Bản án số 228/2026/HS-ST ngày 30/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 228/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 228/2026/HS-ST ngày 30/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 228/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 228/2026/HS-ST Bản án số 228/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 228/2026/HS-ST Bản án số 228/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – BẮC NINH
Bản án số: 228/2025/HS-ST
Ngày: 30/6/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Miện
Ông Nguyễn Xuân Trường
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Thư ký TAND Khu vực 2 – Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Đại diện VKSND Khu vực 2 –Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng
H – Kiểm sát viên.
Ngày 30/6/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 196/2026/TLST - HS ngày 05/6/2026 theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2026/QĐXXST–HS ngày 16/6/2026 đối với:
Bị cáo:
Nông Văn Đ, sinh ngày 29/5/2008 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do
Nơi Thường trú: thôn T, xã H, tỉnh Lạng Sơn
Căn cước công dân: ************
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.
* Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn Đ:
1. Bà: Nguyễn Thị M – Trợ giúp viên pháp lý - Trung Tâm trợ giúp pháp lý tỉnh
B (có mặt);
2. Ông Trần Văn T- Luật sư Văn phòng Luật sư Trần T và cộng sự - Đoàn Luật
sư tỉnh B (có mặt)
Con ông: Nông Văn C, sinh năm 1986 và con bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1988;
Vợ, con: Chưa có;
Gia đình có ba anh em bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2026 đến nay. Hiện đang bị tạm giam
tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh B
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn My Điền 1, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh
2
2. Anh Lã Trung Đ1, sinh năm 2008 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn T, xã V, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lương Văn L, sinh năm 1978. Nơi thường trú: thôn
T, xã V, tỉnh Lạng Sơn;
3. Anh Phùng Văn C2, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Nơi thường trú: thôn M, phường N, tỉnh Bắc Ninh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 00 phút ngày 17/3/2026, tại nhà trọ của ông Thân Văn H1, sinh năm
1968 ở Tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh (nhà trọ do anh Nguyễn Văn T1, sinh
năm 1993 ở tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh thuê lại quản lý); tổ công tác của
Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường N tiến hành kiểm tra hành chính, phát
hiện có 15 công dân đang cư trú. Công dân tự khai là nhân viên phục vụ tại các cơ sở
kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn phường N. Tiến hành kiểm tra việc sử dụng
ma túy đối với 15 công dân, kết quả có 03/15 trường hợp dương tính với chất ma túy,
gồm: Lục Thị Hoa T2, sinh ngày 01/02/2008 trú tại thôn B, xã T, tỉnh Bắc Ninh; Nông
Văn Đ, sinh ngày 29/5/2008 trú tại thôn T, xã H, tỉnh Lạng Sơn và Ly Kè X, sinh năm
2008 trú tại thôn C, xã H, tỉnh Lai Châu. Tổ công tác đã bàn giao các đối tượng Lục
Thị Hoa T2, Nông Văn Đ và Ly Kè X cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B
giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Lục Thị Hoa T2 và Nông Văn Đ xin đầu thú và khai nhận
hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà trọ của anh Nguyễn Văn T1
ngày 17/3/2026; Tươi tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 17
promax, màu bạc; Đại tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11
promax, màu xanh và 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám nghiệm
hiện trường; kết quả: tại phòng ngủ tầng 1 đặt một tủ quần áo bằng nhựa dạng vân gỗ,
kiểm tra bên trong ngăn tủ phát hiện 01 chiếc ba lô màu đỏ đen, bên trong ba lô có 01
chiếc đĩa sứ màu trắng, đường kính 15cm, mặt dưới của đĩa bám dính khói muội màu
đen, 01 tờ tiền ngoại tệ polime được cuộn tròn cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá -
được niêm phong đồ vật trên trong túi niêm phong ký hiệu “PS2”.
Tại Kết luận giám định số 1281/KL-KTHS ngày 20/3/2026 của Phòng K1 Công
an tỉnh B kết luận: Trên 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 15cm, mặt dưới đĩa bám
dính khói muội màu đen; 01 tờ tiền ngoại tệ polime được cuộn tròn, dài 14cm, được
cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá bên trong túi niêm phong ký hiệu PS2, mã số
24001104 và 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ bên trong phong bì gửi
3
giám định có bám dính chất ma túy; loại ma túy: Ketamine, không xác định được khối
lượng. Mẫu nước tiểu ghi thu của Nông Văn Đ và Lục Thị H2 Tươi có tìm thấy D là
chất chuyển hóa của Ketamine.
Quá trình điều tra, Nông Văn Đ khai nhận: Bản thân Đ làm việc cho anh Nguyễn
Văn T1 với nhiệm vụ đưa đón nhân viên đến các quán Karaoke và được anh T1 thuê
phòng trọ cho ở cùng với Lục Thị Hoa T2, Ly Kè X và Lâm Văn K, sinh năm 1996
trú tại tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Trước đây, Đ từng đến quán ăn ở khu
vực cống chui M thuộc tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh và có quen một thanh
niên tên là Đ1, quê ở tỉnh Lạng Sơn. Quá trình nói chuyện, Đ biết Đ1 bán ma túy nên
đã xin tài khoản facebook của Đ1 để kết bạn. Khoảng 05 giờ ngày 17/3/2026, do có
nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ đã sử dụng tài khoản messenger “Đức Đại” của mình
gọi đến tài khoản messenger “Hoàng Trung Đ2” của Đ2 để hỏi mua ma túy. Sau đó,
Đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, không rõ biển kiểm soát của
anh T1 (anh T1 để ở nhà trọ để Đ và mọi người sử dụng làm phương tiện đi lại) đến
quán ăn gặp Đ2. Khi đến nơi, Đ2 điều khiển xe mô tô đi khỏi quán. Thấy vậy, Đ cũng
điều khiển xe mô tô theo sau. Khi đi đến khu vực gần cổng làng M thì Đ2 bảo Đ đứng
chờ. Khoảng 10 phút sau, Đ2 đi bộ ra vị trí Đ đang đứng, đưa cho Đ 01 túi nilon một
đầu có rãnh khóa, bên trong túi có chứa ma túy Ketamine và bảo Đ hết số tiền 600.000
đồng. Đ cầm túi nilon chứa ma túy cất vào trong túi áo khoác đang mặc rồi đăng nhập
vào ứng dụng SacombankPay, chuyển số tiền 600.000 đồng đến số tài khoản
0865467706 của Lã Trung Đ1 mở tại ngân hàng M1. Sau đó, Đ điều khiển xe đi về
phòng trọ.
Khi về đến phòng trọ, lúc này trong phòng có Lâm Văn K đang ngủ, còn T2
đang nằm sử dụng điện thoại. Đại mở ngăn dưới tủ quần áo lấy một chiếc đĩa bằng sứ
Đại cất từ trước để lên đệm đặt ở giữa phòng ngủ rồi tiếp tục lấy tờ tiền ngoại tệ để
trong ốp điện thoại ra cuộn tròn tờ tiền lại cùng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long để
cố định thành ống hút. Sau đó, Đ đến khu vực bàn trang điểm trong phòng ngủ lấy 01
bật lửa và căn cước công dân của Đ ra, dùng bật lửa hơ nóng đĩa sứ, rồi đổ toàn bộ số
ma túy vừa mua được ra đĩa. Do trong phòng tối, không bật điện nên Đ dùng đèn pin
điện thoại vừa soi, vừa dùng căn cước công dân dằm nhỏ ma túy. Lúc này, thấy T2
vẫn đang nằm sử dụng điện thoại nên Đ tiến đến gần và rủ T2 sử dụng ma túy thì được
T2 đồng ý. Do số ma túy trên đĩa chưa được dằm nhỏ nên T2 cầm đèn pin điện thoại
soi cho Đại để Đ dùng căn cước công dân tiếp tục dằm nhỏ ma túy. Sau đó, Đ đưa đĩa
sứ chứa ma túy cho T2 cầm bằng tay trái, tay phải Tươi soi đèn pin điện thoại; Đ cầm
ống hút bằng tờ tiền ở tay phải, tay trái bịt mũi bên trái lại, một đầu ống hút đưa sát
mũi bên phải, đầu ống hút còn lại đưa sát ma túy trên đĩa mà T2 đang cầm để hít đưa
trái phép chất ma túy vào trong cơ thể. Sau khi sử dụng xong ma túy, Đ cầm đĩa sứ
4
chứa ma túy để T2 sử dụng bằng cách hít ma túy vào cơ thể. Đ và T2 thay nhau sử
dụng, Đ sử dụng 03 lần, T2 sử dụng 02 lần thì hết số ma túy trên đĩa. Sử dụng xong,
T2 đi ngủ, Đ cất đĩa sứ, ống hút vào trong ba lô của Đại để ở ngăn tủ quần áo trong
phòng; còn vỏ túi nilon chứa ma túy trước đó và đầu mẩu thuốc lá còn sót lại vào
trong bồn cầu rồi xả nước. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày thì lực lượng Công an vào
tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện Đại và T2 dương tính với chất ma túy.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thực nghiệm điều tra cho Đ và T2 diễn lại
hành vi sử dụng ma túy, kết quả: Đ và T2 thực hiện lại thành thục hành vi chuẩn bị
ma túy, công cụ rồi sử dụng ma túy và đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể hoàn toàn
phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra.
Do Nông Văn Đ phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết
định tách vụ án hình sự theo quy định tại Điều 143 Luật tư pháp người chưa thành
niên với Nông Thị Hoa T3 đang được điều tra trong một vụ án khác.
Tại bản Cáo trạng số: 74/CT – VKS - KV2 ngày 03/6/2026 của Viện Kiểm sát
nhân dân Khu vực 2 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nông Văn Đại ra trước Toà án nhân
dân Khu vực 2 - Bắc Ninh để xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo
trạng đã truy tố là đúng, không oan, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai và
vi phạm pháp luật.
Tại phiên tòa có bà Nguyễn Thị M – Trợ giúp viên pháp lý - Trung Tâm trợ giúp
pháp lý tỉnh Bắc Ninh và ông Trần Văn T- Luật sư Văn phòng Luật sư Trần T và cộng
sự - Đoàn Luật sư tỉnh B có quan điểm luận cứ:
Do bị cáo có ít tuổi, bản thân sinh sống ở vùng lạc hậu, khó khăn, tuổi trẻ bồng
bột đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ và áp dụng sự khoan hồng của pháp
luật để dụng các tình tiết giảm nhẹ để bị cáo bị xử mức án phạt thấp nhất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét
xử công bố lời khai của họ. Bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh vẫn giữ nguyên quan
điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
Hình sự; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt: Nông Văn
Đại từ Nông Văn Đại từ 01(một) năm 11 (mười một) tháng đến 02 (hai năm) 18 (mười
tám) ngày về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày
18/3/2026.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ
luật Tố tụng hình sự:
5
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ màu trắng; 03 đầu lọc thuốc lá.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 tờ tiền ngoại tệ.
- Trả lại anh Phùng Văn C2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax
màu xanh.
- Trả lại bị cáo Đ 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ.
-Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 12 Nghị quyết
326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ
phí Toà án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn Đ.
Bị cáo không có ý kiến đối đáp với bản luận tội của Kiểm sát viên;
Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều
hợp pháp.
[2] Tại phiên toà vắng mặt Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng họ đã
có lời khai và các văn bản liên quan của những người này tại Cơ quan điều tra. Vì thế,
việc vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng
xét xử, xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự là có căn
cứ.
[3] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã
gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở
kết luận: Trong khoảng thời gian từ 06 giờ đến 07 giờ ngày 17/3/2026, tại nhà trọ
thuộc tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh; Nông Văn Đ đã thực hiện hành vi cung
cấp ma túy, trực tiếp chuẩn bị công cụ, hơ nóng, dầm ma túy để bản thân và Lục Thị
H2 Tươi sử dụng đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể. Hành vi nêu trên của bị cáo đã
cấu thành tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều
255 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 74/CT-VKS -KV2 ngày 03/6/2026 của
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật
như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là
người chưa thành niên việc nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Tuy nhiên, việc bị
6
cáo sử dụng ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách
độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự,
trị an xã hội, gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức
khỏe, giảm khả năng lao động, và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội
phạm khác. Do vậy, HĐXX xét thấy cần phải xử lý nghiêm minh, tương xứng với tính
chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đề nghị của KSV cần cách ly bị cáo ra
khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo là cần thiết. Do bị cáo chưa đủ 18
tuổi, do đó, căn cứ luật tư pháp người chưa thành niên, buộc bị cáo chấp hành hình
phạt tù nhưng không quá ba phần năm mức phạt tù đối với người đã thành niên là có
căn cứ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy, là người chưa thành niên không có
nghề nghiệp ổn định, không có tài sản tích lũy nên không áp dụng hình phạt bổ sung
đối với bị cáo là có căn cứ.
[5]. Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị
cáo có nhân tốt.
[6]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nông Văn Đ không phải chịu
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình
sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp
luật của mình nên đã đến Cơ quan Công an để đầu thú. Vì thế, cần áp dụng cho bị cáo
được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với đĩa sứ màu trắng, 03 vỏ đầu lọc thuốc lá là
công cụ phương tiện dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu tiêu
hủy.
- 01 tờ tiền ngoại tệ, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xanh là tài sản của anh
Phùng Văn C2, sinh năm 1996 trú tại tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh, cần trả
lại anh C2.
- Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ
[8]. Vấn đề khác:
- Đối với người thanh niên tên Đ1 mà Đ đã mua ma túy, có tài khoản messenger là
Hoàng Trung Đ2: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xác định người đó là Lã
Trung Đ1, sinh năm 2008 trú tại thôn T, xã V, tỉnh Lạng Sơn. Đ1 thừa nhận có quen
biết và chơi với Đ, nhưng Đ1 không thừa nhận việc bán ma túy cho Đ, số tiền 600.000
đồng Đại chuyển cho Đ1 ngày 17/3/2026 là tiền Đ trả nợ Đ1. Cơ quan điều tra tiến
hành đối chất giữa Đ và Đ1; kết quả: các bên giữ nguyên lời khai của mình. Ngoài lời
khai của Đ không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh Đ1 là người bán ma túy cho
Đ. Do đó, không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với Đ1 là có căn cứ;
7
- Đối với Ly Kè X: Kết quả kiểm tra việc sử dụng ma túy thì X dương tính với
các chất ma túy. X khai nhận trước thời điểm bị kiểm tra, X tự sử dụng ma túy một
mình, không liên quan đến Đ và T3. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh thì Xứ không
thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự nên không có căn cứ để
xem xét, xử lý về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 10/4/2026, Công an
phường N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ly Kè X về hành vi
Sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức Phạt tiền.
[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc Nùng, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn
nên thuộc trường hợp được miễn án phí HSST được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội về án phí, lệ phí Toà án
Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên
quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
Hình sự; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt: Nông Văn
Đại từ Nông Văn Đại từ 01(một) năm 11 (mười một) tháng đến 02 (hai năm) 18 (mười
tám) ngày về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày
tạm giữ, tạm giam 18/3/2026;
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ
luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ màu trắng; 03 đầu lọc thuốc lá.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 tờ tiền ngoại tệ.
- Trả lại anh Phùng Văn C2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax
màu xanh.
- Trả lại bị cáo Đ 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ.
-Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 12 Nghị quyết
326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ
phí Toà án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn Đ.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015
Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
8
bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Ninh
- VKSND tỉnh Bắc Ninh
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bắc Ninh
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Ninh
- VKSND Khu vực 2 - Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng;
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Hoàng Thị Hương Lan
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 228/2026/HS-ST Bản án số 228/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 228/2026/HS-ST Bản án số 228/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất