Bản án số 213/2026/HS-ST ngày 25/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 213/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 213/2026/HS-ST ngày 25/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 213/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 213/2026/HS-ST Bản án số 213/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/HS-ST Bản án số 213/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – BẮC NINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 213/2026/HS-ST
Ngày 22 - 6 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lại và bà Đặng Thị Bích.Nguyễn
Quang Kim
Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
2 – Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Văn Định - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở TAND khu vực 2 – Bắc Ninh tiến hành
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 192/2026/TLST-HS ngày 02
tháng 6 năm 2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2026/QĐXXST-HS
ngày 12 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh đối với Bị
cáo:
Họ và tên: Lô Văn P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 24/9/2002.
CCCD số: ************ do Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về
trật tự xã hội cấp ngày 10/02/2023.
Nơi cư trú: bản X, xã Y, tỉnh Nghệ An;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12;
Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không;
H và tên cha: Lô Văn D, sinh năm 1977;
Họ và tên mẹ: Lô Thị M, sinh năm 1974;
2
Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, Bị cáo là con thứ hai;
Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/02/2026, hiện đang bị tạm giam tại Phân
trại tạm giam V, Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh B. (có mặt)
- Bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1993. Địa chỉ: TDP Y, phường Y, tỉnh Bắc
Ninh. (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1993. Địa chỉ:
TDP Y, phường Y, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1955. Địa chỉ: TDP Y, phường Y, tỉnh Bắc
Ninh. (có mặt)
2. Anh Lô Văn P2, sinh năm 2000. Địa chỉ: Bản X, xã Y, tỉnh Nghệ An. (có
mặt)
3. Ông Giáp Văn H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
(vắng mặt)
4. Anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1999. Địa chỉ: F T, phường N, tỉnh Khánh
Hòa. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Lô Văn P, sinh năm 2002, trú tại bản X, xã Y, tỉnh Nghệ An có Giấy phép lái
xe mô tô hạng A1 số 270247003829 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày
19/01/2024 và đang ở trọ tại tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh cùng với anh
Nguyễn Đức H2, sinh năm 1999, trú tại số F T, phường N, tỉnh Khánh Hòa. Khoảng
21 giờ ngày 09/7/2025, sau khi đi hát karaoke (tại quán karaoke “ViVa” thuộc tổ
dân phố V, phường N, tỉnh Bắc Ninh) về đến phòng trọ, anh H2 phát hiện để quên
túi xách tại quán karaoke “ViVa” nên nhờ P điều khiển xe mô tô chở anh H2 quay
lại quán karaoke lấy túi xách. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, P điều khiển xe mô
tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 37D1-219.09 chở anh H2 đi theo
hướng từ Khu công nghiệp Q đi phường Y, đến khu vực đường mới thuộc tổ dân
phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh (là đoạn đường cong); do không chú ý quan sát,
không điều khiển xe giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi đi đến đoạn
đường cong, P điều khiển xe mô tô lấn sang phần đường dành cho các phương tiện
đi ngược chiều nên điều khiển đi lấn sang làn đường dành cho các phương tiện đi
3
ngược chiều nên phần đầu xe bên trái xe mô tô biển kiểm soát 37D1-219.09 do P
điều khiển va chạm với phần đầu xe bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-5111 do
anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Bắc Ninh
điều khiển đi ngược chiều làm 02 xe mô tô bị đổ, P, anh H2 và anh D1 bị ngã ra
đường. Hậu quả: anh D1 tử vong tại chỗ, P và H2 bị thương, hai phương tiện bị hư
hỏng.
Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra-
Công an tỉnh B đã thành lập Đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện
trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn;
thu mẫu máu của P, anh H2, anh D1; trưng cầu giám định để xác định cơ chế hình
thành các dấu vết trên hiện trường và trên các phương tiện, giám định xác định
nguyên nhân chết của anh D1, tỷ tệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối
với P và anh H2, giám định xác định nồng độ cồn và ma túy trong mẫu máu đã thu
giữ của P, anh H2, anh D1. Kết quả như sau:
- Kết quả khám nghiệm hiện trường (Phải, trái của hiện trường tính theo hướng
từ phường Y đi Khu công nghiệp Q thuộc phường N, tỉnh Bắc Ninh): Hiện trường
nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại đường mới (chưa đặt tên đường) thuộc tổ dân
phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Mặt đường được trải nhựa áp phan phẳng, rộng
11m, cong theo chiều từ Khu công nghiệp Q đi phường Y, tỉnh Bắc Ninh; ở giữa có
vạch kẻ đường nét đứt màu vàng rộng 0,15m phân biệt hai chiều đường xe chạy;
giữa mỗi chiều đường có vạch kẻ sơn màu trắng rộng 0,2m chia thành hai làn xe
chạy; từ phải sang trái, mỗi làn xe rộng lần lượt là 1,9m, 3,3m, 3,55m và 1,9m. Lấy
mép đường bên phải làm chuẩn; lấy cột đèn chiếu sáng ký hiệu số “CS2– 23– 20” ở
lề đất bên phải làm mốc hiện trường. Tại hiện trường để lại các dấu vết như sau:
Xe mô tô biển kiểm soát 98Y1 – 5111 (ký hiệu số 1) đổ nghiêng phải trên phần
đường bên phải, đầu xe hướng lề đường bên phải, đuôi xe hướng ra giữa đường. T1
trục bánh trước cách mép đường bên phải 2,1m và cách mốc hiện trường 2,86m. T1
trục bánh sau cách mép đường bên phải là 3,3m và cách mốc hiện trường là 3,95m.
Cách tâm trục bánh trước xe mô tô (1) về phía phường Y 3,1m là đỉnh đầu tử
thi (ký hiệu số (2), tử thi được xác định là anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1993, trú
tại tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Bắc Ninh chết trong tư thế nằm ngửa, đầu tử thi
quay vào mép đường bên phải và chếch về phía Khu công nghiệp V, hai chân hướng
ra giữa đường và chếch về phía phường Y. Đỉnh đầu tử thi cách mép đường bên
phải 1,5m và cách mốc hiện trường 3,3m; Gót chân phải cách mép đường bên phải
là 2,3m.
Xe mô tô biển kiểm soát 37D1 – 219.09 (ký hiệu số (3) là nằm đổ nghiêng trên
thân xe mô tô (1), đầu xe hướng lề đường bên phải, đuôi xe hướng ra giữa đường.
T1 trục bánh trước cách mép đường bên phải 2,5m và cách mốc hiện trường 3,06m.
T1 trục bánh sau cách mép đường bên phải là 3,8m và cách mốc hiện trường 04m.
4
Cách tâm trục bánh sau xe mô tô (1) về phía Khu công nghiệp V và hướng ra
giữa đường 2,1m là dấu vết cày xước mặt đường (ký hiệu số 4), vết cày có kích
thước (1,7x 0,02)m. Điểm đầu cách mép đường bên phải 4,2m; điểm cuối cách mép
đường bên phải 3,7m.
Cách tâm trục bánh sau xe mô tô (1) về phía Khu công nghiệp V 0,2m là dấu
vết cày xước mặt đường (ký hiệu số 5), vết cày có kích thước (2,2x 0,017)m. Điểm
đầu cách mép đường bên phải 3,65m; điểm cuối cách mép đường chuẩn 3,05m.
Dấu vết cày xước mặt đường (ký hiệu số 6) nằm trên phần đường bên phải,
kích thước (2,55x 0,015)m. Điểm đầu cách mép đường bên phải 4,1m; cách điểm
đầu dấu vết (5) là 0,5m. Điểm cuối vết kết thúc ở giá thồ hàng bên phải xe mô tô (1)
và cách mép đường bên phải 03m.
Dấu vết mảnh nhựa vỡ (ký hiệu số 7) có kích thước (22 x 11)m; tâm vết cách
mép đường bên phải 4,5m và cách mốc hiện trường 5,5m.
Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát
98Y1- 5111 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 37D1- 219.09.
- Kết quả xe ô tô biển kiểm soát 98Y1-5111 (do anh Nguyễn Văn D1 điều
khiển): Xe không có gương chiếu hậu hai bên; Yên xe được gắn giá kim loại, đuôi
xe được gắn thùng kim loại để đồ có kích thước (40x 50x 63)cm; Toàn bộ cụm đèn
pha, đồng hồ bị bật rời khỏi vị trí cố định; Đầu tay nắm bên phải có vết mài sát cao
su và kim loại, kích thước (02x 03)cm; Tay phanh bên phải bị đẩy cong theo hướng
từ trên xuống dưới, từ trước về sau; đầu tay phanh có vết mài sát kim loại kích
thước (1,5x 2,5)cm; Cánh yếm bên phải bật rời khỏi vị trí cố định; Mặt nạ phía trước
bị vỡ, khuyết nhựa bên trái và xi nhan bên trái phía trước bị bật rời khỏi vị trí cố
định trên diện có kích thước (35x 20)cm; tại phần vỡ khuyết nhựa mặt nạ bên trái
bám dính chất màu đỏ nghi sơn; Chắn bùn phía trước bị vỡ khuyết phần nhựa bên
trái trên diện (30x 20)cm; Vành xe bánh trước bị đẩy cong biến dạng gẫy nan hoa;
Vành xe bánh trước tại vị trí đối diện chân van bị đẩy cong theo hướng từ ngoài vào
trong, tại vị trí này bám dính chất màu đỏ (nghi sơn); Càng xe bánh trước hai bên bị
đẩy cong theo chiều từ trước về sau, từ trái sang phải; Mặt trước càng xe bánh trước
bên trái bám dính chất màu đỏ (nghi sơn); Đầu càng xe phía trước bên trái và may ơ
ở vị trí liền kề có dấu vết vỡ kim loại trên diện có kích thước (08x 05)cm; Cánh yếm
bên trái bị bật rời khỏi vị trí cố định; Hộp máy bên trái bị vỡ khuyết kim loại trên
diện kích thước (23x 27)cm; mặt ngoài vỏ hộp máy bên trái có vết mài trượt kim
loại trên diện (05x 02)cm; Cần số bị đẩy cong theo chiều từ trước về sau, từ trên
xuống dưới; đầu cần số có vết mài sát kim loại đã han rỉ, kích thước (03x 04)cm; Để
chân phía trước bên trái bị mất cao su bảo vệ, lộ thanh kim loại bị đẩy cong theo
hướng từ trước về sau; Đầu chân phanh có vết mài sát kim loại bám dính chất bột
màu trắng, kích thước (01x 0,5)cm; Đầu để chân phía trước bên phải có vết mài sát
kim loại, bám dính chất bột màu trắng, kích thước (01x 01)cm; Mặt ngoài thanh kim
5
loại giá đỡ bên phải có vết mài sát kim loại, bám dính chất bột màu trắng, kích
thước (5x1)cm; Mặt ngoài bên phải thanh kim loại thùng xe phía sau có dấu vết mài
sát kim loại, bám dính chất bột màu trắng, kích thước lần lượt là (04x 01)cm và (02x
02)cm.
- Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 37D1-219.09 (do Lô Văn P
điều khiển): Xe không có gương chiếu hậu bên phải; Gương chiếu hậu bên trái bị
hỏng phần chân gương, cần gương bị hỏng và xoay tự do; Đầu tay nắm bên phải có
vết mài sát sơn, nhựa và kim loại, kích thước (02x 01)cm; Tay phanh bị đẩy cong
theo chiều từ trước về sau, áp sát vào tay nắm bên phải; Đầu tay nắm bên trái có dấu
vết mài sát kim loại, bám dính chất bột màu trắng, kích thước (1,5x 01)cm; Mặt nạ
phía trước đầu xe bị vỡ khuyết nhựa; Đèn xi nhan bên phải bị vỡ khuyết, bám dính
chất màu đỏ (nghi sơn); Cánh yếm bên phải bị vỡ khuyết; Toàn bộ phần bánh xe,
chắn bùn phía trước bị bật rời khỏi vị trí cố định; Càng xe hai bên bị đẩy cong theo
chiều từ trước về sau; Càng xe bên trái bị gẫy rời để lộ lò xo bên trong, tại vị trí này
bám dính chất màu xanh (nghi sơn) trên diện kích thước (1,5x 0,5)cm; Mặt ngoài
phía trước càng xe bên trái và ốc vít ở vị trí liền kề có dấu vết mài sát kim loại, bám
dính chất màu xanh (nghi sơn) trên diện kích thước (6x4)cm; Đèn xi nhan bên trái
phía trước có dấu vết mài trượt xước nhựa, bám dính chất màu xanh (nghi sơn) trên
diện kích thước (10x 05)cm; Ốc vít phía trước càng xe bên trái phía trước bám dính
chất màu đỏ (nghi sơn); tại vị trí nối với trục liền kề có dấu vết mài sát kim loại kích
thước (02x 0,5)cm; Vành xe bánh trước bị bật rời khỏi trục tại vị trí cách chân van
35cm theo hướng chiều kim đồng hồ, vành xe bánh trước bị đẩy cong theo hướng từ
ngoài vào trong và vỡ khuyết kim loại trên diện kích thước (35x 05)cm; Mặt nạ phía
trước tại vị trí có chữ RS150R có vết mài sát nhựa bám dính chất màu xanh- đen
trên diện kích thước (16x 08)cm; Cánh yếm bên trái bị vỡ khuyết, bật rời khỏi vị trí
cố định; Đầu cần số có vết mài sát nhựa và kim loại, bám dính chất bột màu trắng,
kích thước (01x 01)cm; Mặt ngoài phía trước hộp máy bên trái có dấu vết mài sát
trượt kim loại, bám dính chất màu đỏ (nghi sơn) trên diện kích thước (10x 10)cm;
Ốp nhựa phía trước mặt đồng hồ bị dập vỡ dài 20cm; Đầu chân phanh có vết mài sát
kim loại, kích thước (1,5x 0,5) cm; Mặt ngoài phía dưới để chân chính bên phải có
vết mài sát kim loại, kích thước (05x 03) cm; Ốp nhựa bảo vệ gắn ống xả bị vỡ
khuyết; Mặt ngoài tay xách phía sau bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước
(0,5x 4,5)cm; Mặt ngoài bên trái chắn bùn trước có vết mài trượt xước nhựa, bám
dính chất màu xanh đen, kích thước (15x 07)cm. Thu giữ 02 bọc tay nắm bằng cao
su màu đen trên xe mô tô biển kiểm soát 37D1-219.09.
Tại Bản kết luận giám định số 2271/KL-KTHS ngày 07/9/2025 của Phòng K-
Công an tỉnh B kết luận:
“1. Dấu vết vỡ khuyết, mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu trắng- đỏ tại bên
trái ốp nhựa đầu xe, mặt nạ, cánh yếm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-
5111, có hướng từ trước ra sau (ảnh số 13, 14, 15 bản ảnh khám phương tiện) phù
6
hợp với dấu vết vỡ, mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu xanh tại ốp nhựa đầu xe,
mặt nạ, cụm đèn, cánh yếm trái của xe mô tô biển kiểm soát 37D1-219.09, có chiều
hướng từ trước ra sau (từ ảnh số 15 đến ảnh số 18 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết chùn cong, vỡ khuyết, mài sát kim loại, bám dính chất màu đen tại
bên trái vỏ máy, cần số tiến của xe mô tô biển kiểm soát 98Y1- 5111, có hướng từ
trước ra sau (từ ảnh số 23 đến 26 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết
chùn cong, gãy vỡ, mài sát cao su, kim loại tại lốp và vành bánh trước của xe mô tô
biển kiểm soát 37D1- 219.09, có hướng từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 21, 22 bản
ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết chùn cong, gãy vỡ, mài sát sơn, kim loại, bám dính chất màu đỏ tại
lốp và vành bánh trước, may ơ bánh trước, giảm xóc trước bên trái của xe mô tô
biển kiểm soát 98Y1- 5111, có hướng từ ngoài vào tâm bánh, từ trước ra sau (từ ảnh
số 18 đến 21 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy vỡ, chùn cong,
mài sát sơn, kim loại, bám dính chất màu xanh tại giảm xóc trước bên trái, bên trái
vỏ máy của xe mô tô biển kiểm soát 37D1- 219.09, có hướng từ trước ra sau (ảnh số
17, 19, 27 bản ảnh khám phương tiện).
2. Dấu vết mài sát cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng tại bên phải xe
mô tô biển kiểm soát 98Y1- 5111 gồm: đầu tay nắm, đầu tay phanh, để chân trước,
chân phanh, giá thồ hàng được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt
không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau
khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98Y1- 5111 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt
đường, đồng thời tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 6 trên hiện trường.
- Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát
37D1-219.09 gồm: chân phanh, để chân trước, ống xả, tay xách phía sau được hình
thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên.
Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát
37D1- 219.09 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường, đồng thời tạo nên dấu vết
cày xước ký hiệu số 5 trên hiện trường.
- Không đủ căn cứ xác định dấu vết cày xước ký hiệu số 4 do xe mô tô biển
kiểm soát 98Y1- 5111 hay xe mô tô biển kiểm soát 37D1- 219.09 để lại.
3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98Y1- 5111 với xe mô tô biển
kiểm soát 37D1- 219.09 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu
số 5, số F, thuộc chiều chuyển động bên phải theo hướng phường Y đi khu công
nghiệp Q.
4. Chiều hướng va chạm: Tại thời điểm xảy ra tai nạn hai phương tiện trong tư
thế đứng, chuyển động ngược chiều nhau.
5. Ngoài dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 37D1- 219.09 với xe
mô tô biển kiểm soát 98Y1- 5111, không xác định được hai phương tiện trên có va
7
chạm với phương tiện khác nữa hay không, do sau khi xảy ra tai nạn các chi tiết
nhựa, kim loại trên hai phương tiện vỡ khuyết, biến dạng.
6. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn
qua các dấu vết cơ học.”.
- Kết quả khám nghiệm tử thi anh Nguyễn Văn D1:
+ Vùng đầu, mặt: Mũi, tai trái, tai phải chảy máu màu đỏ. Vùng thái dương
đỉnh phải có vết chợt da, kích thước (04x 2,0)cm, xung quanh sưng nề, kích thước
(06x 05)cm. Vùng đỉnh trái sưng nề, kích thước (06x 05)cm. Gò má trái có vết chợt
da, kích thước (2,5x 02)cm. Mi trên mắt trái bầm tím, kích thước (02x 01)cm. Vành
tai trái có vết thương rách da, kích thước (1,5x 0,3)cm. Gãy xương hàm dưới bên
trái.
+ Vùng ngực, bụng, lưng, mông: Vùng trước cổ và ngực có đám chợt da, kích
thước (25x 20)cm. Vai phải có vết bầm tím, kích thước (10x 04)cm. Mu bàn tay
phải có vết chợt da màu tím, kích thước (1,5x 01)cm. Mặt trước 1/3 trên cánh tay
trái có vết bầm tím, kích thước (05x 2,5)cm. Mặt trước 1/3 dưới cánh tay trái có vết
bầm tím, kích thước (07x 03)cm. Mặt trước 1/3 giữa cẳng tay trái có vết chợt da,
kích thước (02x 0,5)cm. Mặt sau cẳng tay trái có đám chợt da bầm tím, kích thước
(20x 10)cm. Mu bàn tay trái có vết chợt da bầm tím, kích thước (09x 09)cm. Mặt
ngoài 1/3 giữa đùi trái có vết thương rách da, kích thước (0,5x 0,5)cm, xung quanh
bầm tím có kích thước (06x 04)cm. Gãy 1/3 giữa xương đùi trái. Gối trái có đám
chợt da, kích thước (06x 05)cm. Mặt trong 1/3 dưới cẳng chân trái có vết chợt da,
kích thước (06x 04)cm.
+ Mổ tử thi: Bộc lộ da đầu thấy tụ máu dưới da vùng thái dương đỉnh phải,
kích thước (08x 07)cm. Tụ máu dưới da vùng đỉnh chẩm trái, kích thước (11x
07)cm. Vỡ xương sọ vùng chẩm phải dạng chân chim, kích thước (07+ 05+ 03) x
0,3)cm. Tụ máu cơ thái dương kích thước (04x 03)cm. Vỡ xương sọ vùng thái
dương chẩm trái, kích thước (16x 01)cm, qua khe xương vỡ có máu đỏ chảy ra
ngoài. Quá trình khám nghiệm có thu mẫu máu của tử thi để tiến hành giám định.
Tại Kết luận giám định tử thi số 4819/KLGĐTT-KTHS ngày 30/7/2025 của
Trung tâm P3- Sở Y tế tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của anh Nguyễn Văn D1
là do chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, chảy máu nội sọ do tai nạn giao thông; Các
thương tích do va chạm với vật tày gây nên.
Anh Nguyễn Đức H2 bị thương được đưa đến Bệnh viện Đ- Sở Y tế tỉnh B cấp
cứu và điều trị. Tại Bệnh án ngoại khoa mã 2500053924 của Bệnh viện Đ, xác định:
Nguyễn Đức H2 vào viện ngày 10/7/2025, ra viện ngày 17/7/2025. Chuẩn đoán:
Chảy máu dưới màng cứng; Vết thương của môi và khoang miệng (vết thương vùng
lưỡi); Đụng dập lồng ngực; Vỡ xương sọ và xương mặt (Đường vỡ xương trán lan
xuống xương đỉnh phải; Đường vỡ sập xương đỉnh phải).
8
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 383/26/KLTTCT-
TTPY ngày 27/5/2026 của Trung tâm P3- Sở Y tế tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ tổn thương
cơ thể của Nguyễn Đức H2 tại thời điểm giám định là 46%.
Lô Văn P bị thương “Vết thương hở của mi mắt và vùng quanh mắt (Vết
thương hở vùng cung mày và mắt trái)” phải đi điều trị vết thương tại Bệnh viện Đ-
Sở Y tế tỉnh B từ ngày 10/7/2025 đến ngày 12/7/2025.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 295/26/KLTTCT-
TTPY ngày 12/5/2026 của Trung tâm P3- Sở Y tế tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ tổn thương
cơ thể của Lô Văn P tại thời điểm giám định là 7%; Các thương tích do vật tày gây
nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động hình thành thương tích.
Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu V- Cục Q giám
định xác định ADN trên 02 tay nắm cao su hai bên trên chiếc xe mô tô biển kiểm
soát 37D1- 219.09 đã thu giữ. Tại Kết luận giám định ADN số HT567.25/PY-
XNSH ngày 11/9/2025 của V- Cục Q, kết luận:
“1. Không phân tích được ADN nhiễm sắc thể thường của người từ dấu vết
trên 02 (hai) tay nắm cao su hai bên trên chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37D1-
219.09 gửi giám định.
2. Phân tích được ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của anh Lô Văn P (ký
hiệu: HT567.25_2) và anh Nguyễn Đức H2 (ký hiệu: HT567.25_3) gửi giám định;
ADN và kiểu gen được lưu tại Khoa Xét nghiệm Sinh học, V”.
Tại Kết luận giám định hóa pháp số 1675/PY-XNĐH ngày 31/7/2025 của V-
Cục Q, kết luận: Không tìm thấy E trong mẫu máu của Nguyễn Văn D1, Lô Văn P,
Nguyễn Đức H2. Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của Nguyễn Văn
D1 và Lô Văn P. Tìm thấy A, M1 trong mẫu máu của Nguyễn Đức H2.
Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 13/01/2026 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Bắc
Ninh, kết luận: Phần tài sản bị hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 37D1- 219.09 là
10.987.000 đồng; phần tài sản bị hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 98Y1- 5111
là 7.223.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, loại RSX,
biển kiểm soát 98Y1-5111 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Văn
D1; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, biển kiểm soát 37D1-219.09 là
tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Lô Văn P. Ngày 03/5/2026, Cơ quan điều tra đã
ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98Y1- 5111 cho
chị Bùi Thị T, sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Bắc Ninh (là vợ
anh D1). Xe mô tô biển kiểm soát 37D1- 219.09 cùng Giấy đăng ký của xe và Giấy
phép lái xe mang tên Lô Văn P, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý
theo quy định.
9
Tại Bản cáo trạng số 70/CT-VKS-KV2 ngày 02 tháng 6 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh đã truy tố Bị cáo Lô Văn P về tội “Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều
260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố Bị cáo
và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản
1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lô Văn P từ 01 năm 09
tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 05/02/2026.
* Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên toà người đại diện của bị hại
chị Bùi Thị T có yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 2 con của chị và anh D1
là cháu Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 10/7/2015 và cháu Nguyễn Văn H3 sinh ngày
09/12/2017, mỗi con 1.500.000đ/tháng cho đến khi 2 cháu đủ 18 tuổi. Bị cáo nhất trí
với yêu cầu của chị T. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung
năm 2025; Điều 584; Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, cần chấp
nhận sự thoả thuận này.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình
sự: Trả lại cho bị cáo Lô Văn P 01 xe mô tô biển kiểm soát 37D1- 219.09 cùng Giấy
đăng ký của xe và Giấy phép lái xe mang tên Lô Văn P nhưng tạm giữ để đảm bảo
thi hành án.
* Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án
phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lô Văn P.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Bị cáo Lô Văn P nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
hình phạt cho Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 2 – Bắc Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,
truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố
tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng có đầy
đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo
khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
10
[3]. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi bị truy tố của Bị cáo: Lời khai
nhận tội của Bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ
sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Lô Văn P có
Giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/7/2025, P
điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, biển kiểm soát 37D1-219.09
chở anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1999, trú tại số F T, phường N, tỉnh Khánh Hòa
ngồi sau đi trên đường mới theo hướng từ Khu công nghiệp Q đi phường Y, đến khu
vực thuộc tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh là đoạn đường cong. Do không
chú ý quan sát; không điều khiển xe giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn
khi đi đến đoạn đường cong, điều khiển xe mô tô lấn sang làn đường dành cho các
phương tiện đi ngược chiều (vi phạm khoản 1 Điều 10, điểm d khoản 3 Điều 12
Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ) nên P đã để phần đầu xe bên trái xe mô tô
biển kiểm soát 37D1-219.09 do P điều khiển va chạm với phần đầu xe bên trái xe
mô tô biển kiểm soát 98Y1-5111 do anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1993, trú tại tổ
dân phố Y, phường Y, tỉnh Bắc Ninh điều khiển đi ngược chiều làm 02 xe mô tô bị
đổ, P, anh H2 và anh D1 bị ngã ra đường. Hậu quả: anh D1 tử vong tại chỗ, P bị
thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 7% và anh H2 bị
thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 46%, hai phương tiện
bị hư hỏng với tổng giá trị thiệt hại là 18.210.000 đồng.
[4] Khi thực hiện hành vi pham tội, Bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực chịu
trách nhiệm hình sự. Việc để xảy ra tai nạn là do lỗi hoàn toàn của Bị cáo, Bị cáo đã
cẩu thả khi tham gia giao thông, không tuân thủ các quy định về điều khiển phương
tiện giao thông đường bộ. Bị cáo là người có giấy phép lái xe mô tô theo quy định.
Đến đoạn đường cong, Bị cáo không điều khiển xe giảm tốc độ hoặc dừng lại để
đảm bảo an toàn khi đi đến đoạn đường cong, điều khiển xe mô tô lấn sang làn
đường dành cho các phương tiện đi ngược chiều. Như vậy Bị cáo đã vi phạm khoản
1 Điều 10, điểm d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm
2024.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến
trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm sức khỏe
của người khác.
Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội và đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều
260 của Bộ luật hình sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, Bị
cáo Lô Văn P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện tác động gia đình bồi
thường thiệt hại cho gia đình người bị hại là anh Nguyễn Văn D1, chị Bùi Thị T là
người đại diện hợp pháp của những người trong hàng thừa kế thứ nhất của anh D1
không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
11
Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên Bị cáo được hưởng các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không hành nghề liên quan đến điều khiển
phương tiện giao thông nên không áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự để
phạt bổ sung đối với Bị cáo.
[9]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, Lô Văn P đã tác
động gia đình là anh trai ruột bồi thường cho gia đình người bị hại là anh Nguyễn
Văn D1 số tiền 80.000.000 đồng đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Anh Lô Văn P2 (anh ruột P) không yêu cầu giải quyết về số tiền anh P2 đã bỏ ra bồi
thường cho gia đình anh D1 thay cho P. Anh Nguyễn Đức H2 không yêu cầu bồi
thường về thương tích do vụ tai nạn gây nên. Đại diện hợp pháp của bị hại không
yêu cầu bồi thường về phần hư hỏng của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-5111.
Tại phiên toà người đại diện của bị hại chị Bùi Thị T có yêu cầu bị cáo có
nghĩa vụ cấp dưỡng cho 2 con của chị và anh D1 là cháu Nguyễn Thanh T2, sinh
ngày 10/7/2015 và cháu Nguyễn Văn H3 sinh ngày 09/12/2017, mỗi con
1.500.000đ/tháng cho đến khi 2 cháu đủ 18 tuổi. Bị cáo nhất trí với yêu cầu của chị
T nên cần chấp nhận sự thoả thuận này.
[10]. Về vật chứng:
Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 37000161 của xe mô tô, biển kiểm soát
37D1-219.09, tên chủ xe Lô Văn P2 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe
WinnerX, biển kiếm soát 37D1-219.09 và Giấy phép lái xe hạng A1 số
270247003829 cấp ngày 19/01/2024 mang tên Lô Văn P là tài sản của bị cáo cần trả
lại cho Bị cáo Lô Văn P nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[12]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí tòa án miễn án phí sơ thẩm cho Bị cáo do Bị cáo sống ở vùng có
điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn.
[13]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2025. Xử phạt: Bị cáo Lô Văn P 02
(hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn
tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2026.
12
Tiếp tục tạm giam Bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 584; Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
Buộc bị cáo Lô Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng cho chị Bùi Thị T đối với 2 con
của chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn D1 là cháu Nguyễn Thanh T2, sinh ngày
10/7/2015 và cháu Nguyễn Văn H3 sinh ngày 09/12/2017, mỗi cháu 1.500.000
đồng/tháng cho đến khi cháu Nguyễn Thanh T2 và cháu Nguyễn Văn H3 đủ 18 tuổi.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình
sự:
Trả lại cho Bị cáo Lô Văn P Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 37000161
của xe mô tô, biển kiểm soát 37D1-219.09, tên chủ xe Lô Văn P2 và chiếc xe mô tô
nhãn hiệu Honda, loại xe WinnerX, biển kiếm soát 37D1-219.09 và Giấy phép lái xe
hạng A1 số 270247003829 cấp ngày 19/01/2024 mang tên Lô Văn P nhưng tạm giữ
để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn
án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, đại diện của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có
quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự;
thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND khu vực 2 – Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo;
- Đương sự;
13
- Lưu HS,VP.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
(Ký tên, ghi rõ họ tên)
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)
14
15
16
17
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 213/2026/HS-ST Bản án số 213/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/HS-ST Bản án số 213/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất