Bản án số 229/2022/DS-PT ngày 14/10/2022 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 229/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 229/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 229/2022/DS-PT ngày 14/10/2022 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Vĩnh Long |
| Số hiệu: | 229/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/10/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 229/2022/DS-PT
Ngày: 14 - 10 -2022
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Nữ Phà Ca
Các Thẩm phán: Ông Lâm Triệu Hữu
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Có – Thẩm tra viên của Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Trần Ngọc Bích -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2022/TLPT-DS ngày 16 tháng
8 năm 2022 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 57/2022/DSST ngày 07 tháng 7 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 240/2022/QĐPT-DS
ngày 06 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng D1; Địa chỉ: ấp Phú N, xã Song P,
huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Cao Hữu N1; Địa chỉ: ấp Phú N, xã Song P, huyện T, tỉnh
Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị H1;
2. Chị Nguyễn Thị Lệ H2;
3. Anh Nguyễn Kim M1;
2
4. Chị Nguyễn Kim H3;
5. Chị Nguyễn Kim M2 – Người giám hộ là bà Nguyễn Thị H1.
Người đại diện hợp pháp của bà H1, chị H2, anh M1 và chị H3 có anh
Nguyễn Hoàng D1 (văn bản ủy quyền ngày 11/5/2018).
6. Anh Nguyễn Thành C1;
7. Anh Nguyễn Hoàng T1 (chết 2020)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Nguyễn Hoàng T1:
7.1. Chị Phan Thị L1.
7.2. Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 2000;
7.3. Nguyễn Phan T3;
7.4. Nguyễn Phan D2;
8. Anh Nguyễn Kim M3;
Người đại diện hợp pháp của anh C1, chị M3 có anh Nguyễn Hoàng D1
(văn bản ủy quyền ngày 12/3/2018).
Cùng địa chỉ: ấp Phú N, xã Song P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
9. Anh Trịnh Hữu P;
10. Chị Trịnh Kim N2;
11. Anh Trịnh Khánh T4;
Cùng địa chỉ: ấp 2, xã Long K, huyện C, tỉnh Long An.
12. Chị Trần Thị Ngọc T5; Địa chỉ: ấp B, xã Phú L, huyện T, tỉnh Vĩnh
Long.
13. Anh Ngô Văn C2; Địa chỉ: ấp Mỹ Trung A, xã Mỹ Thuận, huyện Bình
Tân, tỉnh Vĩnh Long.
14. Chị Cao Lệ H4;
15. Chị Võ Thị Mỹ L2;
16. Cao Hoài V1;
17. Cao Công H5;
Địa chỉ: ấp Phú N, xã Song P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
18. Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình.
Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Quốc T6 – Chức vụ: Chủ tịch
Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quốc T6 là ông Nguyễn
Thanh V2 – Chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tam
Bình.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Hoàng D1, bị đơn Cao Hữu N1
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thị Mỹ L2.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2012 và trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng D1 trình bày:
Theo tư liệu đo đạc thực hiện Chỉ thị 299/TTg, ngày 10/11/1980 của Thủ
tướng Chính phủ ông Nguyễn Hoàng N3 (cha anh D1) đăng ký kê khai thửa
1073, diện tích 4400 m
2
, loại đất 2 lúa. Năm 1989 ông N3 cho ông Cao Văn M4
mượn sử dụng một phần đất làm đường nước sinh hoạt. Đến chương trình đất
1991 thửa đất 1073 của ông N3 tách thành 4 thửa gồm: thửa 936, thửa 937, thửa
938 và thửa 939. Trong đó ông Cao Văn M4 tự đăng ký kê khai và được cấp
giấy chứng nhận thuộc thửa 939, diện tích 210m
2
. Còn ông N3 kê khai đăng ký
và được cấp giấy chứng nhận thửa 936, thửa 937, thửa 938.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 939, đến năm
2008 ông M4 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho bà Võ Thị N4. Đến năm
2009, bà N4 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Bích T7. Sau đó, bà T7 tách
thửa 939 thành 4 thửa gồm: thửa 1708, diện tích 110m
2
đã chuyển nhượng cho
bà Nguyễn Thị K; thửa 1709, diện tích 54,1m
2
, thửa 1710, diện tích 55,6 m
2
và
thửa 1711, diện tích 57,1 m
2
, bà Bích T7 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Ngọc
T5 vào năm 2010. Trong khi đang tranh chấp thì bà K chuyển nhượng thửa
1708, diện tích 110 m
2
cho bà Võ Thị Tuyết M5. Bà M5 chuyển nhượng lại cho
ông Nguyễn Ngọc N5 được tách ra thành 02 thửa mới: Thửa 241, diện tích 57,5
m
2
và thửa 242, diện tích 52,6 m
2
. Sau đó, ông N5 chuyển nhượng 02 thửa đất
241 và 242 cho ông Ngô Văn C2 và ông Ngô Văn C2 đã được Sở Tài nguyên và
Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/01/2018. Phần đất
thửa 939, diện tích 210 m
2
thuộc quyền sử dụng của ông N3 và ông N3 cho ông
M4 mượn nhưng ông M4 tự ý đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận và
chuyển nhượng cho bà N4 là trái pháp luật xâm đến quyền và lợi ích hợp pháp
của ông N3 và hiện trạng trên thửa đất 939 là đường dẫn nước tưới tiêu nên anh
D1 yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Yêu cầu anh N1 trả lại thửa đất 939, diện tích 210 m
2
, tờ bản đồ số 3,
loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp Phú N, xã Song P, huyện T, tỉnh
Vĩnh Long cho anh D1.
- Vô hiệu những Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:
Hợp đồng giữa ông M4 với bà N4, giữa bà N4 với T7, giữa bà T7 với bà T5,
giữa bà T7 với bà K, giữa bà K với bà M4 và ông N5, từ bà M4 sang ông N5 từ
ông N5 sang ông C2 và buộc những người đang sử dụng trả lại quyền sử dụng
đất cho những người thuộc hàng thừa kế cho ông N3.
- Hủy Giấy chứng quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Tam
Bình cấp cho ông Cao Văn M4 ngày 30/12/1999 đối với thửa 939, diện tích 210
4
m
2
, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp Phú N, xã Song
P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long;
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện
Tam Bình cấp cho bà Nguyễn Thị K thửa 1753, diện tích 52,6m
2
;
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Vĩnh Long cấp cho bà Võ Thị Tuyết M4 đối với thửa 242, diện tích
52,6m
2
.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Cao Hữu N1 trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ Nguyễn Văn P (cha vợ của ông
Cao Văn M4) để lại cho ông M4 và ông M4 canh tác đất từ năm 1952 đến năm
2008. Trong quá trình sử dụng ông M4 đã đăng ký kê khai quyền sử dụng đất
qua các thời kỳ và được Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 30/12/1999 tại thửa 939, diện tích 210 m
2
, loại đất quả,
tọa lạc tại ấp Phú N, xã Song P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Trong quá trình sử dụng đất ông M4 trồng cây và năm 1999 khi nhà nước
làm lộ có thu hồi một phần thửa đất 939 và có bồi hoàn giá trị đất, giá trị cây cho
ông M4 nhận, không có ai tranh chấp.
Đến năm 2006 ông M4 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 939 cho ông
Nguyễn Văn T9. Giá chuyển nhượng 40.000.000 đồng ông M4 nhận và sử dụng
tiền chuyển nhượng đất. Khi ông M4 chuyển nhượng đất vợ chồng ông N3, các
con ông N3 và những người có liên quan đến việc sử dụng đường nước chứng
kiến cắm mốc ranh để cho ông M4 chuyển nhượng, không tranh chấp.
Năm 2008 ông M4 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất các thửa
569, thửa 796 cho anh N1. Đến năm 2011 ông Nguyễn Ngọc N5 cho anh D1
thuê mặt bằng để sửa xe thời hạn một năm, khi hết hợp đồng anh D1 không trả
mặt bằng cho ông N5 và chuyển sang tranh chấp đất với anh cho đến nay.
Nay anh N1 không đồng ý toàn bộ theo yêu cầu khởi kiện của anh D1. Lý
do đất tranh chấp là của ông bà cho cha mẹ anh N1 và được nhà nước xét cấp
quyền sử dụng đất hợp pháp và ông M4 đã chuyển nhượng phần đất trước thời
điểm ông M4 tặng cho đất anh. Ngoài ra anh N1 không có yêu cầu gì khác.
- Trong quá trình giải quyết vụ án những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị Lệ H2, anh Nguyễn Kim M1, chị
Nguyễn Kim H3, anh Nguyễn Thành C1, anh Nguyễn Kim M2 và người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Nguyễn Hoàng T1 có anh D1 là người đại
diện theo ủy quyền và anh Trịnh Hữu P, chị Trịnh Kim N2, anh Trịnh Khánh T4
trình bày:
Phần đất thửa 939, diện tích 210 m
2
theo tư liệu đo đạc thực hiện Chỉ thị
299/TTg, ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ ông Nguyễn Hoàng N3
đăng ký kê khai thửa 1073, diện tích 4400 m
2
, loại đất 2 lúa. Năm 1989, ông N3
5
cho ông Cao Văn M4 mượn sử dụng làm đường dẫn nước để sinh hoạt gia đình.
Trong quá trình sử dụng năm 1991 ông Cao Văn M4 tự đăng ký kê khai và được
Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
939, diện tích 210m
2
. Sau đó, ông M4 chuyển nhượng thửa đất trên cho bà N4
và bà N4 chuyển nhượng thửa đất trên qua nhiều người khác. Nay các đương sự
đồng ý theo các yêu cầu khởi kiện của anh D1. Ngoài ra không có ý kiến và yêu
cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Mỹ L2, anh Cao Hoài
V1, và anh Cao Công H5 trình bày:
Thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của anh N1. Ngoài ra không có ý
kiến và yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Ngọc T5 trình bày:
Vào ngày 20/6/2010 chị T5 có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại
3 thửa đất: Thửa 1709, diện tích 54,1m
2
; thửa 1710, diện tích 55,6 m
2
và thửa
1711, diện tích 57,1 m
2
, cùng loại đất: trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 3 và tọa
lạc tại ấp Phú N, xã Song P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long của chị Nguyễn Thị Bích
T7 chuyển nhượng lại với số tiền là 220.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng đất
các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ với nhau, hiện tại giữa chị Bích T7 và chị
T5 không có tranh chấp.
Nay chị T5 không đồng ý với yêu cầu của anh D1 về việc hủy hợp đồng
chuyển nhượng giữa chị T5 với chị Bích T8 vì khi chuyển nhượng chị T5 không
biết giữa anh D1 và anh N1 đang tranh chấp.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn C2 trình bày:
Vào khoảng năm 2018 anh C2 có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
từ ông Nguyễn Ngọc N5 tại 02 thửa đất 241, diện tích 57,5 m
2
, loại đất trồng cây
lâu năm và thửa 242, diện tích 52,6 m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số
3, tọa lạc tại ấp Phú N, xã Song P, huyện T, tỉnh Vĩnh do ông N5 đứng tên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi chuyển nhượng 02 thửa đất trên anh C2
không biết đất đang tranh chấp giữa ông D1 với ông N1; giữa anh với ông N5 đã
thực hiện xong nghĩa vụ với nhau và không có tranh chấp. Ngày 23/01/2018,
anh C2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất 241 và thửa 242.
Nay anh C2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh D1 về việc yêu
cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh C2 với ông N5.
Ngoài ra anh C2 không có yêu cầu gì khác.
- Tại Công văn số 1730/CV, ngày 09/8/2021 và trong quá trình giải quyết
vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình
trình bày:
6
Trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất 939,
diện tích 210 m
2
, loại đất vườn, tờ bản đồ số 3, cho ông Cao Văn M4 là đúng
theo trình tự, thủ tục, đối tượng, căn cứ pháp luật và Ủy ban nhân dân huyện
Tam Bình vẫn bảo lưu việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
M4.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 57/2022/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2022
và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 19/2022/QĐ-SCBSBA, ngày
08/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 9 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1, 4
Điều 91; khoản 1, 5 và 8 Điều 95; Điều 143; Điều 147; Điều 165, khoản 1 Điều
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2015;
Căn cứ vào khoản 3, 5, 6 và 8 Điều 14; khoản 2 Điều 16; khoản 2, 3 Điều
18 của Luật đất đai năm 1987 và Điều 4 Nghị định số 30/HĐBT ngày 23/3/1989
của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành luật đất đai năm 1987.
Căn cứ vào khoản 1, 2, 4 Điều 26; điểm a, khoản 2 Điều 27 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng D1
và những người hàng thừa kế của ông Nguyễn Hoàng N3 về việc yêu cầu vợ
chồng anh Cao Hữu N1 và chị Võ Thị Mỹ L2 có trách nhiệm liên đới trả lại diện
tích đất 210 m
2
, tại thửa 939 bằng giá trị đất.
Buộc vợ chồng anh Cao Hữu N1 và chị Võ Thị Mỹ L1 có trách nhiệm
liên đới trả cho Nguyễn Hoàng D1 và những người hàng thừa kế của ông
Nguyễn Hoàng N3 giá trị diện tích đất 210 m
2
, tại thửa 939 là 2.100.000.000
đồng (Hai tỷ một trăm triệu đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Hoàng
D1 đối với thửa đất 939.
3. Không xem xét giải quyết công nhận quyền sử dụng đất của anh Cao
Hữu N1, chị Trần Thị Ngọc T5 và anh Ngô Văn C2.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án
và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022, nguyên đơn Nguyễn Hoàng D1 có đơn kháng
cáo với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh D1 là buộc vợ chồng anh Cao Hữu
N1 và chị Võ Thị Mỹ L2 có trách nhiệm trả lại diện tích đất 210m
2
, tại thửa 939.
7
Vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông M4 và những
người nhận chuyển nhượng đất đối với thửa 939, diện tích 210m
2
; yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 939, diện tích 210m
2
do Ủy ban
nhân dân huyện Tam Bình cấp cho ông M4.
Ngày 18 tháng 7 năm 2022, bị đơn Cao Hữu N1 và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Võ Thị Mỹ L2 có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn và hàng thừa kế của ông Nam.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh D1 thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo. Anh D1 yêu cầu anh Nghĩa
trả lại quyền sử dụng thửa đất 939, diện tích 210m
2
cho anh. Lý do phần đất trên
cha anh Nghĩa là ông M3 được ông Nam cha anh D1 cho mượn năm 1989. Yêu
cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 939, diện tích 210m
2
do Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình cấp cho ông M3. Anh D1 và anh D1 đại
diện cho Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị Lệ H2, anh Nguyễn Kim M1, chị
Nguyễn Kim H3, anh Nguyễn Thành C1, anh Nguyễn Kim M2 và người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Nguyễn Hoàng T1 thừa nhận trong vụ án này
chỉ có cá nhân anh D1 tranh chấp đất với anh N1, chị L2. Còn lại những người
thừa kế ông N3 gồm bà Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị Lệ H2, anh Nguyễn
Kim M1, chị Nguyễn Kim H3, anh Nguyễn Thành C1, anh Nguyễn Kim M2 và
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Nguyễn Hoàng T1 không tranh
chấp, không yêu cầu và đã có văn bản khước từ nhận di sản thừa kế của ông N3
liên quan phần đất thửa 939, diện tích 210m
2
tranh chấp với anh N1, chị L2.
Anh D1 rút một phần yêu cầu kháng cáo về việc vô hiệu các hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông M4 và những người nhận chuyển
nhượng đất đối với thửa 939, diện tích 210m
2
.
Anh N1, chị L2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu bác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của anh D1 về việc buộc anh N1, chị L1
trả lại thửa đất 939, diện tích 210m
2
.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người
tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý
vụ án đến xét xử phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; không
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh D1, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh
N1, chị L1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng D1 về
việc: Yêu cầu bị đơn anh Cao Hữu N1 trả lại quyền sử dụng thửa đất 939, diện
8
tích 210m
2
, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp Phú N,
xã Song P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Vô hiệu những Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông M4 với bà N4, giữa bà N4 với T7, giữa bà T7 với bà
T5, giữa bà T7 với bà K, giữa bà K với bà M5 và ông N5, từ bà M5 sang N5 từ
ông N5 sang ông C2; Yêu cầu hủy một phần Giấy chứng quyền sử dụng đất do
Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình cấp cho ông Cao Văn M4 ngày 30/12/1999
đối với thửa 939, diện tích 210 m
2
; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình cấp cho bà Nguyễn Thị K thửa 1753, diện
tích 52,6m
2
; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Vĩnh Long cấp cho bà Võ Thị Tuyết M5 đối với thửa 242, diện tích
52,6m
2
.
Chi phí khảo sát đo đạc và định giá: Buộc anh D1 phải chịu 8.230.000
đồng. Số tiền trên anh D1 đã nộp xong nên phải khấu trừ.
Án phí dân sự: Anh D1 phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và
300.000 đồng án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị
Phan Thị L1, Nguyễn Thị Minh T2, Nguyễn Phan T3, Nguyễn Phan D2, anh
Trịnh Hữu P, Trịnh Kim N2, Trịnh Khánh T4, Cao Hoài V1 đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do; Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Công H5 và Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều
296 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với họ.
Căn cứ đơn khởi kiện bổ sung ngày 07/6/2018 của anh Nguyễn Hoàng
D1, bà Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị Lệ H2, anh Nguyễn Kim M1, chị
Nguyễn Kim H3, anh Nguyễn Thành C1, anh Nguyễn Kim M2 và người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Nguyễn Hoàng T1 là anh Trịnh Hữu P, chị
Trịnh Kim N2, anh Trịnh Khánh T4. Cấp sơ thẩm nhận đơn ngày 19/6/2018
nhưng không thực hiện thủ tục xử lý đơn kiện, không thông báo yêu cầu đương
sự nộp tiền tạm ứng án phí và cũng không thụ lý vụ án đối với yêu cầu khởi kiện
của các đương sự trên theo quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm xác định bà Nguyễn
Thị H1, chị Nguyễn Thị Lệ H2, anh Nguyễn Kim M1, chị Nguyễn Kim H3, anh
Nguyễn Thành C1, anh Nguyễn Kim M2 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của anh Nguyễn Hoàng T1 là anh Trịnh Hữu P, chị Trịnh Kim N2, anh
Trịnh Khánh T4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ Điều 191,
Điều 195, Điều 196, Điều 201,Điều 202 của Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu
trên của các đương sự sẽ không được xem xét giải quyết. Tuy nhiên, khi giải
quyết vụ án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
9
nguyên đơn anh D1 và những người hàng thừa kế của ông Nguyễn Hoàng N3
buộc anh Cao Hữu N1, chị Võ Thị Mỹ L2 có trách nhiệm liên đới trả lại diện
tích đất 210m
2
thuộc thửa 939 là xử vượt quá yêu cầu khởi kiện của các đương
sự, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa anh D1 đại diện hợp pháp cho những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị Lệ H2, anh
Nguyễn Kim M1, chị Nguyễn Kim H3, anh Nguyễn Thành C1, anh Nguyễn
Kim M2 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Nguyễn Hoàng T1
là anh Trịnh Hữu P, chị Trịnh Kim N2, anh Trịnh Khánh T4 xác định thống
nhất trong vụ án này chỉ có anh D1 khởi kiện và tranh chấp thửa đất 939, diện
tích 210m
2
với anh N1, chị L2. Do đó, Hội đồng xét xử không cần thiết hủy án
sơ thẩm về những vi phạm thủ tục tố tụng trên.
Tại Mục 3 phần quyết định bản án sơ thẩm đã tuyên “Không xem xét giải
quyết công nhận quyền sử dụng đất của anh Cao Hữu N1, chị Trần Thị Ngọc T5
và anh Ngô Văn C2”. Xét hồ sơ vụ án thể hiện ngày 02/4/2018 chị Trần Thị
Ngọc T5 có đơn yêu cầu độc lập đến ngày 03/4/2018 chị T5 rút toàn bộ yêu cầu
độc lập, tòa án không thụ lý yêu cầu độc lập của chị T5. Còn bị đơn anh Cao
Hữu N1 không có yêu cầu phản tố và anh Ngô Văn C2 không có yêu cầu độc
lập. Căn cứ Điều 195, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phần quyết định
trên của bản án sơ thẩm là không có căn cứ và vượt quá phạm vi khởi kiện của
các đương sự. Căn cứ khoản 4 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án
sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với Mục 3 phần quyết định của bản án
sơ thẩm trên.
Tại phiên tòa, anh D1 rút một phần yêu cầu kháng cáo về việc vô hiệu các
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông M4 và những người nhận
chuyển nhượng đất đối với thửa 939, diện tích 210m
2
. Căn cứ khoản 1 Điều 289
Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần rút kháng cáo trên
của anh D1.
[2] Xét trình tự, thủ tục đăng ký, kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất: Theo Chỉ thị 299/TTg, ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ ghi
nhận phần đất tranh chấp thuộc thửa 1073, diện tích 4.400m
2
, loại đất hai lúa do
ông Nguyễn Hoàng N3 đăng ký trong Sổ bộ địa chính. Đến Chương trình đất
1991, phần đất thửa 1073 do ông Nguyễn Hoàng N3 đăng ký kê khai tại 3 thửa
gồm: thửa 936, diện tích 650m
2
, loại đất hoang; thửa 937, diện tích 1210m
2
, loại
đất lúa; thửa 938, diện tích 3290m
2
, loại đất vườn đất và ông N3 được Ủy ban
nhân dân huyện Tam Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
đất 936, 937 ngày 01/4/2003. Còn lại thửa 939, diện tích 210m
2
, loại đất vườn
do ông Cao Văn M4 đăng ký kê khai và ông M4 được Ủy ban nhân dân huyện
Tam Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/12/1999. Tại Công
văn số 1730/CV, ngày 09/8/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình xác
10
định về trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất 939,
diện tích 210 m
2
, loại đất vườn, tờ bản đồ số 3, cho ông Cao Văn M4 là đúng
theo trình tự, thủ tục, đối tượng, căn cứ pháp luật và Ủy ban nhân dân huyện
Tam Bình vẫn bảo lưu việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
M4.
Tại phiên tòa, anh D1 thừa nhận trong quá trình ông M4 đăng ký, kê khai
và được Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thì ông N3 biết và không tranh chấp hoặc khiếu nại trình tự thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình đối với
thửa 939, diện tích 210m
2
cho ông Cao Văn M4.
[3] Về quá trình quản lý, sử dụng đất:
Anh D1 cho rằng phần đất tranh chấp thửa 939, diện tích 210m
2
có nguồn
gốc của ông N3 (cha anh D1) cho ông Cao Văn M4 mượn ông M4 (cha anh N1)
sử dụng là do năm 1989 để làm đường nước sinh hoạt. Tuy nhiên, anh N1 thì
không thừa nhận nguồn gốc thửa 939, diện tích 210m
2
của ông N3 và cho rằng
phần đất trên nguồn gốc đất là của cụ ông Nguyễn Văn P là ông ngoại của anh
N1 cho ông Cao Văn M4 sử dụng từ trước năm 1975.
Tuy nhiên, theo hồ sơ thể hiện năm 1999 trong quá trình sử dụng thửa đất
939 nhà nước thu hồi một phần đất diện tích 85m
2
để mở rộng nâng cấp đường
Hương lộ Cái Ngang và có đền bù, giải phóng mặt bằng. Tại phiếu chi số 357,
366 ngày 12/02/1999 của Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình đã chi đền bù giá
đất, cây trồng cho ông Cao Văn M4 số tiền 2.580.000 đồng (BL 485, BL 484).
Anh D1 cũng thừa nhận ông N3, ông D1 không khiếu nại đến cơ quan có thẩm
quyền việc đền bù tiền cây trồng, tiền đất đối với ông M4.
Năm 2008, ông M4 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 939, diện tích 210m
2
cho bà Võ Thị N4. Đến năm 2009, bà N4 chuyển nhượng cho bà T7. Sau đó, bà
T7 tách thửa 939 thành 4 thửa gồm: thửa 1708, diện tích 110m
2
đã chuyển
nhượng cho bà Nguyễn Thị K; thửa 1709, diện tích 54,1m
2
, thửa 1710, diện tích
55,6 m
2
và thửa 1711, diện tích 57,1 m
2
, bà Bích T7 chuyển nhượng cho bà Trần
Thị Ngọc T5 vào năm 2010. Trong khi đang tranh chấp thì bà K chuyển nhượng
thửa 1708, diện tích 110 m
2
cho bà Võ Thị Tuyết M5. Bà M5 chuyển nhượng lại
cho ông Nguyễn Ngọc N5 được tách ra thành 02 thửa mới: Thửa 241, diện tích
57,5 m
2
và thửa 242, diện tích 52,6 m
2
. Sau đó, ông Nê chuyển nhượng 02 thửa
đất 241 và 242 cho ông Ngô Văn Cảnh và đã được Sở Tài nguyên và Môi
trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngô Văn C2 vào ngày
23/01/2018. Tại phiên tòa, anh D1 thừa nhận ông N3 chết năm 2009, trong thời
gian ông M4 chuyển nhượng thửa đất 939 cho bà N5, bà N5 san lắp cát và sau
đó phần đất thửa 939 được chuyển nhượng sang nhiều người khác thì ông N3
biết nhưng không tranh chấp.
11
Mặt khác, anh D1 khởi kiện yêu cầu anh N1, chị L2 trả lại thửa đất 939,
diện tích 210 m
2
và anh D1 cho rằng căn cứ để khởi kiện anh N1, chị L2 vì anh
N1 là con út ông M4 là người được hưởng thừa kế di sản của ông M4 để lại. Tuy
nhiên, căn cứ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 18/6/2008 thể hiện
ông Cao Văn M4 tặng cho anh Cao Hữu N1 phần đất thửa 569, tờ bản đồ số 3,
diện tích 8620m
2
, loại đất trồng lúa và thửa 796, tờ bản đồ số 3, diện tích
1830m
2
, loại đất thổ + vườn, tọa lạc tại ấp Phú N, xã Song P, huyện T, tỉnh
Vĩnh Long. Còn thửa đất 939, diện tích 210m
2
ông M4 đã chuyển nhượng cho
bà N4 trước thời điểm ông M4 tặng cho quyền sử dụng đất sang cho ông N1. Do
đó, không có căn cứ xác định phần đất tranh chấp thửa 939 ông M4 tặng cho anh
N1, chị L2. Ông M4 có 7 người con gồm: Cao Văn Bé E, Cao Văn B, Cao Văn
L3, Cao Thị Lệ H4, Cao Thành T8, Cao Thị Lệ H5, Cao Hữu N1 nhưng anh D1
khởi kiện yêu cầu buộc anh N1, chị L2 có nghĩa vụ trả lại phần đất thửa 939 là
không có căn cứ.
Như vậy, có căn cứ xác định phần đất thửa 939 ông M4 sử dụng công
khai, liên tục từ trước năm 1991. Đến năm 1991, ông M4 được Ủy ban nhân dân
huyện Tam Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N3 biết và không
tranh chấp. Đến năm 2008, ông M4 đã chuyển nhượng toàn bộ cho bà N5. Sau
đó, phần đất trên được chuyển nhượng sang nhiều người khác và trong quá trình
sử dụng đất các chủ sử dụng đã san lắp đất, cất nhà và được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông N3
biết và không tranh chấp. Căn cứ Điều 18, Điều 49 của Luật Đất đai năm 1987;
Điều 2, Điều 3, Điều 73 của Luật Đất đai năm 1993 thì không có căn cứ xác
định phần đất tranh chấp thửa 939, diện tích 210m
2
thuộc quyền sử dụng của
ông N3 và ông N3 không có đăng ký kê khai quyền sử dụng đất và được Ủy ban
nhân dân huyện Tam Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do đó, anh D1 khởi kiện, kháng cáo yêu cầu anh N1, chị L2 trả lại thửa
đất 939, diện tích 210m
2
và yêu cầu hủy Giấy chứng quyền sử dụng đất do Ủy
ban nhân dân huyện Tam Bình cấp cho ông Cao Văn M4 ngày 30/12/1999 đối
với thửa 939, diện tích 210 m
2
là không có căn cứ để chấp nhận. Xét yêu cầu
kháng cáo của anh N1, chị L2 yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu
kháng cáo của anh D1 phù hợp với các nhận định tại đoạn [2,3] của bản án phúc
thẩm nên chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh N1, chị L2, sửa bản án sơ thẩm.
[4] Về chi phí khảo sát, đo đạc: buộc ông D1 nộp số tiền 8.230.500 đồng.
Số tiền trên anh D1 đã nộp tạm ứng xong nên được khấu trừ.
[5] Về chi phí giám định: Đã chi số tiền 1.985.000 đồng. Anh D1 yêu cầu
giám định nhưng yêu cầu khởi kiện anh D1 không được chấp nhận nên anh D1
phải chịu. Số tiền trên anh D1 đã nộp tạm ứng xong nên được khấu trừ.
[6] Về án phí: Anh D1 khởi kiện yêu cầu anh N1 trả lại phần đất thửa 939,
diện tích 210m
2
do ông N3 (cha anh D1) cho ông M4 ( cha anh N1 mượn). Căn
12
cứ khoản 1 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu
nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì anh D1 phải chịu án phí dân sự
sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng và anh D1 phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm. Anh N1, chị L2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 161, Điều 191, Điều 195, Điều 196, Điều 201, Điều 202,
Điều 266, điểm c khoản 1 Điều 289, khoản 2,4 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015; Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn,
giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với Mục 3 phần
quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên: 3. “Không xem xét giải quyết công
nhận quyền sử dụng đất của anh Cao Hữu N1, chị Trần Thị Ngọc T5 và anh
Ngô Văn C2”.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần rút yêu cầu kháng cáo của nguyên
đơn anh Nguyễn Hoàng D1 về việc vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông M4 và những người nhận chuyển nhượng đất đối với thửa
939, diện tích 210m
2
.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng
D1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Cao Hữu N1 và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Mỹ L2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số
57/2022/DSST ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam
Bình, tỉnh Vĩnh Long. Tuyên xử:
Áp dụng Điều 18, Điều 49 của Luật Đất đai năm 1987; Điều 2, Điều 3,
Điều 73 của Luật Đất đai năm 1993; Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 203
Luật đất đai năm 2013; Điều 690 của Bộ luật dân sự 1995 và Điều 688 của Bộ
luật dân sự năm 2005. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh
Nguyễn Hoàng D1 về việc: Yêu cầu anh Cao Hữu N1 trả cho anh Nguyễn
Hoàng D1 thửa đất 939, diện tích 210 m
2
, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng cây lâu
năm, đất tọa lạc tại ấp Phú N, xã Song P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; yêu cầu vô
hiệu những Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Cao Văn M4
với bà Võ Thị N5, giữa bà N5 với bà Nguyễn Thị Bích T7, giữa bà T7 với bà
Trần Thị Ngọc T5, bà Nguyễn Thị K, giữa bà K với bà Võ Thị Tuyết M5 và ông
Nguyễn Ngọc N5, giữa ông N5 với ông Ngô Văn C2; hủy Giấy chứng quyền sử
13
dụng đất ngày 30/12/1999 đã cấp cho ông Cao Văn M4 tại thửa 939, diện tích
210 m
2
, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng cây lâu năm; hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình cấp cho bà Nguyễn Thị K
thửa 1753, diện tích 52,6m
2
; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long cấp cho bà Võ Thị Tuyết M5 đối với thửa
242, diện tích 52,6m
2
. Các thửa đất đều tọa lạc tại ấp Phú N, xã Song P, huyện
T, tỉnh Vĩnh Long.
2. Về chi phí khảo sát, đo đạc: Buộc ông D1 nộp số tiền 8.230.500 đồng.
Số tiền trên anh D1 đã nộp tạm ứng nên được khấu trừ.
3. Chi phí giám định: Buộc anh Nguyễn Hoàng D1 nộp số tiền 1.985.000
đồng. Số tiền trên anh D1 đã nộp tạm ứng xong nên được khấu trừ.
4. Án phí dân sự: Anh D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá
ngạch 300.000 đồng và phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng. Số tiền
anh D1 đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 630.000 đồng theo biên lai thu số
7433, ngày 18/10/2016 và tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng theo
biên lai thu số 10937, ngày 20/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam
Bình được khấu trừ. Sau khi khấu trừ hoàn trả cho anh D1 330.000 đồng (Ba
trăm ba chục ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí.
Anh Cao Hữu N1, chị Võ Thị Mỹ L2 không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Số tiền anh N1, chị L2 đã nộp tạm ứng án phí mỗi người 300.000 đồng
theo biên lai thu số 10933, số 10934 ngày 18/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Tam Bình sẽ được hoàn trả cho anh N1, chị L2.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- CA: 01; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TACC: 01;
- VKSND TVL: 02;
- TAND H.TB: 01; (đã ký)
- VKSND H.TB: 01;
- Chi Cục THADS H.TB: 01; Sơn Nữ Phà Ca
- Đương sự: 12;
- Lưu: 04.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 21/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 02/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm