi thụ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên
đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền
nghĩa vụ của đương sự thực hiện đúng, đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng của họ
theo quy định tại Điều 70, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung: Căn cứ vào nguồn gốc qtrình sdụng đất, Bản đồ địa
chính, Sổ mục phường M. X; kết quả lồng ghép bản đồ địa chính với diện tích
đất do nguyên đơn, bđơn chỉ ngoài thực địa thì ranh giới diện tích đất giữa gia
đình Trần Thị Đ gia đình ông Nguyễn Thanh B được phân định ràng,
không việc chồng lấn, không căn cứ việc cấp Giấy CNQSDĐ cho gia đình
ông Nguyễn Thanh B cấp chồng lên diện tích đất của bà Trần Thị Đ. Do đó không
căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Đ.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca bà Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hvụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật thẩm quyền: Trần Thị Đ khởi kiện yêu cầu ông
Nguyễn Thanh B phải trả lại cho diện tích đất 31,9m
2
đã lấn chiếm của gia
đình, tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 21; và đề nghị hủy một phần Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất số CA 541863, vào sổ cấp Giấy CNQSD đất CH 001528/MX,
cấp ngày 25/12/2018, của UBND thành phố T. Q, tỉnh Tuyên Quang cấp cho ông
Nguyễn Thanh B Thị Tuyết M. Như vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xác định quan hệ pháp luật tranh
chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ Giấy CNQSD đất của Uỷ ban
nhân dân theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố
tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.
9
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Về tranh chấp quyền sử dụng đất:
Nguyên đơn Trần Thị Đ xác định, trước năm 1958 bố mẹ bà khai phá
một diện tích đất để sử dụng thuộc tổ 28, nay là tổ dân phố 14, phường M. X, thành
phố T. Q. Quá trình sử dụng đất vào khoảng năm 2001 Trần Thị Đ chuyển
nhượng một phần đất cho anh Kim Hồng Gi, khi chuyển nhượng cho anh Gi thì
một phần diện tích đất của gia đình bà có 31,9m
2
bị chia cắt và vẫn còn một lối nh
đi vào khu vực đất này, diện tích đất này gia đình bà không sử dụng và vẫn để như
vậy. Đến ngày 21/7/2008, bà Đ được UBND thành phố T. Q cấp Giấy CNQSD đất
tại thửa đất số 29, tờ bản đồ số 21 có tổng diện tích đất là 670,4m
2
. Trong đó có cả
phần đất tranh chấp 31,9m
2
(theo kết quả đo đạc thực tế xác định tổng diện
tích tranh chấp (16,1m
2
+ 3,8m
2
) = 19,9m
2.
). Trong đó 16,1m
2
phần diện tích
nằm trong Giấy CNQSD đất của ông B, M ; 3,8m
2
phần diện tích ông B,
M chưa được cấp Giấy CNQSD đất.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh B xác định: Ông là anh trai của ông Nguyễn Văn
A vợ Nguyễn Thị Kh trú tại tổ 10 phường M. X, năm 1984 ông A mua 1
mảnh đất của ông Trương Văn Đ vợ Thị T, tổ 28 nay tổ 14 phường M.
X (ông B em ruột ông Th chồng Đ) sau khi mua bán nhất trí cùng nhau đo
đạc đất người cùng làm chứng mẹ đẻ của ông Trương Văn Đ vợ T
anh trai Trương Văn Th chồng của Trần Thị Đ; về phía chính quyền Ủy
ban nhân dân thị xã cùng đo đạc diện tích 160m
2
chiều rộng đằng trước 12m,
chiều dài 14m. Đến năm 1988 ông A được cấp hồ sơ nhà đất, giấy phép số 95 của
UBND thị cấp giấy phép xây nhà. Đến năm 1990 ông Nguyễn Thanh B chuyển
đến bên cạnh nhà ông A ông A chuyển cho ông B diện tích đất được chính
quyền địa phương đo đạc cho ông Nguyễn Thanh B được quyền sử dụng; về
diện tích tăng thêm so với khi nhận chuyển nhượng với ông A (chiều sâu từ 14m
lên 18,65m) do ông Nguyễn Thanh B nhận chuyển nhượng với ông Nh. Đến
năm 2018 ông Nguyễn Thanh B được cấp Giấy CNQSD đất số CA 541863, vào sổ
cấp Giấy CNQSD đất: CH 001528/MX, cấp ngày 25/12/2018, của UBND thành
phố T. Q, tỉnh Tuyên Quang cấp cho ông Nguyễn Thanh B Thị Tuyết M
với diện tích là 76m
2
.
Quá trình giải quyết vụ án Trần Thị Đ cho rằng diện tích 31,9m
2
nằm
trong Giấy CNQSDĐ đất của nhưng hiện nay gia đình ông Nguyễn Thanh B
đang sử dụng Uỷ ban nhân dân thị Tuyên Quang cấp Giấy CNQSD đất đối
với diện tích đất này cho ông B, M không đúng. Đối với diện tích đất của gia
đình bà đã được cấp Giấy CNQSD đất theo bản đồ 299, Đ đề nghị Toà án xác
minh thu thập bản đồ 299 của phường M. X.
Toà án đã tiến hành xác minh đề nghị Uỷ ban nhân dân phường M. X;
Uỷ ban nhân dân thành phố T. Q; Sở Nông nhiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang
sao lục cung cấp cho Toà án bản đồ 299 phường M. X:
10
Kết quả xác minh tại Uỷ ban nhân dân phường M. X: Uỷ ban nhân dân
phường M. X hiện nay không lưu giữ, không có bản đồ 299 phường M. X để cung
cấp cho Toà án.
Tại công văn s254/CV- NNMT ngày 19/6/2025 của phòng Nông nghiệp
Môi trường Uỷ ban nhân dân thành phố T. Q; công văn số 264/VPĐK-
HCLT ngày 19/6/2025 của Văn phòng đăng đất đai Sở Nông nghiệp và Môi
trường tỉnh Tuyên Quang, phúc đáp trả lời về kết quả soát hồ lưu trữ đều
không có, không lưu trữ bản đồ 299 phường M. X.
Căn cứ Mảnh trích đo hiện trạng sử dụng đất để giải quyết tranh chấp quyền
sử dụng đất giữa nguyên đơn Trần Thị Đ bị đơn ông Nguyễn Thanh B (theo
kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/4/2025) của Trung tâm Kỹ thuật Tài
nguyên Môi trường thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang,
đơn vị đo đạc đã lồng ghép diện tích đất do nguyên đơn, bị đơn chỉ ngoài thực địa
với tbản đồ địa chính phường M. X năm 1997 thì ranh giới thửa đất do nguyên
đơn bà Trần Thị Đ và bị đơn ông Nguyễn Thanh B chỉ dẫn ngoài thực địa xác định
tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 1 diện tích thửa đất đo đạc 79,4m
2
.
Trong đó: S1 = 59,5m
2
phần diện tích không tranh chấp được giới hạn bởi các
điểm 1, 2, 3, 4, 11, 1 nằm trong Giấy chứng nhận đã cấp cho ông Nguyễn Thanh B;
S2 S3 = 19,9m
2
phần diện tích đang tranh chấp (S2 được giới hạn bởi các
điểm 4, 5, 6, 12, 11, 4 diện tích 16,1m
2
phần diện tích nằm ranh giới Giấy
chứng nhận đã cấp cho ông B; S3 được giới hạn bởi các điểm 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,
12, 5 diện tích là 3,8m
2
, phần diện tích nằm ngoài ranh giới Giấy CNQSD đất đã
cấp cho ông B, nhưng theo bản đồ địa chính vẫn thuộc phần đất của gia đình ông
Nguyễn Thanh B.
Xét thấy, v nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp giữa bà Trần Thị Đ
ông Nguyễn Thanh B, có nguồn gốc do ông Nguyễn Văn A nhận chuyển
nhượng từ năm 1984 với gia đình ông Trương Văn Th (là chồng của Đ) cụ thể
là ông Trương Văn Đng Trương Văn Đ là em ruột của ông Trương Văn Th); sau
khi mua bán chuyển nhượng, gia đình ông A được Uỷ ban nhân dân thị Tuyên
Quang (UBND thành phố T. Q cũ) cấp Hồ nhà đất theo quy định. Đến khoảng
đầu những năm 1990 ông Nguyễn Văn A chuyển nhượng lại cho một số hộ gia
đình, trong đó gia đình ông Nguyễn Thanh B, Thị Tuyết M và gia đình
ông Nguyễn Thanh B sử dụng ổn định, lâu dài, đến năm 2018 thì được cấp Giấy
CNQSD đất. Kết quả lồng ghép bản đđịa chính với diện tích đất do nguyên đơn,
bị đơn chỉ ngoài thực địa phù hợp với diện tích đất của bị đơn ông Nguyễn Thanh
B được cấp Giấy CNQSD đất.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được (Bản đồ địa chính phường
M. X năm 1997, Sổ địa chính, Sổ mục kê, kết quả lồng ghép bản đồ địa chính với
thực trạng diện tích đất) việc Trần Thị Đ khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh
B trả lại cho bà diện tích 31,9m
2
là không có cơ sở.
11
2.2. Về yêu cầu huỷ mt phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Theo Bản đồ địa chính, sổ mục kê, sổ địa chính thì diện tích đất của gia đình
Trần Thị Đ là 1081,2m
2
. Trong đó 670,4m
2
đất đã được cấp Giấy CNQSD đất
năm 2008 mang tên bà Trần Thị Đ; trong tổng số diện tích đất của gia đình bà Trần
Thị Đ, quá trình sử dụng đất đã chuyển nhượng cho nhiều người, nhiều hộ khác
nhau, một số diện tích do ông Trương Văn Th (chồng Đ), ông Trương Văn Đ
(em ông Th) chuyển nhượng, sau đó một số hộ lại chuyển nhượng cho người khác
sử dụng. Do đó hiện trạng diện ch đất của gia đình Trần Thị Đ nhiều thay
đổi, việc xác định diện tích đất của gia đình Trần Thị Đ không nằm trong phạm
vi khởi kiện.
Xét thy, Uỷ ban nhân n thành phT. Q (cũ) cấp Giấy CNQSD đt số CA
541863, o sổ cấp Giấy CNQSD đất: CH 001528/MX, cấp ngày 25/12/2018, của
UBND tnh phố T. Q, tỉnh Tuyên Quang cp cho ông Nguyễn Thanh B Vũ Thị
Tuyết M. t ni dung yêu cầu khởi kin, Trần Th Đ cho rằng Uỷ ban nhân dân
thành phố T. Q cấp 31,9m
2
đt nằm trong Giấy CNQSD đất đã cấp cho Trần Th Đ
nhưng li cấp Giấy CNQSD đt đi với diện ch đất này cho gia đình ông Nguyễn
Thanh B, nên đ nghị huỷ mt phn Giấy CNQSD đất đã cấp cho gia đình ông Nguyn
Thanh B đi với diện tích 31,9m
2
(theo kết quthẩm định ti ch, đo đc c định là
19,9m
2
). Do đó Hi đồngt xử chỉ xemt việc cấp Giấy chứng nhận quyn sử dụng
đt cho gia đình ông Nguyn Thanh B đối với din ch đt tranh chp trên.
Căn cứ vào nguồn gốc quá trình sdụng đất, Bản đồ địa chính, Sổ mục
phường M. X thửa đất số 36, tờ bản đồ số 21 mang tên ông Nguyễn Thanh B
diện tích khai 98,5m
2
; Sổ cấp giấy phường M. X, chủ sử dụng đất ông Nguyễn
Thanh B Thị Tuyết M, thửa đất số 36, tờ bản đồ số 21, diện tích 76 m
2
(trong đó 55,7m
2
đất tại đô thị 20,3m
2
đất trồng cây lâu năm); kết quả lồng
ghép bản đồ địa chính với diện tích đất do nguyên đơn, bị đơn chỉ ngoài thực địa
thì ranh giới diện tích đất giữa gia đình Trần Thị Đ gia đình ông Nguyễn
Thanh B được phân định ràng, không việc chồng lấn, không căn cứ việc
cấp Giấy CNQSD đất cho gia đình ông Nguyễn Thanh B cấp chồng lên diện tích
đất của Trần Thị Đ; Trần Thị Đ khởi kiện yêu cầu huỷ một phần Giấy
CNQSD đất đối với diện tích đất (theo đo đạc xác định 19,9m
2
) đã
cấp cho gia
đình ông Nguyễn Thanh B là không có cơ sở.
Từ phân tích, đánh giá nêu trên cho thấy không căn cứ để chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Đ; Uỷ ban nhân dân thành phố
T. Q cấp Giấy CNQSD đất cho gia đình ông Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị
Tuyết Minh là có căn cứ, phù hợp với thực tế và đúng đối tượng sử dụng.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản
6.458.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận, do đó
Trần Thị Đ phải chịu toàn bộ chi phí 6.458.000đ (Sáu triệu bốn trăm năm mươi
tám nghìn đồng). Bà Trần Thị Đ đã nộp đủ.
12
[4] Về án phí dân sự thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không
được chấp nhận, nhưng do nguyên đơn Trần Thị Đ người cao tuổi và đề
nghị miễn nộp án phí, nên chấp nhận miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch
cho bà Trần Thị Đ.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 34, 37, 39, 157, 165, 227, 228, 235, 266, 271 và 273 của Bộ
luật tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Điều 105, 106, 158,
175, 176 Bộ luật dân sự; khoản 1 điều 166, khoản 1, 2 điều 170 khoản 1 Điều
203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị
Đ, vviệc buộc ông Nguyễn Thanh B phải trả lại cho Trần Thị Đ diện tích đất
31,9m
2
( theo kết quả thẩm định, đo đạc 19,9m
2
); hủy một phần giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CA 541863, vào sổ cấp Giấy CNQSD đất: CH
001528/MX, cấp ngày 25/12/2018, của Uỷ ban nhân dân thành phố T. Q, tỉnh
Tuyên Quang (cũ) cấp cho ông Nguyễn Thanh B Thị Tuyết M, tại tha
đất số 36, tờ bản đồ số 21.
2. Ông Nguyễn Thanh BVũ Thị Tuyết M được quyền quản lý và sử dụng
diện tích đất tại thửa số 36, tờ bản đồ số 21. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CA 541863, vào sổ cấp giấy CNQSD đất: CH 001528/MX, cấp ngày
25/12/2018, của Uỷ ban nhân dân thành phố T. Q, tỉnh Tuyên Quang (cũ) cấp cho
ông Nguyễn Thanh B và bà Vũ Thị Tuyết M
3. Vchi phí tố tụng: Bà Trần Thị Đ phải chịu 6.458.000 đồng (Sáu triệu bốn
trăm năm m nghìn đồng) chi phí thẩm định, định giá. Bà Trần Thị Đ đã nộp đủ.
4. Về án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn Trần Thị Đ người cao tuổi
nên không phải chịu án phí dân sự thẩm giá ngạch; miễn nộp án phí dân sự
sơ thẩm có giá ngạch cho nguyên đơn bà Trần Thị Đ.
Ông Nguyễn Thanh B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn; người bảo vquyền lợi ích
hợp pháp của nguyên đơn; người quyền lợi nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên
toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
(11/8/2025); người quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng
13
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày
Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sthì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Toà phúc thẩm 1,TANDTC tại HN
- Viện phúc thẩm 1, VKSND tối cao
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- Các đương sự;
- u hồ sơ vụ án;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Triệu Ngọc Thức
14
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Kim Thanh Nguyễn Thị Tâm Triệu Ngọc Thức
Tải về
Bản án số 23/DSST Bản án số 23/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 23/DSST Bản án số 23/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất